Dưới góc độ pháp lý, khiếu nại đượchiểu là: “việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục đề nghị cơquan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hà
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 1
3 Phạm vinghiên cứu của đề tài 1
4 Phương pháp nghiên cứu 1
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
6 Bố cục đề tài 2
Chương 1 Pháp luật Việt Nam về quyền khiếu nại, tố cáo 1.1 Khái quát về quyền con người 4
1.2 Khái niệm và đặc điểm của khiếu nại, tố cáo 5
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của khiếu nại 5
1.2.1.1 Khái niệmcủa khiếu nại 5
1.2.1.2 Đặc điểm khiếu nại 7
1.2.2 Khái niệm và đặc điểm của tố cáo 7
1.2.2.1 Khái niệm của tố cáo 7
1.2.2.2 Đặc điểm của tố cáo 7
1.2 Ý nghĩa quyền khiếu nại, tố cáo 8
1.3 Quyền khiếu tại, tố cáo theo pháp luật Việt Nam 9
1.3.1 Sơ lược lịch sử pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam 9
1.3.2 Đối tượng của quyền khiếu nại, tố cáo 10
1.3.2.1 Đối tượng quyền khiếu nại 10
1.3.2.2 Đối tượng quyền tố cáo 11
1.3.3 Chủ thế của quyền khiếu nại, tố cáo 11
1.4 Trình tự, kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo 12
1.4.1 Trình tự, kết quả giải quyết khiếu nại 12
1.4.1.1 Trình tự giải quyết khiếu nại lần đầu 13
1.4.1.2 Trình tự giải quyết khiếu nại lần hai 15
Trang 21.4.2 Kết quả giải quyết khiếu nại 18
1.5 Trình tự, kết quả giải quyết tố cáo 19
1.5.1 Trình tự giải quyết tố cáo 19
1.5.1.1 Tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo 19
1.5.1.2 Xác minh nội dung tố cáo 20
1.5.1.3 Kết luận nội dung tố cáo 20
1.5.1.4 Xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo 20
1.5.2 Kết quả giải quyết tố cáo 21
1.6 Giới hạn của quyền khiếu nại tố cáo 22
Chương 2 Thực tiễn giải quyết khiếu nại, tố cáo ở tỉnh Trà Vinh và hướng hoàn thiện 2.1 Thực tiễn khiếu nại, tố cáo ở tỉnh Trà Vinh 25
2.2 Một số vụ việc khiếu nại, tố cáo điển hình ở tỉnh Trà Vinh 27
2.2.1 Vụ việc khiếu nại 27
2.2.2 Vụ việc tố cáo 28
2.3 Bất cập liên quan đến giải quyết khiếu nại, tố cáo tỉnh Trà Vinh 31
2.3.1 Về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong một số lĩnh vực còn chưa tốt, ảnh hưởng đến quyền của người dân 31
2.3.2 Bất cập về mặt lập pháp 32
2.4 Hướng hoàn thiện giải quyết khiếu nại, tố cáo 35
2.4.1 Hoàn thiện về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại tỉnh Trà Vinh 35
2.4.2 Hoàn thiện về mặt Lập pháp 37
2.4.2 Một số giải pháp hoàn thiện khác 39
Kết luận 41 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân là một quyền cơ bản và quan trọng nhất bởi
vì chỉ khi quyền này được bảo đảm thực hiện thì các quyền khác về kinh tế, chính trị, vănhóa xã hội mới được đảm bảo Vì vậy, Đảng ta luôn luôn có chủ trương, đường lối, chínhsách đúng đắn và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để tổ chức thực hiện,đồng thời có nhiều biện pháp hữu hiệu nhằm giải quyết các đơn khiếu nại, tố cáo củacông dân
Việc nâng cao chất lượng hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo tại tỉnh Trà Vinhcũng như tại nhiều địa phương khác trên cả nước là rất cần thiết, với sự đầu tư không nhỏ
về thời gian và sự nỗ lực của cả hệ thống lập pháp và tư pháp Trong khi đó, từ thực tế tácgiả nhận thấy hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo tại các địa phương trong đó có tỉnhTrà Vinh đang gặp nhiều khó khăn và còn nhiều những tồn tại, hạn chế cần được khắcphụ và giải quyết trong thời gian ngắn nhất Với vốn kiến thức và kinh nghiệm hạn chếtrong nghiên cứu tác giả mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chấtlượng hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung và hoạt động giải quyết khiếu nại,
tố cáo trên địa bàn tỉnh Trà Vinh nói riêng
Chính vì những lý do trên nên Tác giả đã quyết định chọn đề tài: “Quyền khiếu
nại, tố cáo theo pháp luật Việt Nam tại tỉnh Trà Vinh” để làm Luận văn tốt nghiệp
cho mình
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Mục tiêu chung của Luận văn là nhằm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn liênquan đến quyền khiếu nại, tố cáo theo pháp luật Việt Nam tại Trà Vinh qua đó đề xuấtmột số giải pháp hoàn thiện
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn chỉ tập trung phân tích, đánh giá các quy định pháp luật khiếu nại tố cáotại Việt Nam và thực tiễn áp dụng các quy định đó tại Trà Vinh thời gian qua
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu có tính chất bao trùm được quán triệt để thực hiện luậnvăn là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lê nin,xem xét quá trình hình thành và phát triển cơ chế thị trường ở nước ta trên cơ sở vậndụng các quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về chính sách cạnh tranh và điều tiếtcạnh tranh bằng pháp luật
Trang 5Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, bình luận để làmrõ thực trạng và rà soát tính minh bạch, tính thống nhất, hợp lý và khả thi của quy địnhpháp luật về các hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh cụ thể.
Về phương pháp thống kê, điều tra xã hội học tác giả đã sử dụng khi tìm hiểu một
số nguyên nhân phát sinh đơn thư khiếu nại, tố cáo, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quảcông tác giải quyết khiếu nại, tố cáo
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn được bảo vệ thành công sẽ là tài liệu có giá trị tham khảo cho việc hoànthiện các quy định, kết quả nghiên cứu thực tế sẽ giúp hoàn thiện pháp luật về quyềnkhiếu nại, tố cáo Từ đó, đưa ra các hướng hoàn thiện phù hợp và toàn diện, góp phầnnâng cao quyền khiếu nại, tố cáo của người dân
6 Bố cục đề tài
Ngoài phần mục lục, lời nói đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2chương:
Chương 1 Pháp luật Việt Nam về quyền khiếu nại, tố cáo
Ở chương 1 tác giả đi vào phần khái quát về quyền con người, khái niệm và đặcđiểm của khiếu nại, tố cáo; từ đó nêu lên ý nghĩa quyền khiếu nại, tố cáo Tiếp đến, đivào phân tích quyền khiếu tại, tố cáo theo pháp luật Việt Nam; trong đó, đi sâu làm rõ đốitượng, chủ thể của quyền khiếu nại, tố cáo; trình tự, kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo;kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo Cuối chương, tác giả làm rõ giới hạn của quyềnkhiếu nại tố cáo
Chương 2 Thực tiễn giải quyết khiếu nại, tố cáo ở tỉnh Trà Vinh và hướng hoàn thiện
Việc nâng cao chất lượng hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Trà Vinh cũngnhư tại nhiều địa phương khác trên cả nước rất cần những định hướng mang tầm chiếnlược của một quốc gia, với sự đầu tư không nhỏ về thời gian, tiền bạc và sự vào cuộc của
cả hệ thống chính trị Trong khi đó, tác giả nhận thấy hoạt động giải quyết khiếu nại, tốcáo tại các địa phương trong đó có Trà Vinh đang gặp nhiều khó khăn và còn nhiềunhững tồn tại, hạn chế cần được khắc phụ và giải quyết trong thời gian ngắn nhất Vớivốn kiến thức eo hẹp tác giả mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng caochất lượng hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung và hoạt động giải quyết khiếunại, tố cáo trên địa bàn tỉnh Trà Vinh nói riêng
Trang 6Chương 1 Pháp luật Việt Nam về quyền khiếu nại, tố cáo1.1 Khái quát về quyền con người
Quyền con người là một phạm trù đa diện, do vậy, có rất nhiều định nghĩa vềquyền con người Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ khác nhau, khó có thểbao quát đầy đủ các thuộc tính của nó Theo Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyềncon người: Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các
cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đếnnhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người.1
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người (human rights), tuy nhiên,định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc thường được trích dẫn bởi các nhànghiên cứu, theo đó: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universallegal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động(action) hoặc sự bỏ mặc (omission) làm tổn hại đến nhân phẩm, tự do cơ bản(fundamental freedoms) của con người”
Bên cạnh đó, nhân quyền còn được định nghĩa một cách khái quát là những quyềnbẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được hưởng thì chúng ta sẽ không thểsống như một con người2 Dù định nghĩa các chuyên gia, cơ quan nghiên cứu nêu rakhông hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu lànhững nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận vàbảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế
Nhìn ở góc độ nào và ở cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như lànhững chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ Những chuẩn mực nàykết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người, cho tất cảmọi người Nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mớiđược bảo vệ nhân phẩm và mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhânvới tư cách là một con người Cho dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định, mộtđiều rõ ràng là quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệtrong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử3
Ở Việt Nam, một số định nghĩa về quyền con người do một số chuyên gia, cơquan nghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyềncon người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan
1Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, “Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người“, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, (2009), [tr 41].
2 Theo: United Nations, Human Rights: “Questions and Answers”, New York and Geneva, (2006), [tr.4].
3 Trong một cuộc khảo sát gần đây do CNN - một trong các cơ quan truyền thông nổi tiếng nhất thế giới - tiến hành, quyền con người được xem là một trong mười phát minh làm thay đổi thế giới (cùng với nông nghiệp , phân tâm học , thuyết tương đối , vắc xin , thuyết tiến hóa , mạng thông tin toàn cầu ( world wide web ), xà phòng , số không ,
và lực hấp dẫn ) - CNN: “Ten ideas that changed the world”, (2005).
Trang 7của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp
lý quốc tế
Trong thực tế ở Việt Nam, bên cạnh thuật ngữ “quyền con người”, có một thuậtngữ khác cũng được sử dụng, đó là “nhân quyền” Cả hai thuật ngữ này đều bắt nguồn từthuật ngữ chung bằng tiếng Anh được sử dụng trong môi trường quốc tế, đó là humanrights Từ human rights trong tiếng Anh có thể được dịch là quyền con người (thuần Việt)hoặc nhân quyền (Hán – Việt) Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, “nhân quyền” chính là
“quyền con người”4 Như vậy, xét về mặt ngôn ngữ học, quyền con người và nhân quyền
là hai từ đồng nghĩa, do đó, hoàn toàn có thể sử dụng cả hai từ này trong nghiên cứu,giảng dạy và hoạt động thực tiễn về nhân quyền
Trong bài viết của Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủtịch Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc bảo đảm và thực hiện
quyền con người của Quốc hội Việt Nam “Quyền con người là một vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản, phản ánh trình độ phát triển của một xã hội, được Ðảng và Nhà nước
ta đặc biệt coi trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh kết hợp tư tưởng khoa học nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin là triệt để giải phóng con người với đạo lý đầy lòng nhân ái của dân tộc Việt Nam "Thương người như thể thương thân", đã đề ra mục đích, lý tưởng của toàn Ðảng, toàn dân ta là phấn đấu để Tổ quốc được độc lập, nhân dân được tự do, "đồng bào
ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành" Cương lĩnh của Ðảng Cộng sản Việt Nam năm 1991 xác định, xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống
ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ Trên thực tế, Ðảng ta luôn luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước” Quốc hội đã quy định khá cụ thể trong
nhiều văn bản pháp luật, bao gồm: quyền tự do đi lại, tự do cư trú; quyền tự do ngônluận; quyền tự do tín ngưỡng; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền được bảo đảm bímật về thư tín, điện thoại, điện tín; quyền khiếu nại, tố cáo; quyền bất khả xâm phạm vềthân thể
1.2.1.1 Khái niệmcủa khiếu nại
Theo Đại Từ điển tiếng Việt, khiếu nại là thắc mắc, đề nghị xem xét lại những kếtluận, quyết định do cấp có thẩm quyền đã làm5 Luật khiếu nại đã được Quốc hội khóaXIII thông qua ngày 11 tháng 11 năm 2011 Đây là văn bản pháp lý quan trọng, thể chếhóa quyền khiếu nại của công dân được Hiến pháp ghi nhận
Khiếu nại là hoạt động diễn ra khá thường xuyên và phổ biến, do đó cụm từ khiếunại được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội Khiếu nại theo gốc tiếng Latinh:
4Viện Ngôn ngữ học: "Đại Từ điển Tiếng Việt", NXB Văn hoá - Thông tin, (1999), [tr.1239].
5 Từ điển Anh - Việt, Nxb Đồng Nai, (1990), [tr.205].
Trang 8"Complant" có nghĩa là sự phàn nàn, phản ứng, bất bình của người nào đó về vấn đề cóliên quan đến lợi ích của mình6
Khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận tạiĐiều 30 của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 20137
Đây là hiện tượng phát sinh trong đời sống xã hội như là một phản ứng của conngười trước một quyết định, một hành vi nào đó mà người khiếu nại cho rằng quyết địnhhay hành vi đó là không phù hợp với các quy tắc, chuẩn mực trong đời sống cộng đồng,xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình Dưới góc độ pháp lý, khiếu nại đượchiểu là: “việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục đề nghị cơquan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hànhchính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hànhchính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyếtđịnh hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”8
Như vậy, khiếu nại quy định trong Luật khiếu nại 2011 được hiểu là khiếu nạihành chính, đó là khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành hành chính của
cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhànước và quyết định kỷ luật cán bộ, công chức; khái niệm này chỉ giới hạn đối với nhữngkhiếu nại phát sinh trong lĩnh vực quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước
Quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhậntrong Hiến pháp, một quyền có tính chất chính trị và pháp lý của công dân, là một hìnhthức biểu hiện của dân chủ xã hội chủ nghĩa, liên quan chặt chẽ và chiếm vai trò quantrọng trong hệ thống các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Từ các khái niệm trên, theo tác giả khiếu nại là đề nghị của cá nhân, cơ quan, tổchức chịu tác động trực tiếp của quyết định hành chính hay hành vi hành chính hoặc là đềnghị của cán bộ, công chức chịu tác động trực tiếp của quyết định kỷ luật đối với cơquan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
1.2.1.2 Đặc điểm khiếu nại
Thứ nhất, mục đích của khiếu nại là bảo vệ và khôi phục lại quyền và lợi ích củangười bị khiếu nại đã bị quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hànhchính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước xâm hại
6Nguyễn Như Ý, “Đại từ điển Tiềng Việt”, Nxb Văn hóa thông tin,Hà Nội, (1998), [tr.904].
7 Điều 30 Hiến pháp năm 2013
1 Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
2 Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật
3 Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.
8 Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011.
Trang 9Thứ hai, về chủ thể khiếu nại, Khoản 1 Điều 1 và Điều 101 Luật khiếu nại thì chủthể có quyền khiếu nại bao gồm: “công dân, cơ quan, tổ chức, cán bộ công chức; cá nhân,
tổ chức nước ngoài có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan trực tiếp đến quyết định hànhchính, hành vi hành chính bị khiếu nại.”
Thứ ba, đối tượng của khiếu nại hành chính là các quyết định hành chính, hành vihành chính của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong các cơ quan nhà nước
Thứ tư, khiếu nại được thực hiện theo thủ tục hành chính được quy định trongLuật khiếu nại và các văn bản hướng dẫn thi hành
1.2.2.1 Khái niệm của tố cáo
Luật tố cáo đã được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 11/11/2011 Đây là vănbản pháp lý quan trọng, thể chế hóa quyền tố cáo của công dân được Hiến pháp ghi nhận.Cùng với khiếu nại, quyền tố cáo của công dân đã được tiếp tục ghi nhận trong Hiếnpháp Khái niệm tố cáo có thể được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau Dưới góc độ pháp
lý, tố cáo được hiểu: “là việc công dân theo thủ tục báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân cóthẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nàogây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp củacông dân, cơ quan, tổ chức”9
Như vậy, quyền khiếu nại và quyền tố cáo là hai quyền chính trị cơ bản của côngdân, là phương tiện bảo đảm cho việc thực hiện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp phápkhác của công dân, lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội Đồng thời đó cũng là nguồnthông tin quan trọng về tình trạng pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước, nó gópphần củng cố mối liên hệ giữa nhà nước và công dân, khẳng định tính chất tham gia quản
lý Nhà nước của công dân
1.2.2.2 Đặc điểm của tố cáo
Thứ nhất, mục đích của tố cáo không chỉ để bảo vệ quyền và lợi ích của người tốcáo mà còn để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội và của tập thể, của cá nhân khác vànhằm trừng trị kịp thời, áp dụng các biện pháp nghiêm khắc để loại trừ những hành vi tráipháp luật xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể, của cá nhân
Thứ hai, chủ thể thực hiện quyền tố cáo theo như quy định trong Luật tố cáo chỉ cóthể là công dân Như vậy, khác với khiếu nại, là cả công dân, cơ quan tổ chức đều cóquyền khiếu nại, nhưng thực hiện quyền tố cáo chỉ quy định cho đối tượng là cá nhân,quy định này nhằm cá thể hoá trách nhiệm của người tố cáo, nếu có hành vi cố tình tố cáosai sự thật thì tuỳ theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm mà bị xử lý theo quy địnhcủa pháp luật
9 Khoản 1, Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011.
Trang 10Thứ ba, đối tượng tố cáo là các hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổchức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợiích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Thứ tư, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo là các cơ quan nhà nước có thẩmquyền giải quyết tố cáo Khác với khiếu nại, người khiếu nại phải thực hiện quyền khiếunại với đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại của mình thì đối với tố cáo,người tố cáo có thể tố cáo hành vi vi phạm pháp luật đến cơ quan nhà nước Nếu khôngthuộc thẩm quyền giải quyết thì cơ quan đó có trách nhiệm chuyển đơn tố cáo
1.2 Ý nghĩa quyền khiếu nại, tố cáo
Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân
Khiếu nại, tố cáo của công dân là một trong những quyền cơ bản của công dân,đây là một quyền có tính chính trị pháp lý của công dân Quyền khiếu nại, tố cáo có liênquan chặt chẽ đến các quyền và nghĩa vụ cơ bản nhất của công dân Việc thực hiện quyềnkhiếu nại và tố cáo sẽ là cơ sở cho việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác của côngdân Nó chính là phương tiện để công dân đấu tranh chống lại các hành vi trái pháp luậtnhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp củachính mình Việc Hiến pháp ghi nhận quyền khiếu nại, tố cáo của công dân cho thấy vịtrí, vai trò vô cùng quan trọng của quyền năng pháp lý này Xét trên phương diện lýthuyết thì thực hiện khiếu nại, tố cáo chính là phương thức quan trọng để công dân, cơquan, tổ chức bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích tập thể và các quyền, lợi ích hợp pháp củamình Thông qua việc sử dụng quyền khiếu nại, quyền tố cáo mà các quyền cơ bản khácnhư: quyền được học hành, quyền tự do tín ngưỡng, quyền bầu cử sẽ được bảo đảm vàthực hiện
Khiếu nại, tố cáo là một hình thức biểu hiện trực tiếp của nền dân chủ xã hộichủ nghĩa
Thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo là một hình thức trực tiếp và chủ yếu để nhândân thông qua đó tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, phát huy dân chủ xã hộichủ nghĩa
Khiếu nại, tố cáo là một trong những phương thức giám sát của nhân dân đốivới nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước
Tính chất giám sát của nhân dân đối với nhà nước trong khiếu nại và tố cáo đượcbiểu hiện ở chỗ khi khiếu nại, tố cáo, nhân dân đã chuyển đến cho cơ quan nhà nướcnhững thông tin, phát hiện về những việc làm vi phạm pháp luật, xâm hại đến lợi ích củanhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Trên cơ sở đó, nhà nước kiểm tra lạihoạt động, hành vi của các cơ quan, cán bộ, công chức của mình thông qua việc giảiquyết khiếu nại, tố cáo Qua đó, nhà nước phát hiện được những hành vi tham nhũng,quan liêu, tiêu cực cũng như các biểu hiện vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức để
Trang 11kịp thời giáo dục, xử lý, loại trừ ra khỏi bộ máy nhà nước, làm cho bộ máy nhà nướctrong sạch, vững mạnh.
Thông qua giải quyết khiếu nại, tố cáo, cơ quan nhà nước, người có thẩm quyềnthấy được những hạn chế, những vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức trong thực thicông vụ, để từ đó đề ra các biện pháp khắc phục hạn chế, vi phạm pháp luật, nâng caotrách nhiệm của mình trong hoạt động công vụ
1.3 Quyền khiếu tại, tố cáo theo pháp luật Việt Nam
1.3.1 Sơ lược lịch sử pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam
Khiếu nại, tố cáo là một phương thức thể hiện quyền dân chủ của nhân dân và làmột trong những phương thức thực hiện quyền giám sát của nhân dân đối với bộ máyNhà nước Xuất phát từ tư tưởng “lấy dân là gốc”, từ bản chất chính trị của chế độ dânchủ nhân dân, ngay từ khi mới thành lập chính thể mới, cùng với việc thiết lập chínhquyền các cấp, Đảng, Bác Hồ và Chính phủ đã khẳng định quyền làm chủ của nhân dân,quan tâm đến việc kiểm soát hoạt động của bộ máy Nhà nước, việc giải quyết khiếu kiệncủa dân, chống phiền hà, nhũng nhiễu dân Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận các quyền
và tự do dân chủ hoàn toàn là của người dân Việt Nam như quyền bình đẳng về chính trị,kinh tế, văn hoá, quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền bình đẳng giữa các dân tộc,quyền bình đẳng nam nữ, quyền tự do ngôn luận, tự do tổ chức hội họp, tự do tín ngưỡng,
tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài, quyền bất khả xâm phạm về thân thể vàchỗ ở,… Tuy Hiến pháp năm 1946 chưa có một điều khoản cụ thể nào quy định quyềnkhiếu nại, tố cáo của công dân, song thể chế dân chủ mà Hiến pháp này tạo dựng nên đã
là nền tảng cơ bản hình thành quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trên thực tế Kế thừa
và phát triển tư tưởng dân chủ của Hiến pháp năm 1946, Điều 29 Hiến pháp năm 1959 đãchính thức ghi nhận quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của côngdân: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền khiếu nại và tố cáo với bất kỳ
cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm vi phạm pháp luật của cán bộ, nhân viên cơquan Nhà nước Các khiếu nại, tố cáo cần phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng.Người bị thiệt hại do những việc làm trái pháp luật gây ra có quyền được bồi thường”.Các Hiến pháp 1976, 1980, 1992 và 2013 tiếp tục kế thừa và ghi nhận quyền khiếu nại, tốcáo của công dân theo hướng ngày càng mở rộng quyền của công dân và tạo điều kiệnmột cách tốt nhất cho công dân trong lĩnh vực khiếu nại tố cáo
Quá trình cụ thể hóa quyền khiếu nại, tố cáo của công dân tại Việt Nam nhìnchung trải qua nhiều giai đoạn và có rất nhiều các văn bản dưới luật điều chỉnh các vấn
đề liên quan đến khiếu nại, tố cáo Có thể nhận thấy xuất phát từ nhiều bất cập của cácquy định pháp luật giai đoạn trước đây đã làm cơ sở cho việc ban hành Luật Khiếu nạinăm 2011 và Luật Tố cáo năm 2011 (được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 02 thông quangày 11/11/2011, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2012) Hai đạo Luật này và cácvăn bản hướng dẫn thi hành đã khắc phục nhiều hạn chế bức xúc của giai đoạn trước của
Trang 12pháp luật ảnh hưởng đến quyền khiếu nại, quyền tố cáo của công dân như khiếu nại tậpthể, cơ chế bảo vệ người tố cáo.
1.3.2 Đối tượng của quyền khiếu nại, tố cáo
1.3.2.1 Đối tượng quyền khiếu nại
Đối tượng của khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định
kỷ luật cán bộ, công chức
“Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người cóthẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụthể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, được áp dụng một lần đối với một hoặcmột số đối tượng cụ thể.”10
“Hành vi hành chính được hiểu là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, củangười có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiệnnhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.”11 Ví dụ: hành vi quá thời hạn do phápluật quy định nhưng cơ quan có thẩm quyền chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụngđất cho công dân; hành vi sách nhiễu trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ của cán bộ,công chức… đều là những hành vi hành chính có thể bị khiếu nại
Quyết định kỷ luật cũng là đối tượng của khiếu nại, được hiểu là: “Quyết địnhbằng văn bản của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng một trong các hình thức
kỷ luật đối với cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của phápluật về cán bộ, công chức”12
Như vậy Quyết định hành chính thuộc đối tượng khiếu nại là văn bản được thểhiện dưới hình thức quyết định hoặc dưới hình thức khác như thông báo, kết luận, côngvăn do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyềntrong các cơ quan, tổ chức đó ban hành có chứa đựng nội dung của quyết định hành chínhđược áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thểtrong hoạt động quản lý hành chính mà người khiếu nại cho rằng quyền, lợi ích hợp phápcủa mình bị xâm phạm (trừ những văn bản thông báo của cơ quan, tổ chức hoặc người cóthẩm quyền của cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức bổ sung,cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết, xử lý vụ việc cụ thể theo yêu cầucủa cá nhân, cơ quan, tổ chức đó)13
10 Khoản 8, Điều 2, Luật Khiếu nại năm 2011.
11 Khoản 9, Điều 2, Luật Khiếu nại năm 2011.
12Vũ Duy Duẩn, “Giải quyết khiếu nại, tố cáo – phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính
nhà nước ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Hà Nội, năm 2014.
13Hoàng Quốc Hùng – Phó Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp, “Luật Khiếu nại và quyền khởi kiện hành chính của người
dân”,
http://hdnv.moj.gov.vn/Pages/chi-tiet-tai-lieu.aspx?itemid=1782 [Truy cập 01/11/2016].
Trang 131.3.2.2 Đối tượng quyền tố cáo
Bất kì hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hạihoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của côngdân đều là đối tượng bị tố cáo Hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo có thể là hành vi viphạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ hoặc
là hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực
Trong luận án Tiến sĩ của Vũ Duy Duẩn với đề tài “Giải quyết khiếu nại, tố cáo –phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Namhiện nay” cũng đưa ra đối tượng của tố cáo là:
“Một là, tố cáo hành chính Tố cáo về các hành vi vi phạm pháp luật thuộc phạm
vi quản lý của các cơ quan nhà nước Việc tố cáo và giải quyết tố cáo thực hiện theo cácquy phạm pháp luật hành chính
Hai là, tố cáo về các hành vi vi phạm quy định của các tổ chức, đoàn thể, cộngđồng dân cư thuộc phạm vi điều chỉnh của nội bộ các tổ chức, đoàn thể, cộng đồng dân
cư đó
Ba là, tố cáo tội phạm (tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật hình sự).”
1.3.3 Chủ thế của quyền khiếu nại, tố cáo
Chủ thể thực hiện
quyền
– Công dân: quyềnkhiếu nại của công dânđược ghi nhận tại văn bảnpháp luật cao nhất là Hiếnpháp Hiến pháp năm 2013,quyền này tiếp tục được ghinhận tại Điều 30 “Mọingười có quyền khiếu nại,
tố cáo với cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền vềnhững việc làm trái phápluật của cơ quan, tổ chức, cánhân”14
Như vậy, chủ thểkhiếu nại được quy địnhbao gồm công dân Việt
– Công dân: Theoquy định của Luật tố cáo,chủ thể của tố cáo là đốitượng được xác định cụ thể,
đó là cá nhân; Khoản 4,Điều 2 Luật Tố cáo 2011quy định “Người tố cáo làcông dân thực hiện quyền tốcáo” Khác với khiếu nại là
cả công dân, cơ quan, tổchức đều có quyền khiếunại nhưng thực hiện quyền
tố cáo chỉ là cá nhân, quyđịnh này nhằm cá thể hoátrách nhiệm của người tốcáo
14 Khoản 1 Điều 30 Hiến pháp năm 2013.
Trang 14Nam và cả cá nhân nướcngoài tại Việt Nam.
vị vũ trang nhân dân15
– Cán bộ, công chức:
có quyền khiếu nại quyếtđịnh kỷ luật cán bộ, côngchức khi có căn cứ cho rằngquyết định đó trái pháp luật,xâm phạm quyền, lợi íchhợp pháp của mình16
Như vậy, chỉ côngdân, cá nhân mới có quyền
tố cáo về những hành vi viphạm pháp luật của bất cứ
cơ quan, tổ chức, cá nhânnào
1.4 Trình tự, kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo
1.4.1 Trình tự, kết quả giải quyết khiếu nại
Trình tự khiếu nại là các bước để người khiếu nại thực hiện việc khiếu nại củamình Đây là một trong những nội dung có nhiều điểm mới so với Luật khiếu nại, tố cáotrước đây Nếu như các quy định của Luật khiếu nại, tố cáo trước đây không quy định rõràng về các bước để thực hiện việc khiếu nại mà được lồng ghép trong các quy định vềtrình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, điều này đôi khi gây khó khăn cho người khiếu nạikhi thực hiện thì nay Luật khiếu nại đã khắc phục điểm bất cập này bằng việc quy địnhrất rõ ràng về trình tự này Điều này làm cho việc thực hiện quyền của công dân trở nêndễ dàng hơn Cụ thể như sau:
15 Khoản 4 Điều 2 Luật khiếu nại 2011.
16 Khoản 2 Điều 2 Luật khiếu nại 2011.
Trang 15Bước 5 Ra quyết định giải quyết khiếu nại
1.4.1.1 Trình tự giải quyết khiếu nại lần đầu
Nghiên cứu và xem xét thụ lý khiếu nại: Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhậnđược khiếu nại thuộc thẩm quyền mà không thuộc một trong các trường hợp được quyđịnh tại Điều 11 của Luật khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầuphải thụ lý giải quyết
Đối với trường hợp nhiều người khiếu nại về cùng một nội dung và cử người đạidiện để thực hiện việc khiếu nại thì thụ lý khi trong đơn khiếu nại có đầy đủ chữ ký củanhững người khiếu nại và có văn bản cử người đại diện
Thông báo về việc thụ lý hoặc không thụ lý khiếu nại: Trường hợp khiếu nại đượcthụ lý giải quyết, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải thông báo bằng văn bảncho người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển khiếu nại đến và
cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp biết Đối với khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ,công chức thì văn bản thông báo việc thụ lý được gửi cho người khiếu nại Đối vớitrường hợp nhiều người khiếu nại về cùng một nội dung và cử người đại diện để thựchiện việc khiếu nại thì văn bản thông báo việc thụ lý được gửi đến người đại diện Nhưvậy, trách nhiệm thông báo này được mở rộng hơn so với quy định của Luật khiếu nại, tốcáo trước đây
Trường hợp không thụ lý giải quyết thì phải nêu rõ lý do trong văn bản thông báocho người khiếu nại Thông báo về việc thụ lý hoặc không thụ lý khiếu nại được thựchiện theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 củaThanh tra Chính phủ Quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính
Như vậy, quy định về việc thụ lý giải quyết khiếu nại lần đầu về cơ bản kế thừaquy định của Luật khiếu nại, tố cáo trước đây Ngoại trừ các trường hợp khiếu nại khôngđược thụ lý giải quyết theo quy định của Luật, còn lại người có thẩm quyền giải quyếtkhiếu nại lần đầu phải có trách nhiệm thụ lý giải quyết
Đối thoại trong giải quyết khiếu nại lần đầu
Trang 16Đối thoại được coi là một giai đoạn quan trọng trong giải quyết khiếu nại, thể hiệntinh thần công khai, dân chủ trong quá trình giải quyết khiếu nại, là cơ hội để người giảiquyết khiếu nại trực tiếp lắng nghe ý kiến của các bên liên quan (người khiếu nại, người
bị khiếu nại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liênquan) để làm rõ nội dung khiếu nại và những vấn đề còn khúc mắc mà có thể qua xácminh chưa phản ánh hết, từ đó có căn cứ và cơ sở giải quyết vụ việc Quy định về đốithoại trong giải quyết khiếu nại lần đầu của Luật khiếu nại cũng có điểm khác so với Luậtkhiếu nại, tố cáo trước đây Nếu Luật khiếu nại, tố cáo trước đây quy định việc gặp gỡ,đối thoại trong giải quyết khiếu nại lần đầu là yêu cầu bắt buộc thì Luật khiếu nại hiệnnay quy định trong giải quyết khiếu nại lần đầu, chỉ tổ chức đối thoại nếu yêu cầu củangười khiếu nại và kết quả xác minh nội dung khiếu nại còn khác nhau (trừ trường hợp,đối với quá trình giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức, người giảiquyết khiếu nại lần đầu, lần hai bắt buộc phải tổ chức đối thoại – Điểm b Khoản 1 Điều
21 Thông tư 07/2013/TT-TTCP)
Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu
Căn cứ quy định của pháp luật, kết quả xác minh nội dung khiếu nại, kết quả đốithoại (nếu có), người giải quyết khiếu nại ban hành quyết định giải quyết khiếu nại
- Nội dung của quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu: ngày, tháng, năm ra quyếtđịnh; tên, địa chỉ người khiếu nại, người bị khiếu nại; nội dung khiếu nại; kết quả xácminh nội dung khiếu nại; kết quả đối thoại nếu có; căn cứ pháp luật để giải quyết khiếunại; kết luận nội dung khiếu nại; giữ nguyên, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ một phần haytoàn bộ quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại; giải quyết cácvấn đề cụ thể trong nội dung khiếu nại; việc bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hạinếu có; quyền khiếu nại lần hai, quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án
Đối với trường hợp nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung thì người có thẩmquyền giải quyết phải xem xét, kết luận nội dung khiếu nại và căn cứ vào kết luận đó để
ra quyết định giải quyết khiếu nại cho từng người hoặc ra quyết định giải quyết khiếu nạikèm theo danh sách những người khiếu nại
- Việc gửi quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu: Sau khi ban hành quyết địnhgiải quyết khiếu nại, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định giải quyếtkhiếu nại, người giải quyết khiếu nại lần đầu có trách nhiệm gửi quyết định giải quyếtkhiếu nại cho người khiếu nại, thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người giải quyết khiếunại hoặc người có thẩm quyền, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cánhân đã chuyển khiếu nại đến và cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp
Như vậy, so với quy định của Luật khiếu nại, tố cáo trước đây, Luật khiếu nại đã
bổ sung thêm quy định về việc ra quyết định giải quyết khiếu nại trong trường hợp nhiềungười khiếu nại về cùng một nội dung, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và thống nhất việc thực
Trang 17hiện, đồng thời quy định rõ hơn về trách nhiệm của người giải quyết khiếu nại trong việcgửi quyết định giải quyết khiếu nại để thuận tiện trong việc áp dụng
Khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính
Sau cấp giải quyết khiếu nại lần đầu, người khiếu nại có hai sự lựa chọn: hoặckhiếu nại tiếp lần hai đến thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người đã giải quyết khiếu nạilần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án Cụ thể, Điều 33 Luật khiếu nại quyđịnh như sau:
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại quy định tạiĐiều 28 của Luật này mà khiếu nại lần đầu không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhậnđược quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì cóquyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai; đối với vùng sâu,vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày
Trường hợp khiếu nại lần hai thì người khiếu nại phải gửi đơn kèm theo quyếtđịnh giải quyết khiếu nại lần đầu, các tài liệu có liên quan cho người có thẩm quyền giảiquyết khiếu nại lần hai
Hết thời hạn giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 28 của Luật này mà khiếu nạilần đầu không được giải quyết hoặc người khiếu nại không đồng ý với quyết định giảiquyết khiếu nại lần đầu thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy địnhcủa Luật tố tụng hành chính
1.4.1.2 Trình tự giải quyết khiếu nại lần hai
Một trong những điểm mới của Luật khiếu nại năm 2011 so với Luật khiếu nại, tốcáo trước đây là quy định cụ thể và tách bạch thủ tục giải quyết khiếu nại lần đầu với thủtục giải quyết lần hai Việc quy định như vậy nhằm bảo đảm sự phân định rõ ràng, rànhmạnh giữa hai cấp giải quyết khiếu nại, tạo thuận lợi cho cả người khiếu nại lẫn ngườigiải quyết khiếu nại Việc phân định rõ ràng này cũng tạo điều kiện cho việc xác địnhtrách nhiệm rõ ràng giữa các cấp trong giải quyết khiếu nại Trình tự, thủ tục giải quyếtkhiếu nại lần hai được quy định cụ thể như sau:
Thụ lý giải quyết khiếu nại lần hai
Về cơ bản, quy định về việc thụ lý giải quyết khiếu nại lần hai cũng tương tự nhưthụ lý giải quyết khiếu nại lần đầu Điều 36 Luật khiếu nại quy định trong thời hạn 10ngày, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của mình vàkhông thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 11 của Luật khiếu nại, ngườigiải quyết khiếu nại lần hai phải thụ lý giải quyết và thông báo bằng văn bản cho ngườikhiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đã chuyển khiếu nại đến và cơ quanthanh tra nhà nước cùng cấp biết; trường hợp không thụ lý giải quyết thì phải nêu rõ lý
do Đối với vụ việc khiếu nại phức tạp, nếu thấy cần thiết, người giải quyết khiếu nại
Trang 18thành lập Hội đồng tư vấn để tham khảo ý kiến giải quyết khiếu nại Cụ thể hóa quy địnhnày, khoản 2 Điều 20 Thông tư 07/2013/TT-TTCP quy định như sau:
Trong quá trình giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vihành chính, người giải quyết khiếu nại có thể mời những người am hiểu chuyên môn vềlĩnh vực liên quan đến nội dung khiếu nại, đại diện tổ chức chính trị - xã hội, xã hội -nghề nghiệp tham gia Hội đồng tư vấn giải quyết khiếu nại Tại cuộc họp Hội đồng tưvấn, người giải quyết khiếu nại yêu cầu người có trách nhiệm xác minh báo cáo kết quảxác minh nội dung khiếu nại, các vấn đề còn có những ý kiến khác nhau cần xin ý kiến tưvấn; các thành viên Hội đồng tư vấn thảo luận và tham gia ý kiến Các ý kiến tham giađược ghi trong Biên bản họp Hội đồng tư vấn Biên bản có chữ ký của Chủ tịch, Thư kýHội đồng tư vấn và được gửi cho người giải quyết khiếu nại
Việc quy định về việc thành lập Hội đồng tư vấn là điểm mới đáng lưu ý của Luậtkhiếu nại so với Luật khiếu nại, tố cáo trước đây Việc quy định về thành lập Hội đồng tưvấn trong giải quyết khiếu nại là kết quả từ tổng kết thực tiễn công tác giải quyết khiếunại hành chính trong thời gian qua Đây là sự ghi nhận hợp lý và kịp thời, đáp ứng yêucầu của công tác giải quyết khiếu nại
Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai
Theo quy định tại Điều 37 của Luật khiếu nại thì thời hạn giải quyết khiếu nại lầnhai không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyếtkhiếu nại có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý Ở vùng sâu,vùng xa, vùng đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 60 ngày, kể từngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn,nhưng không quá 70 ngày, kể từ ngày thụ lý Như vậy, thời hạn giải quyết khiếu nại lầnhai vẫn được quy định như Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 được sửa đổi bổ sung vàocác năm 2004 và năm 2005
Đối thoại trong giải quyết khiếu nại lần hai
Điều 39 Luật khiếu nại quy định trong quá trình giải quyết khiếu nại lần hai, ngườigiải quyết khiếu nại tiến hành đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người cóquyền và nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để làm rõ nội dungkhiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại, hướng giải quyết khiếu nại Việc tổ chức đốithoại lần hai thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật khiếu nại, tức là tương tự nhưviệc đối thoại trong giải quyết khiếu nại lần đầu
Như vậy, việc quy định về đối thoại trong giải quyết khiếu nại lần hai của Luậtkhiếu nại có điểm khác so với Luật khiếu nại, tố cáo trước đây Theo quy định của Luậtkhiếu nại tố cáo trước17thì trong quá trình giải quyết khiếu nại lần hai, người giải quyếtkhiếu nại có thể gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại để làmrõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết Đây là quy định
17 Điều 45 Luật khiếu nại 2011
Trang 19mang tính tuỳ nghi phụ thuộc vào lựa chọn của người giải quyết khiếu nại, người giảiquyết khiếu nại không bắt buộc phải tổ chức đối thoại trong quá trình giải quyết khiếu nạilần hai đối với tất cả các vụ khiếu nại Trong khi đó, thực tiễn lại cho thấy, việc đối thoạitrong quá trình giải quyết khiếu nại lần hai là rất quan trọng, giúp người giải quyết khiếunại, người khiếu nại, người bị khiếu nại nắm bắt thêm thông tin, tình tiết vụ việc, giúplàm sáng tỏ nhiều vấn đề góp phần đưa việc giải quyết được nhanh chóng và hiệu quảhơn Do vậy, việc quy định như trên là phù hợp, đáp ứng yêu cầu trong thực tiễn công tácgiải quyết khiếu nại
Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai
Điều 40 Luật khiếu nại quy định quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu phải cócác nội dung sau: ngày, tháng, năm ra quyết định; tên, địa chỉ của người khiếu nại, người
bị khiếu nại; nội dung khiếu nại; kết quả giải quyết khiếu nại của người giải quyết khiếunại lần đầu; kết quả xác minh nội dung khiếu nại; kết quả đối thoại; căn cứ pháp luật đểgiải quyết khiếu nại; kết luận nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn
bộ Trường hợp khiếu nại là đúng hoặc đúng một phần thì yêu cầu người có quyết địnhhành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại sửa đổi, hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyếtđịnh hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại Trường hợp kết luận nộidung khiếu nại là sai toàn bộ thì yêu cầu người khiếu nại, người có quyền, nghĩa vụ liênquan thực hiện nghiêm chỉnh quyết định hành chính, hành vi hành chính; việc bồi thườngcho người bị thiệt hại nếu có và quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án
Gửi và công khai quyết định giải quyết khiếu nại
Việc gửi quyết định giải quyết khiếu nại tương tự như giải quyết khiếu nại lần đầu,người giải quyết khiếu nại lần hai có trách nhiệm gửi quyết định giải quyết khiếu nại chocác đối tượng có liên quan Quy định trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có quyết địnhgiải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại lần hai phải gửi quyết định giải quyếtkhiếu nại cho người khiếu nại, người bị khiếu nại, người giải quyết khiếu nại lần đầu,người có quyền, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyểnkhiếu nại đến18
Việc công khai quyết định giải quyết khiếu nại công khai quyết định giải quyếtđịnh giải quyết khiếu nại là nội dung mới của Luật khiếu nại, tuy nhiên trên thực tế thìnội dung này đã được quy định trong Luật phòng, chống tham nhũng (theo quy định củaLuật phòng, chống tham nhũng thì quyết định giải quyết khiếu nại phải được công khai,trừ trường hợp pháp luật có quy định khác)
Luật khiếu nại và Nghị định số 75/2012/NĐ-CP quy định việc công khai quyếtđịnh giải quyết khiếu nại như sau:
+ Trong thời hạn 15 ngày, kể từ khi có quyết định giải quyết khiếu nại, người cóthẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai có trách nhiệm công khai quyết định giải quyết
18 Khoản 1 Điều 41 Luật khiếu nại.
Trang 20khiếu nại theo một trong các hình thức sau: công bố tại cuộc họp cơ quan, tổ chức nơingười bị khiếu nại công tác; niêm yết tại trụ sở làm việc hoặc nơi tiếp công dân của cơquan, tổ chức đã giải quyết khiếu nại; thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.
+ Trường hợp công bố tại cuộc họp thì thành phần tham dự cuộc họp phải baogồm: Người ra quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại hoặc người đại diện,người bị khiếu nại và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
Trước khi tiến hành cuộc họp công khai, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nạiphải có văn bản thông báo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan biết Thời gianthông báo phải trước 3 ngày làm việc
+ Việc thông báo quyết định giải quyết khiếu nại trên các phương tiện thông tinđại chúng được thức hiện trên báo nói, báo hình, báo viết, báo điện tử Người có thẩmquyền giải quyết khiếu nại có trách nhiệm lựa chọn một trong các phương tiện thông tinđại chúng để thực hiện việc thông báo Trường hợp cơ quan của người có thẩm quyềngiải quyết khiếu nại có cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử, phải công khaitrên cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử
Số lần thông báo trên báo nói ít nhất 02 lần phát sóng; trên báo hình ít nhất 02 lầnphát sóng; trên báo viết ít nhất 02 số phát hành; thời gian đăng tải trên báo điện tử, trêncổng thông tin điện tử hoặc trên trang thông tin điện tử ít nhất là 15 ngày, kể từ ngàyđăng thông báo
+ Trường hợp niêm yết tại trụ sở làm việc hoặc nơi tiếp công dân của cơ quan, tổchức đã giải quyết khiếu nại, thời gian niêm yết quyết định giải quyết khiếu nại ít nhất là
15 ngày, kể từ ngày niêm yết
1.4.2 Kết quả giải quyết khiếu nại
Quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật bao gồm quyết định giảiquyết khiếu nại lần đầu, quyết định giải quyết khiếu nại lần hai mà trong thời hạn dopháp luật quy định người khiếu nại không khiếu nại tiếp, không khởi kiện vụ án hànhchính tại toà án
Theo quy định của Luật khiếu nại, quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu có hiệulực pháp luật sau 30 ngày, kể từ ngày ban hành mà người khiếu nại không khiếu nại lầnhai; đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn có thể kéo dài hơn nhưngkhông quá 45 ngày Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai có hiệu lực pháp luật sau 30ngày, kể từ ngày ban hành; đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn có thểkéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày Trường hợp người khiếu nại không đồng ý vớiquyết định giải quyết khiếu nại thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án theoquy định của Luật tố tụng hành chính Quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực phápluật có giá trị thi hành ngay
Trang 211.5 Trình tự, kết quả giải quyết tố cáo
1.5.1 Trình tự giải quyết tố cáo
Tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo
Xác minh nội dung tố cáo
Kết luận nội dung tố cáo
Xử lý tố cáo của người giải quyết
tố cáo
Công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành
vi vi phạm bị tố cáo
1.5.1.1 Tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo
Khi nhận được tố cáo thì người giải quyết tố cáo có trách nhiệm phân loại và xử lýnhư sau:
Nếu tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì trong thời hạn 10 ngày, kể từngày nhận được đơn tố cáo, phải kiểm tra, xác minh họ, tên, địa chỉ của người tố cáo vàquyết định việc thụ lý hoặc không thụ lý giải quyết tố cáo, đồng thời thông báo cho người
tố cáo biết lý do việc không thụ lý, nếu có yêu cầu; trường hợp phải kiểm tra, xác minhtại nhiều địa điểm thì thời hạn kiểm tra, xác minh có thể dài hơn nhưng không quá 15ngày;
Nếu tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì trong thời hạn 05ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn tố cáo, người tiếp nhận phải chuyển đơn tố cáocho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người tố cáo,nếu có yêu cầu Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận tố cáohướng dẫn người tố cáo đến tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giảiquyết
Trang 221.5.1.2 Xác minh nội dung tố cáo
Khoản 1 Điều 22 Luật tố cáo quy định: người giải quyết tố cáo tiến hành xác minhhoặc giao cho cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân cótrách nhiệm xác minh nội dung tố cáo Như vậy, tuỳ vào tính chất, đặc điểm, nội dung vụviệc mà người có thẩm quyền giải quyết tố cáo tự mình hoặc quyết định giao cho cơquan, tổ chức, cá nhân nào có trách nhiệm xác minh nội dung tố cáo
1.5.1.3 Kết luận nội dung tố cáo
Quy định tại Điều 25 Luật tố cáo và Thông tư số 06/2013/TT-TTCP Kết luận nộidung tố cáo là một thủ tục rất quan trọng trong quá trình giải quyết tố cáo Luật tố cáoquy định: Căn cứ vào nội dung tố cáo, văn bản giải trình của người bị tố cáo, kết quả xácminh nội dung tố cáo, các tài liệu, bằng chứng có liên quan, người xác minh nội dung tốcáo phải kết luận bằng văn bản về nội dung tố cáo Trong trường hợp người có thẩmquyền giải quyết tố cáo tự mình tiến hành việc xác minh thì kết luận nội dung tố cáo vàquyết định xử lý theo thẩm quyền; trường hợp vượt quá thẩm quyền thì kiến nghị cơquan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý
Kết luận nội dung tố cáo là văn bản quan trọng nhất của việc giải quyết tố cáo,phản ánh kết quả của việc xác minh, giải quyết vụ việc tố cáo, là đánh giá của cơ quan, tổchức có thẩm quyền đối với nội dung tố cáo, xác định việc tố cáo đó đúng, đúng mộtphần hay sai toàn bộ, xác định trách nhiệm của từng cá nhân, từ đó có các biện pháp xử
lý nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm
1.5.1.4 Xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo
Điều 25 Luật tố cáo và Điều 24 Thông tư số 06/2013/TT-TTCP quy định sau khi
có kết luận nội dung tố cáo, người giải quyết tố cáo căn cứ vào kết luận nội dung kết luận
tố cáo để tiến hành xử lý như sau:
Trường hợp kết luận người bị tố cáo không vi phạm các quy định pháp luật thìphải thông báo bằng văn bản cho người bị tố cáo, cơ quan quản lý người bị tố cáo biết,khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo bị xâm phạm do việc tố cáo khôngđúng sự thật gây ra, đồng thời xử lý hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩmquyền xử lý người cố ý tố cáo sai sự thật Thông tin về người cố ý tố cáo sai sự thật, tàiliệu, bút tích liên quan đến nội dung cố ý tố cáo sai sự thật được sử dụng để phục vụ choviệc xử lý người cố ý tố cáo sai sự thật
Trường hợp kết luận người bị tố cáo vi phạm các quy định trong thực hiện nhiệm
vụ, công vụ thì áp dụng các biện pháp xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổchức, cá nhân có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật
Đối với hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm các quy định về nhiệm vụ, công vụthuộc thẩm quyền xử lý của mình thì người giải quyết tố cáo ban hành quyết định thu hồitiền, tài sản; thực hiện các thủ tục để xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính và áp dụng các