Việc ra quyết định giải quyết tranh chấp hay khiếu nại có sự khác nhau về hình thức văn bản và nội dung vụ việc song để đạt được kết quả đều phải dựa vào các chứng lí, áp dụng hệ thống p
Trang 1ThS NguyÔn ThÞ Dung *
iện nay, khi xem xét, đánh giá tính hiện
đại đối với một hệ thống quản lí đất đai
người ta thường dựa trên ba tiêu chí cơ bản:
- Mạng lưới tọa độ địa chính quốc gia và
bản đồ địa chính;
- Hệ thống đăng kí đất đai và cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất;
- Hệ thống quy trình, quy phạm trong việc
giải quyết tranh chấp đất đai
Điều đó đủ thấy việc giải quyết tranh chấp
đất đai có ý nghĩa quan trọng như thế nào đối
với sự vận hành của cơ chế quản lí đất đai
thống nhất
Trong bài viết này chúng tôi không chỉ dừng
lại ở những quy định về giải quyết tranh chấp
mà còn đề cập vấn đề giải quyết khiếu nại, tố
cáo về đất đai, tuy đó là các sự việc khác nhau
nhưng lại có những mối liên hệ nhất định với
nhau Cũng cần phải nhấn mạnh rằng tranh
chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai đều là những
hiện tượng thường xảy ra trong xã hội, có Nhà
nước, có pháp luật và có sự vi phạm pháp luật
Thực tế đôi khi người ta không phân biệt rõ
giữa tranh chấp và khiếu nại về đất đai Điều này
không chỉ xảy ra ở các chủ thể tranh chấp mà
thậm chí đối với cả những cơ quan có thẩm
quyền giải quyết Ở nhiều địa phương, nội dung
vụ việc là tranh chấp đất đai nhưng đương sự lại
gửi đơn đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền đề
nghị giải quyết và ghi là đơn khiếu nại Cơ quan
có thẩm quyền thụ lí hồ sơ và ban hành quyết
định giải quyết khiếu nại, trong khi thực chất là quyết định giải quyết tranh chấp đất đai Việc
ra quyết định giải quyết tranh chấp hay khiếu nại có sự khác nhau về hình thức văn bản và nội dung vụ việc song để đạt được kết quả đều phải dựa vào các chứng lí, áp dụng hệ thống pháp luật để phán quyết ai có quyền sử dụng khu đất, sử dụng đến đâu, quyết định đó
là đúng hay sai…
- Đối với quyết định giải quyết tranh chấp,
cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc tranh chấp giữa nguyên đơn, bị đơn và yêu cầu họ thực hiện quyết định giải quyết của mình
- Trong giải quyết khiếu nại thì cơ quan
có thẩm quyền xem xét nội dung quyết định hành chính bị khiếu nại để công nhận toàn
bộ, công nhận một phần hay không công nhận nội dung của quyết định hành chính đó
và ban hành quyết định giải quyết khiếu nại phù hợp pháp luật
Ở một khía cạnh nhất định, muốn hạn chế tình trạng khiếu nại, đương nhiên phải giải quyết tranh chấp đất đai hoặc ban hành quyết định hành chính về đất đai đúng quy định pháp luật (trừ loại khiếu nại về hành vi hành chính)
Kết quả điều tra, xác minh phải trung thực, khách quan Kiến thức pháp luật, sự am hiểu các vấn đề xã hội sẽ là cơ sở vững chắc cho
H
* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai
Khác với tranh chấp, khiếu nại về đất đai,
bản chất của những vụ tố cáo là chỉ ra và thông
báo cho cơ quan có thẩm quyền biết để kịp thời
xử lí, ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật Tuy
nhiên, có một số trường hợp đương sự trong các
vụ tranh chấp, khiếu nại về đất đai lại tố cáo cán
bộ công chức có hành vi tiêu cực trong khi thi
hành công vụ
1 Giải quyết tranh chấp đất đai
Giải quyết tranh chấp đất đai là nội dung
quan trọng trong hoạt động quản lí nhà nước về
đất đai, nhằm bảo vệ quyền sở hữu của Nhà
nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người sử dụng đất
Với ý nghĩa đó trong các văn bản pháp luật
đất đai đều có quy định nội dung giải quyết
tranh chấp đất đai và thẩm quyền giải quyết
tranh chấp đất đai Ở đây chúng ta sẽ xem xét
vấn đề dưới ba góc độ:
- Th ứ nhất, có sự so sánh trong những
quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp
đất đai của các văn bản pháp luật đất đai qua
từng thời kì
- Th ứ hai, mức độ đáp ứng đối với
những yêu cầu mà thực tế đặt ra của những
văn bản đó
- Th ứ ba, hướng hoàn thiện trong điều kiện
hiện nay
Nếu bắt đầu từ Quyết định số 201/CP ngày
01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc
thống nhất quản lí ruộng đất và tăng cường
công tác quản lí trong cả nước thì có tám nội
dung cần phải thực hiện và thẩm quyền giải
quyết các việc tranh chấp về ruộng đất được
quy định trong nội dung thứ bảy
Có thể thấy rõ rằng tiêu chí để phân định
thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa các cơ quan là yếu tố chủ thể tham gia tranh chấp qua quy định sau đây:
- “Các việc tranh chấp về ruộng đất giữa
h ợp tác xã, các đoàn thể nhân dân (gọi tắt là
quan ch ấp hành của Nhà nước từ dưới lên
trên gi ải quyết
- Các v ụ tranh chấp xảy ra giữa các công
dân v ới nhau hoặc giữa một bên là cơ quan,
xét x ử…”.(1)
Phát triển quy định nói trên, Luật đất đai năm 1988 đã quy định về hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai tại Điều 21 Tuy có dự liệu
và phân định một cách đầy đủ, cụ thể hơn Quyết định số 201/CP nhưng tiêu chí để phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai vẫn chỉ dừng lại ở yếu tố chủ thể
Điều này thể hiện ở quy định các tranh chấp về quyền sử dụng đất do uỷ ban nhân dân nơi có đất giải quyết:
“1 Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn giải
2 U ỷ ban nhân dân huyện giải quyết
tranh ch ấp giữa cá nhân với tổ chức và giữa
các t ổ chức thuộc quyền mình quản lí
3 U ỷ ban nhân dân quận, thị xã, thành
ph ố thuộc tỉnh giải quyết tranh chấp quy định
t ại khoản 1, khoản 2 điều này
4 U ỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thu ộc trung ương giải quyết tranh chấp giữa
cá nhân v ới tổ chức và giữa các tổ chức với
nhau n ếu tổ chức đó thuộc quyền mình quản lí
ho ặc trực thuộc trung ương…” (Điều 21).(2)
Như vậy, khi quy định về hoạt động
Trang 3giải quyết tranh chấp đất đai, pháp luật mới
chỉ dừng lại ở một vài nét chấm phá so với đòi
hỏi của thực tế đầy biến động, phức tạp với
những tranh chấp đất đai xảy ra muôn hình,
muôn vẻ trên nhiều góc độ khác nhau Song đó
cũng là những hạn chế khó tránh khỏi của thời
kì mà các quan hệ pháp luật đất đai chỉ đơn
thuần là những quan hệ hành chính
- Đến Luật đất đai năm 1993, quy định về
hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai vẫn
dừng lại ở quy định về thẩm quyền giải quyết
tranh chấp nhưng đã thể hiện một bước tiến hết
sức quan trọng, mở đường cho những quy định
sau này, khi đưa ra sự kết hợp của hai yếu tố để
phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp là:
- Chủ thể tham gia tranh chấp;
- Hình thức văn bản xác nhận quyền sử
dụng đất cho chủ thể đó
Đồng thời mở thêm một con đường mới
trong hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai
nhưng lại hết sức có hiệu quả mà chất liệu để
xây dựng nên con đường đó là sự thương
lượng trong nội bộ quần chúng nhân dân
- Điều 38 Luật đất đai năm 1993 đã đưa
toà án nhân dân các cấp vào hệ thống các cơ
quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
quyền sử dụng đất, khi quy định:
- Các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà
người sử dụng đất chưa có giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền thì do uỷ ban nhân dân giải quyết
theo phân cấp từ uỷ ban nhân dân cấp huyện
trở lên
- Các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà
người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tranh
chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng
đất thì do toà án giải quyết
Cần phải thấy rằng uỷ ban nhân dân là cơ quan quản lí nhà nước về đất đai vừa là cơ quan
có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai thì
sẽ thuận lợi cho việc xác minh, thu thập chứng
cứ Song uỷ ban nhân dân là cơ quan hành pháp
mà lại giải quyết tranh chấp đất đai như một cơ quan tư pháp thì sẽ không tránh khỏi tình trạng
“vừa đá bóng vừa thổi còi” Hơn nữa, các quyết định của uỷ ban nhân dân hiệu quả thi hành rất thấp vì không được đảm bảo bằng các biện pháp cần thiết Với những lí do như vậy, Luật đất đai năm 1993 đã thể hiện xu thế tất yếu về việc giao trách nhiệm cho toà án nhân dân giải quyết tất
cả các tranh chấp đất đai - khi mà chúng ta hoàn thiện xong vấn đề cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất Xét cả về lí luận và thực tiễn đều thấy rằng quyết định xét xử của toà án có hiệu lực thi hành triệt để hơn so với quyết định giải quyết tranh chấp của uỷ ban nhân dân bởi nó được đảm bảo thi hành bằng một hệ thống cơ quan thi hành án Toà án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử, xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, với đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ Khi ra quyết định giải quyết tranh chấp toà án phải tuân theo những nguyên tắc như: Xét xử công khai, đảm bảo quyền bình đẳng cho các đương sự…
Cũng như những quan hệ xã hội trong các lĩnh vực khác, quan hệ pháp luật đất đai đã trải qua các giai đoạn lịch sử đầy biến động và phức tạp Vì thế tuy đã có quy định tương đối rõ ràng
về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai giữa
uỷ ban nhân dân và toà án nhưng một số các thuật ngữ được sử dụng trong Điều 38 cũng cần phải được giải thích và quy định cụ thể chi tiết hơn, đáp ứng những đòi hỏi mà thực tiễn cuộc
Trang 4sống đặt ra Ví dụ, hiểu thế nào là giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cấp hoặc các trường hợp tranh chấp
về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất Đó là
nguyên nhân của sự ra đời một văn bản hướng
dẫn - Thông tư liên tịch số 02/TTLT ngày
28/7/1997 của TANDTC, VKSNDTC, TCĐC
hướng dẫn về thẩm quyền của toà án nhân dân
và uỷ ban nhân dân trong việc giải quyết các
tranh chấp quyền sử dụng đất theo khoản 3 Điều
38 Luật đất đai năm 1993
Với mục đích như vậy nhưng Thông tư số
02/TTLT lại gây ra sự không thống nhất về cách
hiểu khi quy định: “Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất phải là giấy do cơ quan quản lí đất đai
ở trung ương phát hành (TCĐC) theo Luật đất
đai năm 1993 (thường gọi là bìa đỏ) và do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử
dụng đất) Vậy những giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất do cơ quan quản lí đất đai ở trung
ương trước kia phát hành (cũng gọi là bìa đỏ)
và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp
theo quy định của Luật đất đai năm 1988 thì cơ
quan nào giải quyết? Sự không rõ ràng này
đã gây nên việc đùn đẩy trách nhiệm giữa toà
án nhân dân và ủy ban nhân dân trong việc
giải quyết các tranh chấp đất đai Trong
chừng mực nhất định giải thích tại Thông tư
số 02/TTLT là không thống nhất với khoản 3
Điều 38 của Luật đất đai Để khắc phục tình
trạng này ngày 03/01/2003 TANDTC,
VKSNDTC, TCĐC ban hành Thông tư số
01/TTLT thay thế Thông tư số 02/TTLT hướng
dẫn về thẩm quyền của toà án nhân dân trong
việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến
quyền sử dụng đất Giải thích ở Thông tư này về
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ quan
nhà nước có thẩm quyền cấp là hoàn toàn rõ ràng và thống nhất với tinh thần của khoản 3 Điều 38 Luật đất đai Thông tư số 01/TTLT đã
bổ sung thêm một căn cứ để phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất là đối tượng tranh chấp Khi người sử dụng đất đã có một trong những giấy
tờ được quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định
số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999, việc tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất thì do ủy ban nhân dân giải quyết, còn tranh chấp về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất thì do toà án nhân dân thụ lí giải quyết
Phát triển những quy định trong Quyết định
số 201/CP ngày 1/7/1980, Luật đất đai năm
1988, Luật đất đai năm 1993 và Thông tư số 01/TTLT đã đưa ra 3 tiêu chí quan trọng để phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai giữa uỷ ban nhân dân và toà án nhân dân là:
- Chủ thể tranh chấp;
- Hình thức văn bản xác nhận quyền sử dụng đất;
- Đối tượng tranh chấp
Bước đầu hình thành nên cơ chế thống nhất và hợp lí trong việc giải quyết tranh chấp đất đai Đó thực sự là thành quả của cả quá trình phát triển và hoàn thiện những quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Rõ ràng quy định về giải quyết tranh chấp đất đai trong Luật đất đai năm 2003, về cơ bản
đã kế thừa được những quy định trước đó với những điều khoản cụ thể có tên gọi rõ ràng Song cũng chỉ mới dừng lại ở tính nguyên tắc
mà chưa đưa ra được quy định đầy đủ trong việc giải quyết tranh chấp đất đai, với những trình tự, thủ tục cần thiết, hướng dẫn những người có liên
Trang 5quan thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình
Và như vậy có một khoảng trống pháp luật vẫn
chưa được lấp đầy Tuy nhiên, tôi cũng cho rằng
vào thời điểm hiện tại, khi mà các quan hệ đất
đai chưa thật sự đi vào trật tự ổn định, các tranh
chấp đất đai xảy ra rất đa dạng, với nhiều cung
bậc khác nhau, những tài liệu là cơ sở pháp lí
cho việc giải quyết tranh chấp cũng không
đồng bộ, thiếu sự thống nhất thì việc thực hiện
yêu cầu đó là điều không dễ dàng
- Về hoà giải tranh chấp đất đai
“Nhà nước khuyến khích các bên tranh
ch ấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh
ch ấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở
- Tranh ch ấp đất đai mà các bên không tự
hòa gi ải được thì gửi đơn đến uỷ ban nhân dân
xã, ph ường, thị trấn nơi có đất tranh chấp…”
Quy định nói trên đã thể hiện sự khuyến
khích của Nhà nước nhằm giúp các bên tìm ra
một giải pháp tốt nhất để giải quyết những mâu
thuẫn, bất đồng trong quá trình sử dụng đất bằng
sự tự nguyện, tự thoả thuận Khi các bên không
thể tự hòa giải, thương lượng được với nhau thì
việc giải quyết tranh chấp sẽ thông qua hoà giải
ở cơ sở Nếu hòa giải ở cơ sở vẫn không đạt
được sự thống nhất thì các bên có quyền yêu cầu
uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất
tranh chấp để được giúp đỡ Uỷ ban nhân dân
xã, phường, thị trấn sẽ phối hợp với Mặt trận tổ
quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của
Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hòa giải
tranh chấp đất đai Thời hạn hòa giải là 30 ngày
làm việc kể từ ngày uỷ ban nhân dân cấp xã
nhận được đơn Kết quả hòa giải phải được lập
thành biên bản có chữ kí của các bên tranh chấp
và xác nhận của uỷ ban nhân dân xã, phường,
thị trấn Quy định như vậy là tương đối hợp lí,
thể hiện vai trò của chính quyền cấp cơ sở đồng thời xác nhận ý kiến của các bên trước chính quyền, trước các tổ chức đoàn thể, đảm bảo lòng
tự trọng và ý thức tự giác chấp hành về những vấn đề mà các đương sự đã thừa nhận
Giải quyết tranh chấp đất đai bằng hòa giải đảm bảo được quyền tự định đoạt cho các bên tham gia tranh chấp, phù hợp với truyền thống đạo lí tương thân tương ái của dân tộc, bảo đảm đoàn kết trong nội bộ nhân dân, giữ được tình làng nghĩa xóm Hơn nữa, những người tham gia hòa giải là những người cùng sống trong một cộng đồng dân cư, có quan hệ tương đối gần gũi thường xuyên với các bên tranh chấp, hiểu rõ được nguyên nhân dẫn tới tranh chấp, thậm chí
cả những vấn đề tế nhị Vì thế, khi có sự hướng dẫn, giúp đỡ, họ có thể đạt được sự thoả thuận,
tự nguyện giải quyết tranh chấp trên cơ sở công bằng và đúng pháp luật Đây là biện pháp mềm dẻo nhưng mang tính xã hội cao và đảm bảo được hiệu quả Nếu hòa giải thành có nghĩa là giải quyết xong vụ tranh chấp, không những hạn chế được sự phiền hà, tốn kém cho các bên đương sự mà còn giảm bớt được công việc cho các cơ quan có trách nhiệm giải quyết tranh chấp Đúng như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh thuở sinh thời: “Xét xử đúng là tốt nhưng không phải xét xử thì càng tốt” Và để đảm bảo cho công tác hòa giải đạt được kết quả tốt nên quy định trình tự, thủ tục và trách nhiệm, quyền hạn của các thành phần tham gia công tác hoà giải nhằm phát huy hơn nữa vai trò của các tổ chức, đoàn thể tại địa phương
- Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai Phát triển Điều 38 của Luật đất đai năm
1993, Điều 136 tiếp tục phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai giữa uỷ ban nhân
Trang 6dân và TAND dựa trên giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất và tranh chấp về tài sản có liên quan
tới đất:
“…1) Đối với tranh chấp về quyền sử dụng
đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử
d ụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy
định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này
và tranh ch ấp về tài sản có liên quan tới đất thì
do TAND gi ải quyết
2) Tranh ch ấp về quyền sử dụng đất mà
đương sự không có giấy chứng nhận về quyền
s ử dụng đất hoặc không có một trong các loại
gi ấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50
c ủa Luật này thì được giải quyết như sau:
a Tr ường hợp chủ tịch uỷ ban nhân dân
huy ện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải
s ự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có
quy ền khiếu nại đến chủ tịch uỷ ban nhân dân
t ỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải
quy ết; quyết định của chủ tịch uỷ ban nhân dân
t ỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết
định giải quyết cuối cùng
b Tr ường hợp chủ tịch uỷ ban nhân dân
t ỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết
l ần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự
không đồng ý với quyết định giải quyết thì có
quy ền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ tài nguyên và
môi tr ường; quyết định của Bộ trưởng Bộ tài
nguyên và môi tr ường là quyết định giải quyết
cu ối cùng.”
So với Điều 38 Luật đất đai năm 1993 thì
Điều 136 Luật đất đai năm 2003 đã có những
quy định cụ thể hơn và có sự tách bạch rõ ràng
về phạm vi thực hiện chức năng của hai hệ
thống cơ quan này, tránh tình trạng đùn đẩy
trách nhiệm giữa các cơ quan khi giải quyết
tranh chấp đồng thời mở rộng thêm thẩm quyền cho TAND và thu hẹp thẩm quyền giải quyết tranh chấp của uỷ ban nhân dân Uỷ ban nhân dân chỉ giải quyết những tranh chấp mà người
sử dụng đất không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không có những giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Loại tranh chấp này chỉ được giải quyết theo con đường hành chính và dừng lại ở hai cấp trong đó cấp thứ hai là cấp giải quyết cuối cùng Điều này khác với quy định trước đây là khi đương sự đã được giải quyết tranh chấp lần đầu mà họ không đồng ý với quyết định giải quyết đó thì có thể lựa chọn một trong hai con đường hoặc là tiếp tục khiếu nại lên cơ quan chính quyền cấp trên hoặc là khởi kiện ra toà dẫn đến tình trạng một tranh chấp đất đai sau khi đã được giải quyết ở cơ quan hành chính lại được đưa ra xét xử ở nhiều cấp toà án Đó là điều hết sức bất hợp lí mà Luật đất đai năm 2003 đã khắc phục được Tuy nhiên, đối tượng mà hệ thống uỷ ban nhân dân vẫn phải tiếp nhận để giải quyết tranh chấp hiện nay là những người sử dụng đất lâu dài nhưng không có các loại giấy tờ mà pháp luật quy định Đây chính là loại tranh chấp kéo dài nhất trong thực tế
Một vấn đề nữa cũng cần phải làm rõ mà cả Luật đất đai năm 1993 và Luật đất đai năm 2003 đều không đề cập một tình huống khi thụ lí vụ
án, nếu toà án phát hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng trình tự, thủ tục cũng như vi phạm những quy định khác của pháp luật thì được quyền ra quyết định hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vậy sau khi hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất toà án có tiếp tục giải quyết
vụ tranh chấp này hay không Nếu tiếp tục giải
Trang 7quyết thì trái với Điều 38 Luật đất đai năm
1993 và Điều 136 Luật đất đai năm 2003
Nhưng nếu hiểu là toà án đã thụ lí giải quyết với
vụ tranh chấp đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất mà trong quá trình đó phát
hiện ra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
không hợp lệ thì ra quyết định huỷ giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất và tiếp tục xét xử để
giải quyết vụ tranh chấp đất đai Như vậy, toà án
sẽ gặp không ít khó khăn khi không có đầy đủ
cơ sở pháp lí trong điều kiện hệ thống pháp luật
không đồng bộ
- Về giải quyết tranh chấp đất đai liên quan
đến địa giới hành chính
Điều 137 giữ nguyên như Điều 39 Luật đất
đai 1993 và có quy định thêm trách nhiệm của
Bộ tài nguyên và môi trường và các cơ quan
quản lí đất đai các cấp trong việc cung cấp các
tài liệu cần thiết và phối hợp với các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền để giải quyết các
tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành
chính Đây là quy định đối với đường địa giới
đã được hoạch định theo Chỉ thị số 364/CT
ngày 6/4/1991 của Chủ tịch Hội đồng bộ
trưởng về địa giới hành chính tỉnh, huyện, xã
Trong thực tế, nếu tuyến địa giới hành chính
chưa được hoạch định còn tranh chấp thì phải
giải quyết theo tinh thần của Chỉ thị số
364/CT chứ không phải thực hiện theo quy
định tại Luật đất đai
2 Về giải quyết khiếu nại đất đai
Pháp lệnh giải quyết khiếu nại, tố cáo được
ban hành năm 1991 và ngày 2/12/1998 Quốc
hội thông qua Luật khiếu nại, tố cáo, Nghị định
số 67/CP năm 1999 về hướng dẫn thi hành
Luật khiếu nại, tố cáo và Nghị định số 62/CP
năm 2002 về sửa đổi một số điều của Nghị
định số 67/CP Đó là những cơ sở pháp lí quan trọng để giải quyết vấn đề khiếu nại tố cáo nói chung và khiếu nại, tố cáo về đất đai nói riêng Điều 138 quy định việc giải quyết khiếu nại
về đất đai được thực hiện theo trình tự sau:
- Người sử dụng đất gửi đơn khiếu nại đến
uỷ ban nhân dân đã ra quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính bị khiếu nại, uỷ ban nhân dân đã ra quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính bị khiếu nại có trách nhiệm giải quyết lần đầu;
- Trường hợp đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu thì có quyền gửi đơn khiếu nại đến uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp hoặc khởi kiện ra TAND Quyết định giải quyết khiếu nại của uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp là quyết định giải quyết cuối cùng
- Trường hợp uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là cấp giải quyết khiếu nại lần đầu mà đương sự không đồng ý thì
có quyền khởi kiện ra TAND
- Việc giải quyết khiếu nại về đất đai không bao gồm trường hợp khiếu nại về quyết định hành chính giải quyết tranh chấp đất đai
Quy định như vậy đã khắc phục được điểm yếu trong Luật đất đai năm 1993 về giải quyết khiếu nại là: Tình trạng từ giải quyết tranh chấp đất đai lại chuyển sang giải quyết khiếu nại về quyết định hành chính; tách bạch giữa giải quyết khiếu nại về đất đai và giải quyết tranh chấp về đất đai; khắc phục được mâu thuẫn giữa Luật đất đai và Luật khiếu nại, tố cáo trong các quy định về giải quyết tranh chấp và giải quyết các khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lí đất đai
3 Về giải quyết tố cáo về đất đai
Được quy định trong Điều 139 Đây chỉ là
Trang 8quy định có tính chất dẫn chiếu Việc thực hiện
quyền tố cáo của công dân được giải quyết theo
quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo Quy
định như vậy là hợp lí song có thể bổ sung thêm
phần chủ thể được quyền tố cáo, không chỉ dừng
lại ở một loại chủ thể là cá nhân mà nên bổ sung
thêm: Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân cho phù
hợp với việc xác định các thành phần chủ thể
trong quan hệ pháp luật đất đai
Tóm l ại: Việc tranh chấp, khiếu nại, tố cáo
về đất đai đã và đang là vấn đề bức xúc ở nhiều
địa phương, đòi hỏi phải giải quyết một cách
nhanh chóng kịp thời để giữ vững trật tự xã hội
và an ninh chính trị, đặc biệt là xây dựng lòng
tin của nhân dân vào đường lối chính sách pháp
luật của Nhà nước Chắc chắn các quy định về
giải quyết tranh chấp khiếu nại, tố cáo về đất đai
trong Luật đất đai năm 2003 sẽ góp phần không
nhỏ vào sự nghiệp nói trên
Song bên cạnh đó theo chúng tôi vẫn còn
một số vấn đề cần phải được trao đổi thêm
Th ứ nhất: Điều 135 thể hiện sự khuyến
khích của Nhà nước đối với việc hoà giải tranh
chấp đất đai trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng tự
thoả thuận và lợi ích của nó như đã được phân
tích nhưng Điều 136 lại quy định: “Tranh chấp
đất đai đã được hòa giải tại uỷ ban nhân dân
xã, ph ường, thị trấn mà một bên hoặc các bên
đương sự không nhất trí thì được giải quyết như
sau:…” tiếp đó là sự phân định thẩm quyền giữa
uỷ ban nhân dân và TAND theo tiêu chí có hay
không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và
các loại giấy tờ khác mà pháp luật thừa nhận
Điều này cho chúng ta hiểu rằng hoà giải tranh
chấp đất đai là thủ tục bắt buộc đối với mọi
tranh chấp đất đai và chỉ khi đã trải qua thủ tục
đó mà không đạt được sự nhất trí thì các bên
đương sự mới có quyền yêu cầu cơ quan nhà
nước có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật
Th ứ hai: Tại khoản 2 Điều 136 chỉ quy định
thẩm quyền giải quyết tranh chấp của uỷ ban nhân dân khi các bên đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1,
2 và 5 Điều 50 mà không đưa ra căn cứ để xác định đối với vụ việc tranh chấp đất đai nào thuộc thẩm quyền giải quyết lần đầu của uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc của uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương như khoản 2 Điều 38 Luật đất đai năm 1993 Và như vậy đối với loại tranh chấp này đương sự sẽ không biết gửi đơn về đâu
để yêu cầu được giải quyết, uỷ ban nhân dân cấp huyện hay uỷ ban nhân dân cấp tỉnh? Có thể suy luận rằng thẩm quyền giải quyết loại tranh chấp này căn cứ vào thẩm quyền giao đất, cho thuê đất Cơ quan nào có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất đối với đối tượng nào thì có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai đối với đối tượng
đó Bởi vì đây là cơ quan quản lí đất đai khi giải quyết tranh chấp cơ quan này sẽ xác định ai là người có quyền sử dụng đất để công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho họ hoặc thu hồi phần đất sử dụng trái pháp luật Song sẽ là khó xác định nếu tranh chấp xảy ra giữa cá nhân, hộ gia đình với tổ chức Có lẽ cần phải có văn bản để hướng dẫn thêm về những vấn đề như vậy./
(1).Xem: Quyết định số 201/CP ngày 1/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về tăng cường thống nhất quản lí đất đai trong phạm vi cả nước
(2).Xem: Luật đất đai được Quốc hội khoá 8 kì họp thứ 3 thông qua ngày 29/12/1987, Nxb Bản đồ, năm 1997