1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mo hinh hoa bien doi canh quan

80 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, biến đổi sử dụng đất (land use change) nói chung và biến đổi cảnh quan (landscape change) nói riêng được các nhà khoa học trên thế giới công nhận là một trong những động lực quan trọng trong biến đổi khí hậu toàn cầu. Những hệ quả của biến đổi cảnh quan có thể được nhìn nhận trong nhiều vấn đề môi trường ở cả quy mô địa phương và toàn cầu. Trong Nghị định thư Kyoto, biến đổi cảnh quan được xem là một trong những nhân tố chính làm gia tăng khí nhà kính trong khí quyển. Các quá trình biến đổi cảnh quan như phá rừng để mở rộng đất nông nghiệp làm tăng cường xói mòn đất và lắng đọng trầm tích, dẫn tới các hệ quả tiêu cực là suy thoái và làm giảm khả năng sản xuất của đất, gây ô nhiễm nguồn nước mặt, tăng tai biến lũ cũng như làm suy giảm đa dạng sinh học. Do đó, biến đổi cảnh quan được xem là kết quả của mối tương tác phức tạp giữa các hoạt động phát triển cả trên phạm vi toàn cầu và địa phương với cấu trúc không gian của các yếu tố môi trường và xã hội. Nghiên cứu sâu tương tác giữa các nhân tố trên làđiều kiện cần thiết để đưa ra các dự báo tốt hơn về khả năng xảy ra biến đổi cảnh quan trong tương lai, đồng thời cung cấp cơ sở dữ liệu cần thiết để xác lập các chính sách sử dụng cảnh quan phù hợp (Liên Hiệp Quốc, 1998).

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong những năm gần đây, biến đổi sử dụng đất (land use change) nói chung

và biến đổi cảnh quan (landscape change) nói riêng được các nhà khoa học trên thế giới công nhận là một trong những động lực quan trọng trong biến đổi khí hậu toàn cầu Những hệ quả của biến đổi cảnh quan có thể được nhìn nhận trong nhiều vấn

đề môi trường ở cả quy mô địa phương và toàn cầu Trong Nghị định thư Kyoto, biến đổi cảnh quan được xem là một trong những nhân tố chính làm gia tăng khí nhà kính trong khí quyển Các quá trình biến đổi cảnh quan như phá rừng để mở rộng đất nông nghiệp làm tăng cường xói mòn đất và lắng đọng trầm tích, dẫn tới các hệ quả tiêu cực là suy thoái và làm giảm khả năng sản xuất của đất, gây ô nhiễm nguồn nước mặt, tăng tai biến lũ cũng như làm suy giảm đa dạng sinh học Do đó, biến đổi cảnh quan được xem là kết quả của mối tương tác phức tạp giữa các hoạt động phát triển cả trên phạm vi toàn cầu và địa phương với cấu trúc không gian của các yếu tố môi trường và xã hội Nghiên cứu sâu tương tác giữa các nhân tố trên là điều kiện cần thiết để đưa ra các dự báo tốt hơn về khả năng xảy ra biến đổi cảnh quan trong tương lai, đồng thời cung cấp cơ sở dữ liệu cần thiết để xác lập các chính sách sử dụng cảnh quan phù hợp (Liên Hiệp Quốc, 1998)

Là một phần quan trọng trong các hệ sinh thái ven biển nhiệt đới, rừng ngập mặn chiếm 146.530 km đường bờ biển trên thế giới (năm 2000), so với 198.000 km vào năm 1980 và 157.630 km vào năm 1990 Điều này có nghĩa rằng tốc độ rừng ngập mặn mất khoảng 2%/năm trong giai đoạn 1980 - 1990 và khoảng 1%/năm trong giai đoạn 1990 - 2000 (Roy và Lewis, 2005) Tiên Lãng là một huyện ven biển thuộc Thành phố Hải Phòng có các điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển rừng ngập mặn với khoảng 5.000 ha đất ngập nước, 10 km đường bờ biển, hai hệ thống sông Thái Bình và sông Văn Úc giàu phù sa Tuy nhiên trong những năm qua, biến đổi cảnh quan xảy ra mạnh mẽ theo xu thế nhiều diện tích rừng ngập mặn

đã bị phá hủy để phát triển nuôi trồng thủy sản Hệ quả là các dịch vụ sinh thái cũng như các chức năng sinh thái của rừng ngập mặn đều bị tác động theo hướng bất lợi

Xuất phát từ những lý do thực tiễn trên, đề tài khóa luận tốt nghiệp “Mô

hình hóa biến đổi cảnh quan huyện Tiên Lãng, Thành phố Hải Phòng trên cơ sở phân tích viễn thám, GIS và GRADIENT” được lựa chọn nghiên cứu và hoàn

thành

Trang 2

b) Nhiệm vụ

Để thực hiện mục tiêu của đề tài, các nhiệm vụ sau cần được hoàn thành:

- Tổng quan về cơ sở lý luận nghiên cứu sinh thái cảnh quan định lượng và hướng ứng dụng viễn thám, GIS và phân tích gradient trong mô hình hoá biến động cảnh quan

- Nghiên cứu các nhân tố hình thành và đặc điểm phân hóa cảnh quan phục

vụ nghiên cứu biến đổi cảnh quan

- Nghiên cứu hiện trạng và biến đổi cảnh quan trong các giai đoạn trên cơ sở

sử dụng các tư liệu viễn thám

- Nghiên cứu tác động của các nhân tố tự nhiên và ảnh hưởng của các nhân

tố kinh tế xã hội đến biến đổi cảnh quan

- Mô hình hoá xu thế biến đổi cảnh quan bằng phân tích GRADIENT (gradient analysis) dựa trên các mô hình độ đo Fractal và độ đo thông tin Các mô hình này là công cụ hữu dụng trong phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc, chức năng

và động lực của cảnh quan trong quá trình biến đổi cảnh quan ở khu vực nghiên cứu

- Đề xuất một số giải pháp quản lý bền vững cảnh quan

3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

a) Phạm vi không gian

Khu vực được lựa chọn nghiên cứu là toàn bộ ranh giới hành chính của huyện ven biển Tiên Lãng, bao gồm 22 xã và một thị trấn (thị trấn Tiên Lãng), nằm giữa cửa sông Văn Úc và cửa sông Thái Bình, thuộc thành phố Hải Phòng Khu vực này có khoảng 5.000 ha diện tích đất ngập nước và rừng ngập mặn với hơn 10 km đường bờ biển Địa hình đồng bằng tích tụ nguồn gốc sông - biển, đất phù sa phèn

và đất mặn chiếm ưu thế, khu vực nghiên cứu có nền kinh tế thuần nông trong thời gian dài Trong Thời kỳ Đổi mới, những biến đổi sử dụng đất do nuôi trồng thủy

Trang 3

sản, nổi cộm là hình thức nuôi trồng công nghiệp sử dụng một số trang trại quảng canh làm nảy sinh nhiều vấn đề môi trường như suy thoái đất, nguồn nước và đa dạng sinh học

b) Phạm vi khoa học

- Phân tích cấu trúc cảnh quan giới hạn ở đơn vị phân loại cơ sở là cấp loại cảnh quan (landscape type), đơn vị phân vùng cơ sở là cấp tiểu vùng cảnh quan (landscape sub-region)

- Mô hình hoá biển đổi cảnh quan giới hạn ở 2 khía cạnh: (i) mô hình hoá biến đổi cấu trúc ngang của cảnh quan (bằng phân tích gradient); (ii) mô hình hoá biến đổi cấu trúc đứng của cảnh quan (bằng mô hình lát cắt cảnh quan đa thời kỳ và

mô hình diễn thế sinh thái)

- Đề xuất giải pháp quản lý cảnh quan giới hạn trên cơ sở các kết quả nghiên cứu biển đổi cảnh quan và định hướng quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của huyện

- Số liệu thống kê về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu từ năm 1998 đến nay của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tiên Lãng

- Kết quả điểu tra, khảo sát cảnh quan ngoài thực địa vào tháng 3/2009

5 KẾT QUẢ CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài đạt được một số kết quả nghiên cứu chính sau:

1 Xây dựng các bản đồ chuyên đề tỷ lệ 1: 25.000: bản đồ địa chất (biên tập

từ bản đồ địa chất Hải Phòng tỷ lệ 1:100.000), bản đồ địa mạo, bản đồ thổ nhưỡng (biên tập và bổ sung từ bản đồ thổ nhưỡng Hải Phòng tỷ lệ 1:100.000), các bản đồ

Trang 4

3 Các bảng số liệu và đồ thị phân tích gradient biến đổi cảnh quan giai đoạn

1975 - 2008, bao gồm các bảng số liệu và đồ thị phân tích gradient theo lát cắt ngang (hướng 450B) và lát cắt dọc (hướng 1350B) độ rộng 2.000 m của lớp độ đo Fractal và độ đo thông tin

4 Các sơ đồ khác: 3 lát cắt cảnh quan đa thời kỳ hướng 1350B (năm 1975,

2001, 2005), sơ đồ diễn thế sinh thái nguyên sinh và phẫu đồ thảm thực vật của rừng ngập mặn khu vực ven biển Tiên Lãng

6 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

- Ý nghĩa khoa học: nghiên cứu của đề tài là 1 nghiên cứu điển hình của

hướng phân tích gradient trong sinh thái cảnh quan định lượng Ngoài ra nghiên cứu của đề tài còn góp phần phát triển lý luận sinh thái cảnh quan nhiệt đới gió mùa Việt Nam nhằm giải quyết các vấn đề sử dụng đất và biến đổi cảnh quan liên quan đến phát triển bền vững

- Ý nghĩa thực tiễn: Là tài liệu tham khảo cho địa phương trong việc hoạch

định tổ chức không gian và các giải pháp cho việc khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế xã hội bền vững Các mô hình sử dụng trong đề tài có thể được áp dụng nghiên cứu ở những lãnh thổ có điều kiện tương tự

7 CẤU TRÚC CỦA KHÓA LUẬN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, khoá luận gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu biến đổi cảnh quan

theo hướng tiếp cận sinh thái cảnh quan định lượng

- Chương 2: Đặc điểm phân hóa cảnh quan huyện Tiên Lãng

- Chương 3: Mô hình hoá biến đổi cảnh quan huyện Tiên Lãng

Trang 5

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI CẢNH QUAN THEO HƯỚNG TIẾP CẬN

SINH THÁI CẢNH QUAN ĐỊNH LƯỢNG

1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1.1 Các công trình nghiên cứu biến đổi sử dụng đất (land use change) và biến đổi cảnh quan (landscape change) trên thế giới và Việt Nam

Là một trong những vấn đề môi trường quan trọng nhất hiện nay, do đó các chủ đề của biến đổi sử dụng đất nói chung và biến đổi cảnh quan nói riêng ngày càng thu hút sự chú ý của các nhà khoa học cũng như các nhà hoạch định chính sách trên toàn thế giới Một trong những chương trình lớn nhất thuộc lĩnh vực này là

dự án Sử dụng Đất và Biến đổi lớp phủ Mặt đất (Land Use and Land Cover Change, LUCC) thực hiện trong giai đoạn 1993 - 2005 Hiện nay, dự án Đất đai Toàn cầu (Global Land) tiếp tục được triển khai Các dự án này tập trung nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của vấn đề hiện trạng và biến đổi sử dụng đất trên toàn thế giới ở cả quy mô địa phương và quy mô toàn cầu

Theo hướng tiếp cận sinh thái cảnh quan định lượng, các công trình nghiên cứu biến đổi sử dụng đất và biến đổi cảnh quan gần đây đã đề cập đến ứng dụng các

chiều Fractal (Fractal dimension) trong nghiên cứu động lực cảnh quan; các mô

hình không gian trong nghiên cứu biến đổi đất đai; sử dụng các độ đo không gian trong phân tích và mô hình hóa biến đổi cảnh quan đô thị; đặc trưng động lực biến đổi cấu trúc cảnh quan; phân tích Fractal và phân tích gradient cấu trúc cảnh quan

và mạng lưới sinh thái; phân tích ảnh hưởng của sự phân mảnh cảnh quan đến phục hồi thảm thực vật; ứng dụng bài toán entropy trong giám sát và đánh giá xu hướng phục hồi rừng (Tingbao và nnk., 1993; Pontius và nnk., 2004; Herold và nnk., 2005; Phạm Đức Úy và nnk., 2007; Nguyễn An Thịnh, 2008) [14, 25, 28, 31, 32, 33]

Trong môi trường nhiệt đới, một trong những mối quan tâm chính đối với biến đổi sử dụng đất và biến đổi cảnh quan là vấn đề suy giảm diện tích rừng Số liệu công bố của Tổ chức Lương nông Thế giới (FAO) cho thấy trong suốt thập kỷ

1990, diện tích rừng ở các nước nhiệt đới biến đổi theo hướng giảm mạnh, ước tính mất khoảng 15,2 triệu ha mỗi năm Đặc biệt, Đông Nam Á là một điểm nóng với

Trang 6

khoảng 0,71% diện tích rừng bị mất mỗi năm Hầu hết các công trình này đều đưa

ra nguyên nhân mất rừng ở châu Á là do phát triển nông nghiệp đa canh, bao gồm

cả vấn đề di cư khai thác vùng đất mới cũng như biến đổi dần dần của các diện tích đất nông nghiệp cố định và khai thác rừng Đây cũng được xem là những nguyên nhân quan trọng gây mất rừng ở Việt Nam nói riêng Áp lực tăng dân số và quyền

sở hữu đất rừng không rõ ràng dẫn đến việc mở rộng diện tích đất canh tác và mất rừng không những ở vùng núi và trung du mà ngay cả ở các khu vực ven biển của Việt Nam Trong những năm gần đây, chính phủ Việt Nam đã chú trọng nhiều đến công tác bảo vệ rừng, hệ quả là nâng cao được hiệu quả phục hồi rừng ở cả khu vực miền núi và ven biển (Nguyễn Xuân Tuấn và nnk., 2003; Castella và nnk., 2005)

Các công trình nghiên cứu khác gần đây đề cập đến đặc điểm của biến đổi sử dụng đất và biến đổi cảnh quan trong môi trường nhiệt đới, bao gồm cả biến đổi và phục hồi rừng ngập mặn ở khu vực ven biển: phân tích mối quan hệ giữa môi trường, biến đổi khí hậu và các hoạt động phát triển dựa trên ảnh vệ tinh giám sát động lực không - thời gian của vùng ven biển; phục hồi các khu rừng ngập mặn đã

bị phá hủy; sử dụng các mô hình động lực hệ thống để thiết kế môi trường phục hồi rừng ngập mặn; phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến các quần xã trong phục hồi rừng ngập mặn (Qin và nnk., 2008; Arquitt và nnk., 2008; Dtone và nnk., 2008) [19, 29] Tại Việt Nam, có một số công trình nghiên cứu cấu trúc, phân bố và diễn thế của các hệ sinh thái rừng ngập mặn trong nhiều vùng thuộc lãnh thổ Việt Nam; vai trò bảo vệ vùng ven biển và giảm nhẹ tai biến thiên nhiên của rừng ngập mặn; nghiên cứu quản lý tài nguyên biển và sử dụng phương pháp phân tích chi phí - lợi ích để ước tính giá trị kinh tế môi trường của rừng ngập mặn (Phan Nguyên Hồng, 1991; Nguyễn Hoàng Trí và nnk., 199l; Nguyễn Xuân Tuấn và nnk., 2003; Nguyễn Cao Huần và nnk., 2005) [6, 8] Chỉ có một số ít công trình đề cập đến hướng ứng dụng viễn thám và GIS trong nghiên cứu biến đổi cảnh quan ở vùng ven biển, ví dụ, đánh giá quá trình chuyển đổi rừng ngập mặn để phát triển nuôi trồng thủy sản ở một số khu vực đặc thù Ramsar như khu vực Xuân Thủy - Tiền Hải và khu Dự trữ Sinh quyển quần đảo Cát Bà (Karen và nnk., 2007; Nguyễn An Thịnh và nnk., 2009) [26, 33]

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về huyện Tiên Lãng

Liên quan đến khu vực nghiên cứu, chủ yếu là các công trình tập trung theo hướng nghiên cứu điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường, kinh tế xã hội, hiện trạng sử dụng đất và quy hoạch lãnh thổ

Trang 7

đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản vùng cửa sông Văn Úc và cửa sông Thái Bình nhắm định hướng bảo tồn và phát triền bền vững (Nguyễn Xuân Huấn, 2005) [7]; đa dạng sinh học thực vật cỡ lớn tại vùng cửa sông ven biển Tiên Lãng, Hải Phòng (Trần Ninh, Thạch Mai Hoàng, 2006) [5]

b) Các công trình nghiên cứu về điều kiện kinh tế xã hội: do đây là một

huyện kinh tế chưa phát triển cao của thành phố Hải Phòng nên hiện nay có rất ít các công trình nghiên cứu liên quan đến kinh tế xã hội Đáng kể nhất là một số công trình do UBND Thành phố Hải Phòng thực hiện về đánh giá chung hiện trạng kinh

tế xã hội của các quận, huyện, thị thuộc khu vực Đồ Sơn - Tiên Lãng (UBND thành Phố Hải Phòng, 2006); kinh tế công nghiệp và xây dựng của các quận, huyện thị thuộc khu vực Đồ Sơn - Tiên Lãng (UBND Thành phố Hải Phòng, 2006) [15]

c) Các công trình nghiên cứu về sử dụng đất: liên quan đến vấn đề sử dụng

đất, đã có một số công trình nghiên cứu về hiện trạng sử dụng đất vùng bờ biển Hải Phòng (Trần Kông Tấu, 2001) [10]; các đe dọa do con người đối với đa dạng sinh học vùng đất ngập nước triều ven bờ Tiên Lãng, Hải Phòng (Viện Hải dương học Hải Phòng, 2001) [18]; tổng quan về môi trường ven biển Thành phố Hải Phòng - thực trạng và giải pháp (Trần Đức Thạnh, 2006); báo cáo thuyết minh kết quả thống

kê đất đai huyện Tiên Lãng (Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tiên Lãng,

2005 - 2008) [16]

d) Các công trình nghiên cứu theo hướng quy hoạch lãnh thổ: liên quan đến

hướng quy hoạch lãnh thổ, có một số công trình như là quy hoạch phát triển nuôi

trồng thủy sản 6 xã ven biển huyện Tiên Lãng đến năm 2020 (UBND huyện Tiên Lãng, 2002); quy hoạch phát triển kinh tế biển các quận, huyện, thị thuộc khu vực

Đồ Sơn - Tiên Lãng (UBND Thành phố Hải Phòng, 2006); quy hoạch tổng thể các khu bảo tồn biển Thành phố Hải Phòng đến năm 2020 (Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải

Phòng, 2006) [15]; rà soát, điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Tiên Lãng, Thành phố Hải Phòng đến năm 2020 (UBND huyện Tiên Lãng, 2006) [16]

Trang 8

- Chỉ nghiên cứu riêng rẽ từng hợp phần và ở trạng thái tĩnh, chưa có công trình nghiên cứu tổng hợp theo hướng cảnh quan, động lực cảnh quan và biến đổi cảnh quan

Do vậy, nghiên cứu của đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở thừa kế những kết quả nghiên cứu chính của các công trình trước đây, đồng thời phát triển nghiên cứu theo hướng tổng hợp (nghiên cứu cảnh quan), động lực (đa thời gian bằng tư liệu ảnh viễn thám), trải rộng trên toàn lãnh thổ huyện Tiên Lãng

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI CẢNH QUAN THEO HƯỚNG TIẾP CẬN SINH THÁI CẢNH QUAN ĐỊNH LƯỢNG

1.2.1 Sinh thái cảnh quan và các khái niệm có liên quan

Định nghĩa đầu tiên trên thế giới về sinh thái cảnh quan (landscape ecology) được nhà địa sinh học người Đức là Carl Troll đưa ra năm 1939 dựa trên các nghiên

cứu của ông trên ảnh máy bay: “Sinh thái cảnh quan là khoa học nghiên cứu quan

hệ hệ thống phức tạp giữa các quần xã sinh vật (sinh quần lạc) với những điều kiện môi trường của chúng và các mối quan hệ này được thể hiện trong một cấu trúc cảnh quan đặc thù hoặc là một hệ thống phân loại không gian tự nhiên có thứ bậc"

(trích dẫn theo Steinhardt, 2002) [30]

Do hiện nay có nhiều cách tiếp cận khác nhau nên khái niệm cụ thể về sinh thái cảnh quan chưa thực sự thống nhất trên thế giới, đồng thời tồn tại nhiều trường phái nghiên cứu (trong đó có hai trường phái chính là Trung - Tây Âu và Bắc Mỹ) nhưng nhìn chung đều chú trọng nhiều đến các đặc trưng sinh thái học và nhân văn của cảnh quan

a) Các định nghĩa chú trọng đến đặc trưng sinh thái học của cảnh quan

Theo hướng này, các định nghĩa tập trung vào luận điểm cho rằng: ”Sinh thái

cảnh quan là khoa học tổng hợp và liên ngành nghiên cứu quan hệ giữa cấu trúc cảnh quan và các quá trình sinh thái trong phạm vi cảnh quan” Đây là luận điểm

Trang 9

quan trọng nhất của sinh thái cảnh quan lý thuyết Theo luận điểm này, một số định

nghĩa được các nhà sinh thái cảnh quan Bắc Mỹ và Trung - Tây Âu đưa ra:

- Forman (1986): “Sinh thái cảnh quan là khoa học nghiên cứu quan hệ

không gian giữa các hợp phần cảnh quan hoặc các hệ sinh thái; dòng năng lượng, dinh dưỡng khoáng và các loài trong các hợp phần; và động lực sinh thái của cảnh quan theo thời gian” [22, 23]

- Wiens (1995): “Sinh thái cảnh quan là bộ môn khoa học nghiên cứu những

ảnh hưởng của cấu trúc cảnh quan đến các quá trình sinh thái”

b) Các định nghĩa chú trọng đến đặc trưng nhân văn của cảnh quan

Theo hướng này, các định nghĩa tập trung vào luận điểm cho rằng: ”Sinh thái

cảnh quan là khoa học tổng hợp và liên ngành nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và cảnh quan” Luận điểm này công nhận vai trò của con người trong cảnh

quan và phương pháp luận hệ thống trong nghiên cứu những mối quan hệ sinh thái

Từ hệ quả của học thuyết quy mô (scale theory), việc công nhận vai trò của con

người trong thành tạo cảnh quan văn hóa trở thành một trong những luận điểm trung tâm của sinh thái cảnh quan

Định nghĩa của Zev Naveh và A.S Lieberman (1992): “Sinh thái cảnh quan

là một chuyên ngành trẻ của sinh thái học hiện đại nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với các cảnh quan tự nhiên và cảnh quan kỹ thuật”

c) Các định nghĩa về sinh thái cảnh quan của các nhà cảnh quan học Nga

và Đông Âu

Theo hướng này, các định nghĩa tập trung vào luận điểm: ”Sinh thái cảnh

quan là một hướng mới của địa lý tổng hợp và cảnh quan học”:

- K.N Deconov (1990): ”Sinh thái cảnh quan là một hướng mới trong

nghiên cứu cảnh quan học, xem xét môi trường hình thành của cảnh quan hiện đại, trong đó bao gồm cả cảnh quan nhân sinh và cảnh quan tự nhiên Ở đây con người được bao hàm như một bộ phận hợp phần của cảnh quan dưới dạng các sản phẩm của hoạt động kinh tế, và như là yếu tố ngoại sinh hình thành cảnh quan”

- Phạm Hoàng Hải (1992): “Sinh thái cảnh quan một hướng nghiên cứu địa

lý tổng hợp hay hướng nghiên cứu cảnh quan ứng dụng, trong đó đã có sự chú trọng đặc biệt đến khía cạnh các đặc trưng sinh thái của các địa tổng thể Đối tượng nghiên cứu là các đơn vị cảnh quan - sinh thái cụ thể, có nguyên tắc, phương

Trang 10

pháp nghiên cứu riêng và đặc biệt có quy luật phân hóa các đối tượng đó theo không gian lãnh thổ”

- Trên cơ sở thừa kế và tổng hợp các hướng nghiên cứu sinh thái cảnh quan

của các trường phái, Nguyễn An Thịnh (2006) đưa ra định nghĩa: "Sinh thái cảnh

quan là khoa học nghiên cứu tương tác giữa các hợp phần của đơn vị cảnh quan như các nhân tố sinh thái phát sinh có vai trò quyết định đến sự hình thành, phát triển của quần xã sinh vật và có ảnh hưởng đến sự phân bố cùng các hoạt động kinh tế của cộng đồng cư dân trong đơn vị cảnh quan đó" Các nhân tố sinh thái

phát sinh bao gồm mẫu chất, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng

Theo định nghĩa này, nghiên cứu sinh thái cảnh quan (STCQ) cần được thực hiện theo các nội dung:

+ Phân tích cấu trúc cảnh quan theo hướng sinh thái học

+ Nghiên cứu các quá trình sinh thái trong cảnh quan

+ Phân tích vai trò hình thành cảnh quan văn hóa của các yếu tố nhân văn

1.2.2 Biến đổi cảnh quan và các hệ quả sinh thái

a) Khái niệm biến đổi cảnh quan

Định nghĩa: ”Biến đổi cảnh quan (landscape change) là sự thay đổi cấu trúc

và chức năng sinh thái của cảnh quan theo thời gian” (Steinhardt, 2002) [30]

So sánh với khái niệm biến đổi sử dụng đất (chỉ sự biến đổi về loại hình và diện tích lớp phủ sử dụng đất), khái niệm biến đổi cảnh quan quan tâm đến sự biến đổi của đầy đủ các hợp phần trong cấu trúc đứng (bao gồm địa chất, địa mạo, thổ nhưỡng, khí hậu, thuỷ văn, lớp phủ thực vật hoặc lớp phủ sử dụng đất) hoặc những hợp phần dễ bị biến đổi (ví dụ các hợp phần địa hình, thổ nhưỡng, thảm thực vật đối với cảnh quan ven biển; các hợp phần thổ nhưỡng, thảm thực vật đối với cảnh quan miền núi)

Nguyên nhân gây biến đổi cảnh quan do tác động nhân sinh và nguyên nhân

tự nhiên Cảnh quan bị biến đổi đạt được cấu trúc mới hoặc mất đi cấu trúc cũ dưới ảnh hưởng của các yếu tố ngoại sinh hoặc sự phát triển nội tại Đây là quá trình nằm giữa các chuỗi sự kiện sau đây: (i) tác động đến cảnh quan → (ii) biến đổi cấu trúc cảnh quan → (iii) biến đổi chức năng sinh thái của cảnh quan

b) Phân loại biến đổi cảnh quan

Trang 11

Có 2 kiểu biến đổi cảnh quan chính: biến đổi đột ngột và biến đổi tuần tự:

- Biến đổi đột ngột: là biến đổi do thiên tai, tai biến (lửa, bão, lũ, động đất,

sóng thần, núi lửa, bệnh truyền nhiễm, )

- Biến đổi tuần tự: Bao gồm 3 dạng chính sau:

+ Biến đổi cảnh quan do sử dụng đất: nguyên nhân chính là do hoạt động

phát triển của con người, ví dụ: hoạt động phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, quần cư

+ Diễn thế sinh thái: Là quá trình phát triển tuần tự của hợp phần lớp phủ

thực vật của cảnh quan theo thời gian

+ Suy thoái cảnh quan: Sự suy giảm ổn định của các thuộc tính của cảnh

quan, đặc trưng bởi sự suy giảm khả năng thực hiện các chức năng tái sản xuất tài nguyên và môi trường Đây là quá trình ngược lại với diễn thế sinh thái Trong suy thoái cảnh quan, hai vấn đề cần quan tâm là suy thoái lớp phủ thổ nhưỡng (suy thoái đất) và suy thoái lớp phủ thực vật

c) Các quá trình không gian gây biến đổi cảnh quan và hệ quả sinh thái

Các quá trình không gian (spatial process) gây biến đổi cảnh quan có ảnh hưởng khác nhau đến cấu trúc cảnh quan: bị biến đổi và những hệ quả sinh thái:

- Quá trình xuyên qua: là quá trình không gian được đặc trưng bởi sự mất

diện tích cảnh quan ở vùng lõi Hệ quả làm tăng số lượng cảnh quan và tổng chiều dài ranh giới cảnh quan (tương tác +), làm giảm kích thước trung bình cảnh quan và diện tích nơi sống trong vùng lõi (tương tác -), không ảnh hưởng đến chiều dài đường biên (tương tác 0) Quá trình này được quan tâm đặc biệt trong nghiên cứu cảnh quan bảo tồn, do làm mất diện tích vùng lõi có giá trị làm nơi sống cho các loại sinh vật đặc chủng (quý hiếm)

- Quá trình chia cắt và phân mảnh: là các quá trình không gian trong biến

đổi cảnh quan được đặc trưng bởi sự hình thành nhiều cảnh quan có diện tích nhỏ từ một cảnh quan có diện tích lớn hơn, trong đó các cảnh quan mới hình thành có thể cách nhau bởi một môi trường nền (matrix) đối với quá trình phân mảnh hoặc không đối với quá trình chia cắt Hệ quả làm tăng số lượng và tổng chiều dài ranh giới cảnh quan (tương tác +), giảm kích thước trung bình cảnh quan và tổng diện tích nơi sống trong vùng lõi, liên kết về nơi sống của sinh vật (tương tác -)

Trang 12

- Quá trình co rút: là quá trình không gian làm giảm kích thước trung bình

cảnh quan mà không ảnh hưởng đến số lượng cảnh quan Hệ quả làm tổng diện tích nơi sống trong vùng lõi và tổng chiều dài ranh giới cảnh quan giảm (tương tác -)

- Quá trình biến mất: là quá trình không gian làm mất đi một số cảnh quan

Hệ quả làm tăng kích thước trung bình cảnh quan (tương tác +), giảm số lượng cảnh quan, tổng diện tích nơi sống trong vùng lõi và tổng chiều dài ranh giới cảnh quan (tương tác -)

Mỗi quá trình không gian này là nguyên nhân gây biến đổi cảnh quan và có

mối quan hệ chặt chẽ với các chỉ số độ đo cảnh quan cũng như nơi sống của sinh

vật Trong đó tất cả các quá trình này đều là nguyên nhân dẫn đến sự mất, suy giảm

nơi sống hoặc cách ly về nơi sống của sinh vật

Bảng 1.1 Các quá trình không gian trong biến đổi cảnh quan và một số hệ quả

cảnh quan và hệ quả sinh thái

Quá trình

không gian

Hệ quả cảnh quan (các độ đo cấu trúc cảnh quan)

Hệ quả sinh thái Nơi sống

Số lượng cảnh quan

Kích thước cảnh quan

Tổng diện tích lõi

Tổng chiều dài đường biên

(trong đó ”+” là tăng, ”- ” là giảm, ”0” là không ảnh hưởng)

1.2.3 Mô hình hoá biến đổi cảnh quan theo tiếp cận sinh thái cảnh quan định lượng

Là một trong 3 chuyên ngành quan trọng nhất của sinh thái cảnh quan (bao gồm STCQ lý thuyết, STCQ ứng dụng và STCQ định lượng), sinh thái cảnh quan

Average patch size

Total interior habitat

Connec -tivity

Total boundary length

Habitat Mất Cách ly

Average patch size

Total interior habitat

Connec -tivity

Total boundary length

Habitat Mất Cách ly

Average patch size

Total interior habitat

Connec -tivity

Total boundary length

Habitat Mất Cách ly

Average patch size

Total interior habitat

Connec -tivity

Total boundary length

Habitat Mất Cách ly

Average patch size

Total interior habitat

Connec -tivity

Total boundary length

Habitat Mất Cách ly

Trang 13

định lượng là hướng ứng dụng các mô hình toán trong khảo sát mối quan hệ giữa cấu trúc cảnh quan và các quá trình sinh thái Hướng này được phát triển mạnh từ năm 1981 với công trình “Sinh thái Cảnh quan định lượng” của Forman và Godron [22] Trong đó mô hình PMC (patch - matrix - core) được phát minh để khảo sát định lượng của cảnh quan

a) Mô hình biến đổi cảnh quan

Lý thuyết sinh thái cảnh quan định lượng chỉ ra rằng, các quá trình không gian (xuyên qua, chia cắt, phân mảnh, co rút và biến mất) là nguyên nhân quan trọng gây biến đổi cảnh quan Chính vì vậy, các mô hình độ đo cảnh quan được sử dụng để nghiên cứu sự biến đổi đó thông qua các chỉ số hình thái, độ đa dạng, độ liên kết cảnh quan Mô hình độ đo cảnh quan được xây dựng dựa trên 2 chỉ số cơ bản là chu vi và diện tích của cảnh quan, là các yếu tố đóng góp quan trọng với mô hình cảnh quan nói chung và hoạt động liên kết của các quá trình sinh thái

Trên cơ sở quan điểm này, Chen-Fa Wu và Yu Pin Lin (2006) đưa ra một mô hình biến đổi cảnh quan và khả năng mô hình hoá biến đổi cảnh quan trên cơ sở phân tích định lượng mối quan hệ giữa cấu trúc, chức năng và động lực cảnh quan [20]

Hình 1.1 Mô hình giả thiết về biến đổi cảnh quan

(nguồn: Chen-Fa Wu và Yu Pin Lin, 2006) [20]

b) Các lý thuyết toán học được sử dụng xây dựng mô hình gradient

(i) Hình học Fractal (Fractal geometry)

Động ực

Các độ đo cảnh quan

- Số lượng và diện tích cảnh quan

- Biên (Edge) và hình dạng (shape)

Chức năng Cấu

t úc

Trang 14

Các độ đo Fractal ứng dụng trong nghiên cứu sinh thái cảnh quan được xây dựng dựa trên cơ sở hình học Fractal, do Mandelbrot (1977) sáng tạo nhằm mô tả những hình thái phức tạp của các sự vật tự nhiên, ví dụ đường bờ, sông, núi, Hình học Fractal có ưu thế mô tả hình dáng bất định hoặc chia cắt của mọi đối tượng phức tạp trong tự nhiên mà hình học Ơclit không làm được

Ứng dụng của Fractal chủ yếu dựa vào ước lượng số chiều Fractal (Fractal dimension, được ký hiệu là D), là một tham số quan trọng được phát triển trong hình học Fractal để đo tính bất định của đối tượng Một số phương pháp được đề xuất để tính toán giá trị D cho các đối tượng như bề mặt địa hình và bề mặt cường

độ hình ảnh Tuy nhiên, hầu hết các phương pháp đều có những hạn chế về lý thuyết cũng như ứng dụng Một số nghiên cứu cho thấy các phương pháp khác nhau khi ứng dụng đều cho các giá trị D khác nhau cho cùng một đối tượng Bogaert (2000) đưa ra công thức tính số chiều Fractal cho các đối tượng sinh thái cảnh quan trong không gian:

A

P D

ln

)4ln(

2

với P là chu vi và A là diện tích của đối tượng

Công thức này có khả năng tính cho mọi đối tượng có hình dạng bất kỳ với kết quả là số thực Trong khi đó, số chiều Ơclid chỉ tính được cho các đối tượng chuẩn với giá trị là số tự nhiên 0, 1, 2, 3

Hình 1.2 So sánh giá trị chiều không gian của các đối tượng sinh thái cảnh

quan trong hình học Ơclid (a) và hình học FRACTAL (b)

(ii) Lý thuyết thông tin (Informatics theory)

Năm 1928, R.V.L Hartley đưa ra số đo lượng thông tin - khái niệm trung tâm của lý thuyết thông tin - so sánh định lượng cách truyền tin với nhau Lý thuyết

Trang 15

thông tin phát triển mạnh trong cuối thập kỷ 1940 khi C.E Shanon công bố khái

niệm lượng thông tin và tính toán cấu trúc thống kê của thông tin

Ngày nay, lý thuyết thông tin được phát triển theo hai hướng:

- Lý thuyết thông tin toán học: xây dựng những cơ sở toán học của lý thuyết

thông tin

- Lý thuyết thông tin ứng dụng: ứng dụng lý thuyết thông tin trong khoa học

truyền tin và mở rộng sang các khoa học kỹ thuật và khoa học sự sống khác

Dựa trên lý thuyết thông tin, C.E Shannon đã xây dựng định nghĩa về entropy để thoả mãn các giả định sau:

- Entropy phải tỷ lệ thuận liên tục với các xác suất xuất hiện của các phần tử ngẫu nhiên trong tín hiệu Thay đổi nhỏ trong xác suất phải dẫn đến thay đổi nhỏ trong entropy

- Nếu các phần tử ngẫu nhiên đều có xác suất xuất hiện bằng nhau, việc tăng

số lượng phần tử ngẫu nhiên phải làm tăng entropy

- Có thể tạo các chuỗi tín hiệu theo nhiều bước, và entropy tổng cộng phải

bằng tổng có trọng số của entropy của từng bước

(K là một hằng số, chỉ phụ thuộc vào đơn vị đo; n là tổng số các giá trị có thể nhận của tín hiệu; i là giá trị rời rạc thứ i; p(i) là xác suất xuất hiện của giá trị i.)

(iii) Toán tử gradient (gradient operator)

Toán tử là một hàm tác động lên các hàm khác Trong giải tích vector, gradient của một trường vô hướng là một trường vector có hướng về phía mức độ tăng lớn nhất của trường vô hướng, và có độ lớn là mức độ thay đổi lớn nhất

Giả sử f là một hàm số từ R n

đến R nghĩa là f(x) = f (x 1 , x 2 ,…,x n ) Theo định

nghĩa, gradient là một vector cột mà thành phần là vi phân từng phần của f

Gradient còn có thể được dùng để đo sự thay đổi của một trường vô hướng theo những hướng khác, không chỉ hướng có sự thay đổi lớn nhất

n

i

i p i p K x H

1

) ( log ) ( )

(

Trang 16

Phân tích gradient sử dụng các lớp độ đo Fractal và lớp độ đo thông tin để

mô hình hoá xu thế biến đổi cảnh quan theo thời gian và không gian

Bảng 1.2 Các chỉ số độ đo Fractal và độ đo thông tin sử dụng trong phân tích

3 Lớp độ đo diện tích lõi

(Core Area Metrics)

Trang 17

(trong đó (*) là lớp độ đo thông tin)

1.2.4 Ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS trong nghiên cứu biến đổi cảnh quan

Viễn thám (Remote sensing - RS) là một ngành khoa học có lịch sử phát triển

từ phân tích dữ liệu ảnh hàng không, ảnh vệ tinh, ảnh hồng ngoại nhiệt và ảnh radar Viễn thám được hiểu là một khoa học và nghệ thuật để thu thập thông tin về một đối tượng, một khu vực hoặc một hiện tượng thông qua việc phân tích tư liệu thu nhận được bằng các phương tiện Các định nghĩa viễn thám của Ficher (1976), A Land

Trang 18

Grete (1978), Floy Sabin (1987), Capbell (1996), Nguyễn Ngọc Thạch (1997) [12] đều nhấn mạnh rằng: “Viễn thám là khoa học thu nhận từ xa các thông tin về các đối tượng, hiện tượng trên Trái Đất”

Công nghệ viễn thám với nhiều vệ tinh mới như Landsat (Hoa Kỳ), Spot

(Pháp), IRS (Ấn Độ), ADEOS (Nhật), có độ phân giải phổ, phân giải không gian

và phân giải thời gian ngày càng cao cho phép theo dõi các đối tượng trên bề mặt Trái Đất và tính chất của chúng một cách nhanh chóng, chính xác

Hệ thông tin địa lý (Geographical Information System - GIS) ra đời từ những

năm đầu của thập kỷ 60 thế kỷ XX do nhu cầu kiểm kê nguồn tài nguyên thiên nhiên và quản lý đô thị Bắc Mỹ GIS phát triển trên cơ sở kế thừa những kiến thức

cơ bản của ngành Bản đồ học, thông tin không gian cập nhật từ viễn thám Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về GIS như các định nghĩa của Dueker (1979), Ozemoy (1981), Burough (1986), Almo (1998), Carol (1998), nhưng nhìn chung các định nghĩa này được chia ra làm hai nhóm quan niệm (i) GIS là một công cụ tính toán,

xử lý thông tin không gian có tọa độ địa lý và (ii) GIS là một hệ thống xử lý thông tin trợ giúp người quản lý khi đưa ra quyết định

GIS là công cụ cơ bản như là nền móng để thực hiện các mô hình và dữ liệu

thực, chuyển hóa các thông tin từ phân tích ẩn sang phân tích hiện Và trong các nghiên cứu biến đổi cảnh quan cũng như biến đổi các thành phần cấu trúc cảnh quan (thảm thực vật, thổ nhưỡng, phân bố động vật,…) công cụ GIS đã được sử dụng để

xử lý dữ liệu không gian biến đổi Nhờ khả năng phân tích không gian, thời gian và

mô hình hoá, GIS có thể cho phép tạo ra những thông tin có giá trị gia tăng cho các

thông tin được triết xuất từ các dữ liệu vệ tinh đó (Burrough và nnk., 1998) Bằng

phương pháp phân tích không gian, sử dụng các tư liệu viễn thám đa thời gian và phương pháp phân tích thống kê kết hợp với các dữ liệu bổ trợ, hiện trạng sử dụng đất cũng như lớp phủ thực vật sẽ dễ dàng được phát hiện từ ảnh vệ tinh Việc tích hợp và xử lý các lớp thông tin qua các năm sẽ đánh giá được biến đổi trong giai đoạn nghiên cứu, từ đó làm sáng tỏ mối quan hệ giữa biến đổi sử dụng tài nguyên

và biến đổi các hoạt động kinh tế

Hiện nay, GIS và viễn thám đang được ứng dụng rộng rãi trong việc theo dõi

những biến đổi bề mặt Trái Đất, quản lý tài nguyên và môi trường, trong đó nghiên cứu hiện trạng lớp phủ thực vật và hiện trạng sử dụng đất là những ứng dụng phổ biến nhất Dựa vào các tư liệu về bản đồ địa hình, ảnh Landsat, ảnh Spot đã có, thông qua nắn chỉnh hình học, xây dựng chú giải bản đồ, xây dựng khóa giải đoán,

Trang 19

điều vẽ trong phòng, kiểm tra thực địa, có thể đưa ra sản phẩm là bản đồ hiện trạng

sử dụng đất hay bản đồ hiện trạng lớp phủ thực vật của khu vực nghiên cứu

Đối với khu vực huyện Tiên Lãng, trước tiên sử dụng ảnh viễn thám để giải đoán bản đồ lớp phủ thực vật phục vụ thành lập bản đồ cảnh quan các thời kỳ, sau

đó sử dụng phương pháp GIS tích hợp với phân tích Gradient để khảo sát xu thế biến đổi cảnh quan trong giai đoạn 1975 - 2008

1.3 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

a) Quan điểm nghiên cứu

- Quan điểm hệ thống: coi khu vực huyện Tiên Lãng như một địa hệ thống,

được hình thành từ mối quan hệ tương hỗ giữa các yếu tố tự nhiên (địa chất, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng, sinh vật) và các yếu tố xã hội, các hình thức sử dụng tài nguyên (công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản ) Toàn bộ hệ thống này có sự hoàn chỉnh về cấu trúc và thống nhất về chức năng (chức năng kinh

tế, hành chính, xã hội, sinh thái )

- Quan điểm tổng hợp: dựa trên quan điểm tổng hợp, đề tài đã nghiên cứu

khu vực huyện Tiên Lãng một cách tương đối toàn diện với đầy đủ các yếu tố cũng như các quá trình biến đổi tự nhiên (địa chất, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng, sinh vật ) và các yếu tố kinh tế xã hội, các loại hình phát triển, các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên (hoạt động nông - lâm - ngư, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các hoạt động nhân sinh khác )

- Quan điểm lịch sử: các hợp phần tự nhiên tồn tại, phát triển theo quy luật

riêng của chúng nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau Khi nghiên cứu tự nhiên trên quan điểm này chúng ta sẽ biết được lịch sử phát sinh, phát triển của chúng trong mối tương quan giữa các yếu tố với nhau Trên cơ sơ đó

có biện pháp sử dụng hợp lý, cải tạo và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

- Quan điểm phát triển bền vững: trong quá trình phát triển kinh tế xã hội

diễn ra ở khu vực huyện Tiên Lãng ngày càng bộc lộ những mâu thuẫn giữa việc khai thác, sử dụng tài nguyên và vấn đề bảo vệ môi trường Vì vậy, khi đề xuất định hướng cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên cần phải chú ý tới ảnh hưởng

của các hoạt động trên tới môi trường

b) Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu được lựa chọn trong đề tài bao gồm:

Trang 20

- Phương pháp thu thập, thừa kế các tài liệu về đặc điểm điều kiện tự nhiên,

các tài liệu quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, khai thác tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Đây là phương pháp quan trọng trong phòng, cho phép tổng quan các tài liệu sẵn có và biết được khái quát về lãnh thổ nghiên cưu

- Phương pháp khảo sát cảnh quan ngoài thực địa: Thu thập, cập nhật các

dữ liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và hoạt động khai thác sử dụng tài nguyên trên khu vực, các dữ liệu được cập nhật đến năm 2009 Điều tra ô tiêu chuẩn, điều tra xã hội học, sử dụng máy đo nhanh chất lượng nước

- Phương pháp phân tích các bản đồ thành phần: Việc phân tích các bản đồ

thành phần là một bước đi rất quan trọng giúp đưa ra những đánh giá tổng quan Đề tài đã áp dụng phương pháp phân tích các bản đồ thành phần, trên cơ sở tổng hợp các thông tin thu được trên bản đồ địa chất, địa mạo, thổ nhưỡng, hiện trạng sử dụng đất để có được những nhận xét đánh giá tổng hợp về khu vực nghiên cứu Đây cũng là phương pháp quan trọng trong thành lập bản đồ cảnh quan

- Phương pháp viễn thám và GIS: Sử dụng dữ liệu chính là bản đồ địa hình

dạng số và ảnh vệ tinh Các ảnh vệ tinh được nắn chỉnh hình học, xử lý và hiển thị bằng phần mềm ENVI 4.5 (the Environment for Visualizing Images, version 4.5, USA) Các ảnh này được nắn chỉnh hình học bằng phương pháp “Hàm đa thức - Láng giềng gần nhất” (Polynomial - Nearest Neighbor Method, Select GSPs: Image

to Map) và phân loại có kiểm định theo hàm xác suất cự đại (Supervised Classification - Maximum Likelihood) Cuối cùng là phần mềm ArcGIS 9.3 (ArcGIS/ArcInfo, release version 9.3 ESRI, Redlands, California, USA) và phần mềm MapInfo 9.5 (MapInfo Professional, version 9.5, Pitney Bowes MapInfo, USA) được sử dụng để xây dựng các bản đồ hợp phần và bản đồ biến đổi cảnh quan

từ các bản đồ hiện trạng cảnh quan ở các thời kỳ trên

1.4 CÁC BƯỚC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Các bước nghiên cứu đề tài được khái quát trong 4 giai đoạn chính sau

Giai đoạn 1: Chuẩn bị cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc nghiên cứu biến đổi cảnh quan khu vực huyện Tiên Lãng:

- Xác định mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu: Bước đầu xác định những yêu cầu thực tiễn để định hướng nội dung và các bước nghiên cứu cụ thể, từ đó xác định các nhu cầu thông tin cần thiết để đáp ứng được nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra

Trang 21

- Thu thập và tổng hợp tài liệu: Các thông tin trong phòng (bản đồ khu vực nghiên cứu, các tài liệu, các công trình đã được công bố có liên quan đến nội dung nghiên cứu…), các thông tin qua khảo sát và nghiên cứu ngoài thực địa

- Phân tích, xử lý để chọn lọc ra các thông tin có liên quan và có giá trị sử dụng: đánh giá điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên (vị trí địa lý, địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật…), các quá trình biến đổi tự nhiên đặc trưng (xói mòn và bồi tụ đất, thu hẹp cảnh quan rừng, ), phân tích tình hình phát triển kinh tế xã hội (hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên, hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động nhân sinh…)

Giai đoạn 2: Phân tích đặc điểm phân hoá và hiện trạng sử dụng cảnh quan:

- Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và đặc điểm phân hóa cảnh quan

- Đánh giá hiện trạng kinh tế xã hội và hiện trạng sử dụng cảnh quan

- Thành lập các bản đồ hợp phần tự nhiên, bản đồ cảnh quan và bản đồ kinh

tế xã hội chung ở tỷ lệ 1:25.000

Giai đoạn 3: Nghiên cứu hiện trạng và biến đổi cảnh quan cũng như tác

động của các nhân tố địa lý tự nhiên và ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế xã hội

đến biến đổi cảnh quan:

- Nghiên cứu hiện trạng và biến đổi cảnh quan trong các giai đoạn trên cơ sở

sử dụng các tư liệu viễn thám và các phần mềm GIS

- Nghiên cứu các nhân tố địa lý tự nhiên và các nhân tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến biến đổi cảnh quan

Giai đoạn 4: Mô hình hoá biến đổi cảnh quan

- Phân tích FRACTAL và phân tích GRADIENT: Trước tiên, tiến hành phân tích FRACTAL của biến đổi cảnh quan trong một khu vực xác định để làm rõ các đặc trưng khái quát theo các chỉ số độ đo cảnh quan Sau đó, sử dụng các độ đo cảnh quan để tiến hành phân tích GRADIENT bằng “phương pháp cửa sổ dịch chuyển” (moving window) bằng phần mềm FRAGSTATS 3.3 (Kevin McGarigal, 2002) Kết quả cho phép chỉ ra những biến đổi về không gian và thời gian và làm rõ vai trò của các nhân tố ảnh hưởng đến biến đổi cảnh quan Cuối cùng, liên kết phân tích gradient với các động lực sử dụng đất sẽ giúp nhận diện rõ ràng cấu trúc sử

Trang 22

- Các kết quả phân tích hiện trạng và biến đổi cảnh quan, phân tích Fractal và phân tích gradient sẽ là những cơ sở khoa học phục vụ đề xuất định hướng quản lý cảnh quan

Nghiên cứu hiện trạng

và biến đổi cảnh quan

Xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Giai đoạn 1

Chuẩn bị cơ sở

dữ liệu

Thu thập, phân tích và chọn lọc thông tin

Tư liệu viễn thám

và GIS

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến biến động cảnh quan

Tính các chỉ số độ đo và phân tích Gradient

Đề xuất giải pháp quản lý cảnh quan

Phương án quy hoạch của huyện

Kiểm nghiệm kết quả với thực tế

đúng

sai

Lát cắt cảnh quan Diễn thế sinh thái

Trang 23

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM PHÂN HÓA CẢNH QUAN HUYỆN TIÊN LÃNG

2.1 KHÁI QUÁT LÃNH THỔ NGHIÊN CỨU

với đường bờ biển kéo dài hơn 10 km qua 5 xã là Hùng Thắng, Vinh Quang, Đông Hưng, Tây Hưng và Nam Hưng

Được bao bọc bốn mặt bởi sông và biển (sông Văn Úc, sông Thái Bình, sông Mới và phần còn lại tiếp giáp với biển Đông), tạo cho huyện Tiên Lãng ưu thế phát triển nông nghiệp trồng cây lương thực, nuôi trồng thủy sản, bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn ven biển… Ngoài ra, khu vực tây bắc của huyện (bao gồm các xã Đại Thắng, Tiên Cường và Tự Cường) có đường quốc lộ 10 chạy qua, là một tuyến đường có ý nghĩa quan trọng cả về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng, lại khá gần với khu du lịch Đồ Sơn - Cát Bà đã tạo điều kiện cho khu vực này phát triển đô thị và dịch vụ

Tuy nhiên, vị trí của huyện Tiên Lãng cũng tạo ra những bất lợi trong phát triển kinh tế xã hội Đây là một huyện ven biển, cách xa trung tâm thành phố Hải Phòng, giao thông khó khăn (nhiều cầu phà), gây ra những khó khăn trong liên hệ phát triển kinh tế cũng như trao đổi hàng hóa Ngoài ra, khu vực này thường chịu ảnh hưởng của các tai biến thiên nhiên như bão, xâm nhập mặn, xói lở bờ biển

2.1.2 Lịch sử phát triển lãnh thổ

Những đặc điểm tự nhiên tại huyện Tiên Lãng là kết quả của những tác động qua lại giữa các hợp phần diễn ra trong suốt lịch sử phát triển của tự nhiên Sự phát triển lãnh thổ của khu vực này nằm trong khung cảnh chung của đồng bằng Bắc Bộ,

là một châu thổ bồi đắp phù sa Đệ tứ của sông Thái Bình và sông Hồng Trong thời

kỳ Holocen tại khu vực này đã diễn ra trên nền kiến trúc hình thái được thiết lập từ

Trang 24

trước do hoạt động tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại quy định Thuộc phần tây nam bán đảo Đồ Sơn, quá trình tiến hóa của khu vực huyện Tiên Lãng được phân chia

thành 3 thời kỳ và 7 giai đoạn với những biến đổi môi trường trầm tích [13]

Bảng 2.1 Các thời kỳ, giai đoạn tiến hóa địa chất ven bờ khu vực nghiên cứu

Thời kỳ Giai đoạn Môi trường trầm tích

QIV1-2

1 Môi trường lục địa

(Nguồn: Trần Đức Thạnh, 1993)

a) Thời kỳ Holocen sớm giữa (11.000 - 3.000 năm trước)

Ở thời kỳ này biển tiến chân tĩnh có vai trò chủ đạo đối với quá trình ngập chìm ven bờ, làm biến đổi nhanh chóng từ môi trường lục địa sang môi trường ven biển, đẩy lùi đường bờ về phía lục địa Vào cuối thời kỳ, mực nước chân tĩnh dâng chậm hẳn, vai trò chuyển động kiến tạo và tích tụ trầm tích được tăng cường, biển lùi, đường bờ di chuyển về phía biển Thời kỳ này được chia thành 3 giai đoạn:

- Giai đoạn 1 (khoảng 11.000 - 7.000 năm trước): cơ bản tồn tại môi trường

lục địa Tại đây chỉ xảy ra các quá trình xâm thực, bóc mòn, rửa trôi và phong hóa các sản phẩm của hệ tầng Vĩnh Phúc lộ ra trên mặt Đến khoảng 7.000 - 8.000 năm trước, biển tiến vào vùng bờ ngầm hiện nay và vùng đồng bằng ven bờ, làm nâng cao mực xâm thực cơ sở, xâm thực ngang mở rộng lòng sông tạo nên các bãi bồi ven sông và xâm thực sâu yếu đi

- Giai đoạn 2 (khoảng 74.000 năm trước): môi trường trầm tích là biển nông ven bờ Vào nửa đầu giai đoạn, khoảng 7000 - 5600 năm trước, đường bờ tiếp tục di chuyển nhanh về phía lục địa, môi trường lục địa chuyển thành môi trường biển nông ven bờ Vào nửa sau giai đoạn (khoảng 5600 - 4000 năm), xuất hiện hệ đê cát kéo dài từ Quảng Yên - Núi Đèo đến tận Khởi Nghĩa (Tiên Lãng) đánh dấu quá trình biển lùi bắt đầu Quá trình lắng đọng trầm tích bắt đầu có khả năng đền bù ngập chìm và phát triển chế độ châu thổ Trong giai đoạn này đã hình thành lớp

Trang 25

và châu thổ ngầm) và biển nông trước châu thổ

b) Thời kỳ thứ hai, holocen muộn (3.000 đến 5 - 7.000 năm trước)

Trong thời kỳ này, sự dâng cao mực nước chân tĩnh vẫn rất quan trọng nhưng tốc độ giảm hẳn Chuyển động kiến tạo có ý nghĩa lớn đối với tương quan ngập chìm, nổi cao Đặc biệt, quá trình lắng đọng trầm tích với tốc độ đáng kể đã trở thành động lực quan trọng đền bù quá trình ngập chìm Do ưu thế của quá trình bồi tụ, vào cuối thời kỳ chế độ môi trường châu thổ thống trị khu vực

- Giai đoạn 1, đầu Holocen muộn (khoảng 32.000 năm trước) Đây là giai đoạn biển lấn trở lại, có thể liên quan đến quá trình sụt hạ kiến tạo mở rộng với tốc

độ khá mạnh ở ven bờ Hải Phòng Ở khu vực tây nam, đường bờ dịch về phía lục địa vượt quá dải núi Kiến An, thiết lập lên chế độ biển nông ven bờ

- Giai đoạn 2, giữa Holocen muộn (khoảng 21.000 năm trước) Chế độ bồi tụ châu thổ khá nhanh theo mặt cắt ngang, chuyển dần từ châu thổ ngầm sang châu thổ nổi về phía lục địa Đây là giai đoạn chủ yếu hình thành lớp trầm tích bãi triều lầy

cổ màu xám xanh chứa nhiều mùn bã hữu cơ và lưu huỳnh dạng khử

- Giai đoạn 3, (khoảng 1.000 đến 500 - 700 năm trước), môi trường cửa sông châu thổ Trong giai đoạn này, mực nước chân tĩnh nâng nhanh dần Tuy nhiên, đường bờ vẫn tiếp tục di chuyển ra phía biển do bồi lấn mạnh Vào cuối giai đoạn,

hệ đê cát 4 cao 2 - 2,5 m được hình thành kéo dài từ Bàng La đến Đại Hợp sang Hùng Thắng (Tiên Lãng), cấu tạo bởi cát hạt nhỏ màu từ xám đến xám vàng chứa nhiều vỏ sò, ốc biển

c) Thời kỳ thứ 3, cuối Holocen muộn (khoảng 500 - 700 năm trước)

Thời kỳ này ngắn, quá trình bồi tụ châu thổ hiện đại vẫn tiếp tục, đường bờ lấn ra biển nhưng có xu hướng chậm lại Đặc biệt, đây là giai đoạn xuất hiện dải đất bồi Bàng La - Vinh Quang trong chế độ bồi tụ châu thổ, ngập chìm có đền bù bồi tích Ngoài độ sâu 6m là đới prodelta tương đối đồng nhất trên dải ven biển Tiên Lãng nói riêng, thành phố Hải Phòng nói chung

Trang 26

- Trầm tích biển tuổi Holocen sớm giữa, hệ tầng Hải Hưng (mQ IV 1-2 hh): bề

dày trầm tích từ một vài mét đến trên 10 m, nguồn gốc biển, thành phần cát, bột, sét màu từ xám đến xám vàng, phân bố chủ yếu trên mặt đồng bằng ở độ cao phổ biến

từ 1,54 m phía tây bắc huyện Tiên Lãng

- Trầm tích sông-biển tuổi Holocen muộn, hệ tầng Thái Bình (amQ IV 3 tb):

thành phần trầm tích là cát, cát lẫn bột sét chứa nhiều vỏ sò hến, nguồn gốc sông - biển, dày trên 5 m, tạo nên lớp phù sa màu nâu xám, dày dưới nửa mét, phân bố phổ biến trên bề mặt đồng bằng hiện nay

- Trầm tích sông tuổi Holocen muộn, hệ tầng Thái Bình (aQ IV 3 tb): thành

phần trầm tích chủ yếu hạt mịn như cát nhỏ, cát bột thạch anh, đôi chỗ là bột sét màu từ xám đến xám xanh, nguồn gốc sông, dày từ 1 - 5 m, phân bố rộng rãi ở các đồng bằng cao < 2 m, dọc theo các con sông và các vùng triều trên phần lớn lãnh thổ huyện Tiên Lãng

- Trầm tích hạt mịn (cát, bùn, bùn cát) đáy biển ven bờ (S, M, sM): phân bố ở

vùng cửa sông ven biển huyện Tiên Lãng, tuổi hiện đại, thành phần chủ yếu là bùn, bột sét, ít phổ biến hơn là cát, bùn cát và bùn sét, kết cấu mềm, nhão, dễ bị khuấy đục và tái lắng đọng, gây sa bồi luồng bến Khoáng vật trong trầm tích này chủ yếu

là thạch anh, fenpas, mica, ngoài ra còn xuất hiện khoáng vật clorit, oxit sắt, các mảnh đá phiến xerixit, đá phiến limonit hay mùn bã hữu cơ thực vật

* Tài nguyên khoáng sản: Hai dạng tài nguyên khoáng sản chủ yếu ở huyện

Tiên Lãng là nước khoáng và sét Mỏ nước khoáng nằm ở xã Bạch Đằng, có chất lượng tốt, đạt tiêu chuẩn cao, đây là một tiềm năng lớn của huyện, nếu khai thác và

sử dụng hợp lý nó sẽ mang lại hiệu quả không nhỏ về kinh tế và xã hội Trong nhiều năm nay đất sét là nguồn nguyên liệu chủ yếu được khai thác để làm gạch ngói, song không tập trung mà phân bố rải rác ở các xã Kiến Thiết, Tiên Tiến, Quang Phục, Tiên Minh

2.2.2 Đặc điểm địa mạo

Trang 27

Nhìn tổng thể, địa hình huyện Tiên Lãng là một đồng bằng châu thổ trũng thấp, nhưng do vị trí nằm ở ven biển nên địa hình chung của Tiên Lãng tương đối phức tạp, bị chia cắt nhiều bởi hệ thống sông ngòi, kênh rạch Địa hình có bề mặt lồi lõm, gò bãi xen kẽ với đầm lạch, ao hồ, có hướng thấp dần từ tây bắc xuống đông nam Dựa vào nguồn gốc thành tạo địa hình và các đặc trưng hình thái, độ cao, thành phần trầm tích cấu tạo bề mặt địa hình có thể phân chia địa hình ven bờ Tiên Lãng ra một số dạng địa hình chính sau:

- Đồng bằng tích tụ nguồn gốc biển: phân bố phía Tây Bắc huyện Tiên Lãng,

có địa hình bằng phẳng, độ cao khoảng 1,5 m, thành phần trầm tích chủ yếu là bột sét, có lớp thổ nhưỡng tốt và hiện nay đồng bằng này đang được hỗ trợ để phát triển

cây lâu năm

- Đồng bằng tích tụ nguồn gốc sông-biển: phân bố phổ biến tại khu vực

trung tâm huyện Tiên Lãng, có thành phần chủ yếu là bộ sét Trên bề mặt là lớp phù

sa màu nâu xám, thích hợp tốt cho việc trồng rau màu

- Đồng bằng tích tụ nguồn gốc sông: ít chịu ảnh hưởng thủy triều, có thành

phần trầm tích chủ yếu là cát bột, cao trung bình 0,5 - 15 m Hầu hết đồng bằng này

là cánh đồng lúa trong đê, một số ít do trũng thấp nên được sử dụng làm đầm nuôi

- Các val cát cổ: nổi cao trên đồng bằng từ 0,5 - 1,0 m là những khu dân cư

hoặc những vùng trồng màu xen lẫn

- Hệ thống đê cát cổ: có thành phần trầm tích chủ yếu là cát nhỏ, độ cao

trung bình 2,53 m Chúng có hình dạng kéo dài và song song với đường bờ Ở các giai đoạn thành tạo khác nhau, chúng hình thành nên các hệ đê cát bờ khác nhau như hệ đê cát Toàn Thắng, Tiên Thắng, Hùng Thắng và Vinh Quang

- Val cát, doi cát hiện đại: các val cát, doi cát đang hình thành tạo đảo cát

chắn cửa sông có thành phần trầm tích là cát nhỏ, bột lớn, độ cao 1,8 - 1,9 m, chỉ lộ

ra khi mực triều thấp

- Bãi triều cao: độ cao trung bình 1,9 - 2,5 m, phân bố thành dải sát chân đê

sông và đê biển, hiện đang được tích tụ yếu khi triều lên và khi ngập lũ Trên mặt bãi phát triển nhiều loại thực vật ngập mặn mọc tự nhiên hoặc trồng như bần, ô rô, cói Thành phần trầm tích chủ yếu là bùn bột nhỏ và bùn sét bột

- Bãi triều thấp: có độ cao <1,9 m, trung bình 1,1 - 1,5 m, phân bố thành dải

bao phía ngoài bãi triều cao, thành phần trầm tích chủ yếu là bột lớn, bùn bột nhỏ và không có thực vật ngập mặn

Trang 28

- Đồng bằng tích tụ châu thổ ngầm: từ 0 m đến độ sâu -6 m

- Địa hình lòng sông và lạch triều không phân chia: bao gồm các lòng sông

và lạch triều, đặc biệt là ba con sông lớn là sông Văn Úc, sông Thái Bình và sông Mới chảy bao quanh huyện Tiên Lãng

- Các địa hình nhân sinh: chính là hệ thống đê sông, biển, đầm nuôi, kè

chống xói lở, cống tưới tiêu và hệ thống kênh đào Hệ thống đê ngăn mặn được đắp cao tương đối so với mặt bãi bồi, bãi triều 33,5 m dọc hai bên bờ sông và cao 56 m, sát mép bãi triều nổi ngang các đê dọc sông Phía ngoài đê ngăn mặn, trên các bãi triều cao là các đầm nuôi hải sản nước lợ với đê đầm được quai đắp phổ biến cao 3,54 m

2.2.3 Đặc điểm khí hậu

a) Đặc điểm chung

Khu vực huyện Tiên Lãng nằm ở phía tây nam thành phố Hải Phòng, mang những nét chung của vùng khí hậu ven biển Bắc Bộ và những nét riêng của vùng đồng bằng trũng thấp không có đồi núi, có 3 tính chất đặc trưng chính

- Tính chất nhiệt đới nóng ẩm: Nhiệt độ trung bình năm 23 - 24ºC, tổng

lượng bức xạ hàng năm 105 - 115 kcal/cm2, cao nhất vào tháng V (12,25 kcal/cm2

)

và tháng VII (11,29 kcal/cm2); thấp nhất vào tháng II (5,8 kcal/cm2) Độ ẩm trung bình năm cao 82,5% và lượng mưa trung bình năm 17 - 19 mm

- Tính phân hóa mùa: Khí hậu thể hiện hai mùa rõ rệt: màu hè (từ tháng V

đến tháng IX) và mùa đông (từ tháng XI đến tháng III năm sau) Tháng IV và tháng

X có khí hậu chuyển tiếp Nhiệt độ trung bình mùa đông 17 - 18ºC Tháng lạnh nhất

là tháng giêng với nhiệt độ trung bình dưới 17ºC Mùa lạnh trùng với mùa ít mưa (lượng mưa tháng dưới 100 mm) hướng gió gió bắc, đông bắc và đông, chủ đạo là hướng gió đông bắc Nhiệt độ trung bình mùa hè 27 - 28ºC Mùa hè trùng với mùa mưa nhiều (lượng mưa tháng trên 100 mm) chiếm khoảng 78% so với tổng lượng mưa cả năm và hướng gió thịnh hành là đông và đông nam

- Tính biến đổi: Khí hậu khu vực ven bờ huyện Tiên Lãng luôn biến đổi

mạnh do nhiễu động của các yếu tố thời tiết như lốc, bão, áp thấp nhiệt đới Mỗi năm khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp của 1 đến 2 trận bão và gián tiếp của 2 đến 3 trận bão hoặc áp thấp nhiệt đới khác, trung bình 2,5 cơn/năm Bão thường có gió thổi mạnh tới 30 - 40 m/s, khi gió giật mạnh có thể trên 50 m/s Hầu hết bão đổ bộ vào lúc triều thấp, hiếm khi bão đổ bộ trùng vào thời gian triều cường Khi bão gặp

Trang 29

kè và làm biến dạng mạnh mẽ bờ

b) Đặc trưng một số yếu tố khí hậu

- Hoàn lưu khí quyển và chế độ gió: Huyện Tiên Lãng nằm trong sự chi phối

của chế độ gió mùa Đông Nam, tại đây hoàn lưu tín phong của vùng cận chí tuyến

bị nhiễu loạn và thay thế bằng một dạng hoàn lưu phát triển theo mùa Mùa đông (tháng XI đến tháng III năm sau), khu vực chịu ảnh hưởng chủ yếu của khối không khí cực đới biến tính được hình thành từ vùng Siberia (Nga) tràn về phía nam, hướng gió thịnh hành là đông bắc, bắc và đông, các hướng khác chiếm tần suất rất nhỏ, vận tốc gió trung bình đạt 3,2 - 3,7 m/s Mùa hè (tháng V đến tháng IX), huyện Tiên Lãng chịu ảnh hưởng của các luồng không khí nóng và ẩm từ phía tây và nam tràn qua Hướng gió thịnh hành chủ yếu là đông, đông nam và nam, tốc độ gió trung bình đạt 3,5 - 4,0 m/s, cực đại đạt 20 - 25 m/s, đôi khi xuất hiện các đợt gió tây nam tuy có tốc độ nhỏ nhưng đem lại thời tiết khô nóng

Hình 2.1 Biểu đồ trung bình lượng mưa các tháng (mm)

- Mưa và bốc hơi: Huyện Tiên Lãng nằm trong vùng khí hậu có tính chất

nhiệt đới, mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều và mùa đông khô lạnh mưa ít Tổng lượng mưa cả năm dao động trong khoảng 1600 - 2000 mm nhưng phân bố không đều theo mùa Lượng mưa cao nhất rơi vào tháng 8 (có thể đạt tới 235 mm), thấp nhất vào tháng 12, khoảng 16 mm Tổng số ngày mưa trong năm đạt 100 - 150 ngày, tập

Trang 30

trung chủ yếu vào các tháng mùa hạ Trong mùa khô (tháng XI đến tháng IV),

lượng mưa nhỏ không đáng kể, tổng lượng mưa chỉ đạt 297 mm; đầu mùa khô, mỗi

tháng có 7 - 8 ngày mưa, đến các tháng cuối mùa tăng lên 10 - 12 ngày mưa Mùa

mưa (tháng 5 đến tháng 10), tổng lượng mưa thường đạt trên 1700 mm, chiếm 80 -

90% tổng lượng mưa trong cả năm; mưa nhiều nhất tập trung vào các tháng 8 - 9, số

ngày mưa trong các tháng mùa mưa thường trên 10 ngày Tổng lượng bốc hơi hằng

năm của khu vực Hải Phòng đạt trung bình 700 - 750 mm; các tháng X, XI là thời

kỳ khô hanh, nắng nhiều nên lượng bốc hơi lớn nhất trong năm, đạt trên 80 mm;

vào các tháng III, III lượng bốc hơi thấp, chỉ trên 30 mm

- Nắng và bức xạ nhiệt: Huyện Tiên Lãng có số giờ nắng trung bình năm vào

khoảng 1600 - 1800 giờ Số giờ nắng lớn nhất thường xuất hiện vào tháng VII và

tháng IX, số giờ nắng ít nhất thường vào tháng II Hằng năm có hai lần mặt trời đi

qua thiên đỉnh vào trước và sau ngày hạ chí gần một tháng, tổng lượng bức xạ mặt

trời khá cao, bức xạ thực tế hàng năm đạt 105 - 115 kcal/cm2; cao nhất vào tháng V

(12,25 kcal/cm2) và tháng VII (11,29 kcal/cm2), thấp nhất vào tháng II (5,8

kcal/cm2)

Hình 2.2 Biểu đồ nhiệt độ (ºC) và độ ẩm (%) các tháng trong năm

- Nhiệt độ và độ ẩm không khí: Chế độ nhiệt trong huyện Tiên Lãng chịu ảnh

hưởng rõ rệt của hai hệ thống gió mùa: gió mùa đông bắc khô lạnh, gió mùa tây

nam nóng ẩm Nhiệt độ không khí trung bình năm dao động trong khoảng 22,5 -

23,5ºC Mùa hạ nóng, nền nhiệt độ trung bình đạt trên 25ºC kéo dài từ tháng V đến

tháng IX, nhiệt độ cao nhất có thể đạt 35 - 40ºC, thường xuất hiện vào tháng VII

Mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, kéo dài từ tháng XI năm trước

đến tháng III năm sau, nhiệt độ trung bình 18 - 20ºC, nhiệt độ thấp nhất có thể

Trang 31

xuống dưới 10ºC Độ ẩm trung bình hằng năm trong vùng biến đổi từ 82 - 84%, nhìn chung độ ẩm không khí có xu hướng tăng dần từ bắc xuống nam và từ ngoài khơi vào bờ; tháng IV là tháng độ ẩm có giá trị cao nhất (khoảng 90 - 91%) Giá trị

độ ẩm nhỏ thường xuất hiện vào các tháng 10 đến tháng 1 (khoảng 73 - 77%)

Bảng 2.2 Đặc trưng của một số yếu tố khí tượng tại trạm Hòn Dấu

- Hiện tượng thời tiết đặc biệt: Do sự luân phiên tranh chấp của các khối

không khí có bản chất khác nhau nên thời tiết và khí hậu khu vực Tiên Lãng thường xuyên biến đổi, được thể hiện qua biến đổi của nhiệt độ không khí Khi khối không khí lạnh tràn về, nhiệt độ sau 24 giờ có thể giảm từ 8 - 10ºC, gây ra rét lạnh đột ngột Mặt khác, khi áp thấp nóng phía tây xâm lấn mạnh thì xuất hiện gió tây nam

và thời tiết khô nóng, nhiệt độ trung bình đạt tới 30 - 32ºC, cao nhất có thể đạt 37 -

40ºC Tiên Lãng nằm trong vùng có bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ nhiều, trung

bình hằng năm có 1 - 2 cơn bão và áp thấp đổ bộ trực tiếp, 3 - 4 cơn bão và áp thấp khác gián tiếp ảnh hưởng đến vùng ven biển; thời kỳ bão đổ bộ trực tiếp vào Tiên Lãng tập trung trong các tháng 7 đến tháng 9; khi bão đổ bộ vào ven biển thường kèm theo nước dâng Dông, lốc, mưa đá, mưa lớn tuy chỉ xuất hiện trong thời gian ngắn nhưng thường gây ra những hậu quả nặng nề cho người và tài sản ở vùng ven biển; hàng năm khu vực Tiên Lãng có khoảng 40 - 45 ngày có dông, chủ yếu vào mùa hạ (các tháng IV và VI); khi có dông, lượng mưa trong 1 - 2 giờ lên tới 180 -

200 mm, có thể xuất hiện lốc xoáy với tốc độ rất lớn (100 - 200 m/s) trong khoảng 5

- 10 phút Ngoài ra, trong quá trình các dòng khí bốc nhanh lên cao, dễ có hiện

tượng hơi nước bị hoá băng do đoạn nhiệt mạnh, gây ra mưa đá

2.2.4 Thuỷ hải văn

Trang 32

a) Thủy văn mặt

Khu vực đồng bằng ven biển thấp trũng huyện Tiên Lãng có mật độ sông, kênh, mương tương đối dày đặc Toàn bộ lãnh thổ có ba con sông bao quanh là sông Thái Bình, sông Văn Úc và sông Mới, trong đó khu vực ven biển nằm giữa hai cửa sông Văn Úc và cửa sông Thái Bình

- Sông Thái Bình là ranh giới phân chia giữa huyện Tiên Lãng với Thái Thụy

và huyện Vĩnh Bảo Với chiều dài gần 40 km, rộng trung bình 300 m, sâu 3,5 m đã từng là một nhánh sông lớn của miền Bắc, sau sông Hồng, nay đoạn từ sông Mới tới Quý Cao dài 5 km đã bị bồi lấp hẳn thành bãi bồi Lượng nước thượng nguồn sông Thái Bình chảy về không trực tiếp đổ ra được cửa Thái Bình mà phải chảy qua sông Gùa và sông Mới chảy vào sông Văn Úc rồi đổ ra cửa Văn Úc Phần lớn nước sông Luộc qua sông Mới sang sông Văn Úc, một phần nhỏ nước sông Luộc chảy vào sông Thái Bình và thoát ra biển qua cửa Thái Bình Do vậy lòng sông Thái Bình càng trở nên hẹp hơn và tốc độ dòng chảy ngày càng nhỏ, sự bồi lắng cũng ngày càng tăng lên Sông Thái Bình có tốc độ dòng chảy trung bình 0,6 m/s, rộng trung bình 150 m, sâu trung bình 3 m, ở vùng cửa sông dòng chảy yếu hơn và nông hơn Lượng dòng chảy sông Thái Bình chỉ đạt bình quân 73 m3/s Về mùa lũ, tổng lượng

lũ một ngày có thể lên 74 x 106

m3 Dòng chảy nhỏ nhất xuất hiện vào tháng II và tháng III

- Sông Văn Úc nằm ở phía đông bắc huyện Tiên Lãng với chiều dài 30 km,

có độ dốc nhỏ, uốn khúc nhiều, đoạn từ xã Minh Đức đến cửa Văn Úc lòng sông được mở rộng hơn Khu vực bến Khuể, lòng sông có nhiều gò và bãi ngầm, tốc độ dòng chảy trung bình 1,2 m/s, độ rộng lòng trung bình 400 m, độ sâu trung bình 8

m Ở sát cửa sông, tốc độ dòng chảy nhỏ hơn, lòng sông rộng hơn Lưu lượng trung bình năm 506 m3/s, chiếm 60% tổng lượng nước sông Thái Bình Tổng lượng nước của một ngày mùa lũ đạt cao nhất 294 x 106

m3 Tốc độ dòng chảy nhỏ nhất xuất hiện vào tháng II và tháng III

- Sông Mới có chiều dài gần 3 km, chiều rộng trung bình là 100 m Sông Mới

nối liền với sông Thái Bình và sông Văn Úc, tạo thành tuyến giao thông đường thủy quan trọng từ cảng Hải Phòng tới các nơi khác trong vùng đồng bằng sông Hồng

Hàng năm sông Văn Úc và sông Thái Bình đổ ra biển khoảng 18 tỷ m3

nước

và khoảng 13 triệu tấn bùn cát Độ đục lớn nhất xuất hiện vào các con lũ đầu mùa

và con lũ lớn, tháng VII và tháng VIII có độ đục trung bình nhiều năm 1000 g/m3

Trang 33

Lượng bùn cát của sông đưa ra chủ yếu gây bồi lắng vùng cửa sông hình thành nên các đảo chắn cửa sông, bãi ngầm và bãi bồi ngập triều Độ mặn của nước sông thay đổi theo mùa Vào mùa hè, nước sông có độ mặn nhỏ và mùa đông, nước sông có

độ mặn cao Trong một ngày, biến trình độ mặn tương tự và xuất hiện sau 12 giờ so với biến trình triều Tại một vị trí, độ mặn tăng từ mặt nước xuống đáy sông di sự xâm nhập mặn vào sâu trong sông theo dạng hình nêm Vào mùa mưa, giá trị pH nằm trong khoảng từ 5,7 đến 8,2, trung bình tầng mặt là 7,5 và tầng đáy là 7,4 Mùa khô, nước có độ pH cao hơn, giá trị trung bình chỉ số pH của cả cột nước là 7,8 Nước vùng biển ven bờ có hàm lượng oxy hòa tan cao, dao động từ 5,5 - 7,7 mg/l trong mùa mưa và 6,3 - 8,9 mg/l trong mùa khô Dầu, chất bảo vệ thực vật chứa clo

và kim loại nặng là những tác nhân chính gây ô nhiễm nghiêm trọng cho vùng nước mặt khu vực huyện Tiên Lãng

Bảng 2.3 Đặc điểm thủy văn của các hệ thống sông

Tên sông Chiều dài

(km)

Chiều rộng TB (m)

Độ sâu TB (m)

Nước ngầm ở huyện Tiên Lãng trữ lượng thấp, do là một huyện ven biển nên

nước ngầm bị nhiễm mặn, chất lượng không đảm bảo cho sinh hoạt và sản xuất

c) Hải văn

- Thủy triều và mực nước: Vùng biển bờ Tiên Lãng có chế độ nhật triều đều

khá thuần nhất Trong nửa tháng có tới 11 ngày nhật triều (mỗi ngày có một lần nước đầy, một lần nước nhỏ) với biên độ triều lớn và 3 ngày bán nhật triều (mỗi

ngày có hai lần triều lên, hai lần chiều xuống), biên độ triều nhỏ (Bảng 2.4)

- Sóng biển: Sóng cũng có đặc điểm theo mùa rất rõ Vào mùa đông hay mùa

gió đông bắc (từ tháng X đến tháng III năm sau), sóng thịnh hành hướng đông với tấn suất hơn 40%, độ cao trung bình 0,7 m, cực đại 2,2 m Vào mùa hè hay mùa gió tây nam (từ tháng V đến tháng VIII), sóng hướng nam thịnh hành với tần suất 43%

Tháng VII, tần suất sóng hướng đông tới 18% (Bảng 2.5)

Trang 34

Bảng 2.4 Mực nước ven bờ Tiên Lãng được lấy theo trạm Hòn Dấu

- Dòng chảy: Dòng chảy tổng hợp bao gồm các thành phần dòng chảy triều,

dòng chảy sông, dòng gió và dòng sóng Dòng chảy triều chiếm ưu thế thuận nghịch, hướng chảy thường được ngược nhau 180º và song song với đường bờ hoặc lòng lạch cửa sông Ở sườn bờ ngầm, dòng có tốc độ 20 - 30 cm/s về mùa đông và

10 - 20 cm/s về mùa hè, cực đại 60 cm/s khi triều xuống và 50 cm/s khi triều lên Ở các vùng cửa sông và luồng chính trước cửa sông, dòng triều toàn nhất có tốc độ tới

70 - 100 cm/s Khi chảy ra tới cửa, tố độ dòng chảy sông giảm đi rất nhiều Tại cửa sông Thái Bình và Văn Úc, tốc độ dòng chảy sông chỉ đạt 0,1 - 0,3 m/s, cực đại 0,75 m/s rồi sau đó bị triệt tiêu dần Dòng chảy tổng hợp ở vùng cửa sông có tốc độ cực đại tới 22,5 m/s vào mùa hè do kết hợp dòng lũ với dòng triều xuống cùng hướng; vào mùa đông, dòng chảy ở vùng cửa sông yếu hơn nhưng cũng có tố độ lớn

ở nửa chu kỳ nước rút khi các thành phần dòng chảy cùng hướng Dòng chảy ven

bờ có tốc độ 2530 cm/s, hướng về phía tây nam khi mùa khô; và nó có tốc độ 1520 cm/s, hướng về phía đông bắc khi mùa mưa

1.2.5 Thổ nhưỡng

Trang 35

- Nhóm đất phèn (S), có 1 loại đất: (3) Đất phèn hoạt động mặn (Sj-m)

- Nhóm đất phù sa (P), gồm 2 loại đất: (4) Đất phù sa chua (Pc), (5) Đất phù

sa glây (Pg)

b) Đặc điểm các loại đất

- Đất mặn trung bình và ít (M): Có diện tích 3.964 ha (chiếm 25,32% tổng

diện tích đất tự nhiên), tập trung nhiều ở vùng đất bồi ven biển phía bên trong và bên ngoài đê biển Ngoài ra còn phân bố chạy dọc ven bờ hai con sông lớn là sông Văn Úc và sông Thái Bình Đất ở đây đỡ mặn hơn là do thường xuyên được trao đổi nước mạch với sông, những nơi có sự trao đổi mạnh như ở vùng cửa sông hay vùng

có nhiều sông nhỏ ăn vào thì đất ở đây độ mặn giảm đi nhiều Đồng thời do ảnh hưởng của phù sa nên đất có độ phì nhiêu cao, hàm lượng chất hữu cơ giao động khoảng từ 14%, NPK tổng số thì giao động từ giàu đến nghèo, thành phần cơ giới từ cát pha (b) ở vùng cửa sông, ven biển đến thịt nhẹ (c) ở dọc hai bên bờ sông Hiện nay trên đất này đang được sử dụng để nuôi trồng thủy sản nước lợ, trồng cói, trồng rừng ngập mặn tái sinh, còn phần ít thì trồng lúa

- Đất mặn nhiều (Mn): Có diện tích 492 ha (chiếm 3,14 % tổng diện tích đất

tự nhiên), phân bố chủ yếu ở bãi triều ngập nước ven biển hai xã Tiên Hưng và Đông Hưng Đất ở đây có độ mặn cao thường là do nước mặn từ ngoài biển lấn vào qua các đợt thủy triều và các luồng lạch Mùa khô đất ở đây mặn hơn mùa mưa và

ranh giới đất mặn dịch chuyển gần giáp đê biển Đất có thành phần cơ giới cát (a)

Đất này ít được sử dụng, thường bị bỏ trống làm bãi leo đậu tàu thuyền, phần nhỏ sát ven biển có rừng bần thuần tự nhiên, vào bên trong thì có rừng phi lao được trồng tái sinh Hiện nay, trên khu vực này đang có dự án quy hoạch phát triển du

lịch biển

- Đất phèn hoạt động mặn (S j-m): Phân bố rộng khắp trên toàn huyện Tiên

Lãng phía bên trong đê biển, có diện tích lớn 10.565 ha (chiếm 67.5% tổng diện tích đất tự nhiên) Đất phèn này bị nhiễm mặn nên còn được gọi là đất mặn chua (Mc) Độ pH trong đất dao động từ 3,5 - 4,5; hàm lượng chất hữu cơ khoảng

Trang 36

34%; các anion SO4-2 dao động từ 0,14 - 0,28%, Cl- từ 0,01 - 0,1%; thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt trung bình; lân tổng số và lân dễ tiêu nghèo, ngoài ra đất chuyên trồng lúa bị glây trung bình toàn phẫu diện.Trên đất này diễn ra nhiều hoạt động nhân sinh như làm nơi quần cư, trồng lúa, trồng màu, Trong những năm qua, một số diện tích đất đã được cải tạo trên tầng canh tác, muốn sử dụng tốt loại

đất này trong nông nghiệp thì cần phải bón vôi và bón lân

- Đất phù sa chua (Pc): Có diện tích 595 ha chiếm (3,8% tổng diện tích đất

tự nhiên) phân bố tại đồng bằng tích tụ đa nguồn tuổi Holocen muộn hệ tầng Thái Bình (a, amQIV3tb) ở phía trong đê và tập trung tại đồng bằng tích tụ nguồn gốc biển tuổi holocen sớm - giữa hệ tầng Hải Hưng Đất phù sa ở đây có đặc tính chua, do nguồn gốc thạch học của các đá tạo nên lưu vực sông Thái Bình là những khoáng vật kém bền vững bị phong hóa mạnh, do thung lũng sông tương đối hẹp nên phần nhiều sản phẩm feralit hoá , các chất dễ hòa tan trong đất gồm các cation kiềm và kiềm thổ bị rửa trôi, trong đất tích lũy nhiều ion Al3+

và Fe3+ Quá trình feralit ở đây phát triển sâu sắc cho nên tầng đất dày, thành phần cơ giới thịt nhẹ (c) đến trung bình (d) Hiện nay trên loại đất này được trồng một số loại rau màu như cà chua, hành tỏi, cải bắp với năng suất cao và cây ăn quả lâu năm như nhãn, vải Để tạo năng suất cao hơn, người dân đã có một số biện pháp cải tạo như bón vôi rửa chua

- Đất phù sa glây (Pg) : Chỉ chiếm một diện tích nhỏ (37 ha chiếm 0,24%

tổng diện tích đất tự nhiên), xuất hiện chủ yếu trên địa bàn xã Tiên Thanh Đất bị glây rất mạnh do ngập úng nước lâu dài Đất có dạng bùn lầy nhão, thành phần cơ giới thịt nhẹ (c); đất bị nhiễm chua, nặng mùi, có màu xanh đen, tích lũy nhiều Fe2+

và Mn2+ và các khí gây độc cho cây như CH4, H2S, Trước đây, đất này bị bỏ hoang, hiện nay đang được chính quyền địa phương cho tiến hành san lấp để xây

dựng các công trình công công

2.2.6 Thực vật

Theo hệ thống phân loại thảm thực vật theo sinh thái phát sinh, thảm thực vật khu vực nghiên cứu được xếp vào kiểu thảm thực vật cây lá rộng nhiệt đới gió mùa, phân hóa tương đối đơn giản, bao gồm các phụ kiểu nhân tác thứ sinh và nuôi trồng nhân tạo, gồm có các thảm thực vật sau:

a) Thảm thực vật rừng ngập mặn

Thảm thực vật ngập mặn có diện tích khoảng 1000 ha, độ che phủ 40 - 70%, phân bố ở vùng cửa sông, bãi triều ven biển phía đông và đông bắc huyện Tiên

Trang 37

Lãng Hiện nay trên thảm thực vật rừng ngập mặn này đã phát hiện 12 loài thực vật, chiếm 24% tổng số loài thực vật ngập mặn toàn vùng Đông Bắc và chiếm 46% so với vùng đồng bằng Bắc Bộ Thành phần loài thực vật ngập mặn ở vùng nghiên cứu bao gồm 3 nhóm loài, đó là nhóm những loài chủ yếu, nhóm những loài chịu mặn gia nhập thực vật ngập mặn và những loại nội địa chuyển ra Nhóm chủ yếu, gồm 4

loài là sú (Aegiceras corniculatum), trang (Kandilia candel), bần (Sonneratia

caseolaris), ô rô (Acanthus ilicifolius), trong đó ôrô và bần là hai loài chiếm ưu thế

Nhóm loài chịu mặn gia nhập thực vật ngập mặn gồm 7 loài là muống biển

(Ipomocapes caprae), cóc kèn (Deris trifoliata), cói (Cyperus Malaccensis), cỏ gà (Cymodon dactylon), vạng hôi (Clerodendron inerna), dứa dại (Pandanus tectorius), phi lao (Casuarina equisetifolia L) Nhóm loài có nguồn gốc nội địa có 1

loài là loài đậu cô (Canavalia obtusifolia)

Dựa trên các yếu tố sinh thái phát sinh thảm thực vật, thảm thực vật rừng ngập mặn ở khu vực Tiên Lãng được phân chia thành 2 quần hệ:

- Quần hệ ôrô - bần: Tập trung chính ở các bãi triều ven biển thuộc 3 xã

Đông Hưng, Tiên Hưng và Vinh Quang với hai loài chủ đạo là ôrô (Acanthus

ilicifolius) và bần (Sonneratia caseolaris) Hiện tượng chặt phá rừng để phát triển

nuôi trồng thủy sản đã làm diện tích rừng tự nhiên ở nơi đây còn lại rất ít, chỉ còn một số ít trên bãi triều là rừng bần thuần chủng

- Quần hệ sú - bần: Hàng năm quần hệ rừng này được mở rộng từ 200 - 300

ha nhờ dự án khôi phục lại thảm thực vật trên các bãi triều cửa sông Bần

(Sonneratia caseolaris) và sú (Aegiceras corniculatum) là hai loài cây được phục

hồi chủ yếu

b) Thảm thực vật cây trồng hàng năm

Thảm thực vật cây trồng này được canh tác trên đồng bằng nguồn gốc tích tụ sông biển trong đê, ít chịu ảnh hưởng của thủy triều, chủ yếu là các loài cây lương

thực phổ biến như lúa (Oryza sativa L.), ngô (Zea mays) Việc trồng lúa nước có thể

được trồng 2 vụ trong năm hoặc 1 vụ lúa xen với 1 vụ màu, vụ màu ở đây thường

được dùng để trồng cây thuốc lào (Nicotiana rustica)một loài cây đặc sản của địa

phương Hiện nay một số loại cây rau thực phẩm có giá trị kinh tế cao đang được trồng và phát triển trên diện tích tương đối lớn trên 3000 ha như các cây thuộc họ

Cải (Curcubitaceae), họ Hành (Alliaceae), họ Cà (Solanaceae), họ Bầu bí

(Cucurbitaceae), họ Đậu (Fabaceae)

Trang 38

c) Thảm thực vật cây trồng lâu năm

- Các quần hệ cây ăn quả trong khu dân cư: Chủ yếu được trồng tạp trên

diện tích đất vườn của các hộ nông dân có khoảng 1100 ha, với nhiều loài cây ăn

quả như vải (Litchi chinensis), na (Annona squamosa L.), nhãn (Dimocarpus

longan), dừa (Cocos nucifera L.) Ngoài ra còn có khá nhiều diện tích chuối (Musa paradiasiaca L.) được trồng ở các xã vùng ven biển như Bắc Hưng, Tiên Hưng,

Vinh Quang

- Quần hệ phi lao: quần hệ phi lao (Casuarina equisetifolia L.) chỉ chiếm

diện tích nhỏ, phân bố ở khu vực ngoài đê Vinh Quang

2.2.7 Các hoạt động phát triển đóng vai trò thành tạo cảnh quan

a) Hoạt động khai thác và trồng rừng ngập mặn

Rừng phân bố chủ yếu ở vùng đất bồi ven biển huyện Tiên Lãng, là một quần hệ rừng ngập mặn với tổng diện tích khoảng 1000 ha Đây chủ yếu là rừng trồng tái sinh, rừng tự nhiên chỉ còn lại rất ít và có nguy cơ biến mất hoàn toàn do bị khai thác trái phép và bị chặt phá để xây dựng các đầm nuôi trồng thủy sản Hiện nay rừng ngập mặn, đặc biệt là rừng phòng hộ đang được địa phương chú trọng bảo

vệ và ngày càng được mở rộng diện tích Hoạt động trồng rừng tạo ra cảnh quan rừng trồng thứ sinh nhân tác, ngược lại hoạt động chặt phá rừng ngập mặn làm cho

ra cảnh quan đầm được mở rộng, đặc biệt là cảnh quan đầm nuôi trồng thủy sản thâm canh

b) Hoạt động sản xuất nông nghiệp

Hoạt động nông nghiệp, bao gồm trồng lúa, hoa màu và trồng cây ăn quả, tạo

ra cảnh quan nông nghiệp (cảnh quan lúa - màu…) trên một diện tích 10.032 ha, chiếm 52,17% tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện Trong đó, tác động lớn nhất đến tài nguyên đất là trồng lúa và hoa màu chiếm 48.17% tổng diện tích đất tự nhiên, chủ yếu tập trung tại đồng bằng nguồn gốc tích tụ sông và sông biển phía bên trong đê biển của huyện Hoạt động trồng cây ăn quả chỉ là hoạt động thứ yếu ở đây, các cây ăn quả được trồng hỗn tạp và manh mún trên diện tích vườn của các hộ nông dân Hiện nay một diện tích cây ăn quả tương đối lớn đang được trồng và phát triển ở khu vực xã Đại Thắng, đã tạo ra cảnh quan cây trồng lâu năm

c) Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản

Trang 39

Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản bắt đầu từ năm 1986 ở khu vực xã Tây Hưng

và đặc biệt phát triển mạnh mẽ vào giai đoạn 2001 - 2005, hình thành nên cảnh quan đầm nuôi trồng thuỷ sản Trước năm 2001, chỉ có hai hình thức nuôi trồng thuỷ sản là quảng canh và thâm canh Từ năm 2001 trở lại đây, hình thức nuôi trồng thuỷ sản quảng canh đã thu hẹp, thay vào đó là hình thức nuôi trồng thuỷ sản công nghiệp dưới sự đầu tư của các công ty phát triển thuỷ sản (công ty Việt - Mỹ…)

d) Hoạt động quần cư và xây dựng đô thị

Diện tích đất ở của huyện Tiên Lãng là 1.088 ha, chiếm 5.65% tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó chủ yếu là đất ở nông thôn, đất ở đô thị chiếm tỷ lệ rất nhỏ tập trung ở khu vực thị trấn Tiên Lãng Do đó cảnh quan quần cư nông thôn chiếm

ưu thế hơn cảnh quan quân cư đô thị Khu vực ba xã Đại Thắng, Tiên Cường, Tự Cường (phía tây bắc huyện Tiên Lãng), ở đây quá trình giải tỏa, san lấp mặt, xây dựng nhà ở và khu công nghiệp đang diễn ra mạnh mẽ Hoạt động này làm cho cảnh quan quần cư ngày càng được mở rộng thay thế cảnh quan nông nghiệp đang dần bị thu hẹp

2.3 ĐẶC ĐIỂM PHÂN HÓA CẢNH QUAN

2.3.1 Hệ thống phân loại cảnh quan khu vực huyện Tiên Lãng

Hệ thống phân loại là một trong những khâu quan trọng trong nghiên cứu thành lập bản đồ cảnh quan Hiện nay, trong nước và trên thế giới đã có khá nhiều

hệ thống phân loại được công bố như của A.G Ixatrenko, Nhicolaev, Vũ Tự Lập Phạm Hoàng Hải, Viện Địa lý…

Tùy thuộc vào đặc điểm tự nhiên của lãnh thổ nghiên cứu và mức độ chi tiết của bản đồ cảnh quan mà có thể áp dụng các hệ thống phân loại khác nhau Tuy nhiên, các hệ thống phân loại cảnh quan đều đảm bảo những nguyên tắc nhất định là:

- Hệ thống phân loại phải bao quát đầy đủ các cá thể, không nên để xảy ra trường hợp không biết xếp cá thể vào bậc phân loại nào, cũng như một cá thể có thể xếp vào nhiều bậc

- Tuỳ thuộc vào mức độ phân hoá của lãnh thổ mà lựa chọn hệ thống phân loại nhưng không nên quá cồng kềnh cũng như không được bỏ những bậc cần thiết

Xuất phát từ cơ sở lý luận và mục đích mô phỏng biến động cảnh quan, đặc điểm phân hoá cảnh quan khu vực huyện Tiên Lãng được xem xét dưới hai góc độ:

Trang 40

phân hoá theo kiểu loại (phân loại cảnh quan) và phân hoá theo cá thể (phân vùng cảnh quan)

a) Phân hóa theo kiểu loại

Các đơn vị cảnh quan được xem xét theo những dấu hiệu chung, trong đó

mỗi đơn vị phân kiểu cảnh quan có tính lặp lại trong không gian Áp dụng các hệ

thống phân loại cảnh quan Việt Nam của Viện Địa lý (1993), cùng với việc phân tích các đặc thù cảnh quan của khu vực nghiên cứu, đề tài đã lựa chọn hệ thống phân loại cảnh quan cho khu vực huyện Tiên Lãng ở tỷ lệ 1:25.000 bao gồm 03 cấp:

kiểu cảnh quan, hạng cảnh quan và loại cảnh quan Trong đó loại cảnh quan là đơn

vị cơ sở để nghiên cứu để nghiên cứu và mô hình hoá biến động cảnh quan

Bảng 2.6 Hệ thống đơn vị phân loại cảnh quan khu vực huyện Tiên Lãng

3 Loại cảnh quan

Đặc trưng bởi mối quan hệ tương hỗ giữa các nhóm quần

xã thực vật và các loại đất

Gồm 6 loại cảnh quan

b) Phân hóa theo vùng

Dưới góc độ chức năng tự nhiên (xem xét dòng vật chất và năng lượng) thì khu vực huyện Tiên Lãng tương đương với cấp vùng cảnh quan, vì vậy đơn vị phân chia theo khu vực bên trong lãnh thổ huyện Tiên Lãng là tiểu vùng cảnh quan Tiểu vùng cảnh quan là một bộ phận của lãnh thổ, một tổng thể địa lý không lặp lại trong không gian, có cùng nguồn gốc phát sinh, đồng nhất tương đối về các hợp phần tự nhiên và nhân sinh Mỗi tiểu vùng có một cấu trúc riêng bao gồm một tập hợp các loại cảnh quan, đặc trưng cho một sự liên kết các biện pháp, các hướng khai thác, sử

Ngày đăng: 06/06/2019, 11:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đào Thị Châu Hà (2003), Đánh giá tác động sinh thái từ việc phục hồi rừng tại tỉnh Vĩnh Phúc bằng các chỉ số đinh lượng phân bố không gian của lớp phủ thực vật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động sinh thái từ việc phục hồi rừng tại tỉnh Vĩnh Phúc bằng các chỉ số đinh lượng phân bố không gian của lớp phủ thực vật
Tác giả: Đào Thị Châu Hà
Năm: 2003
3. Chi hội Sinh thái cảnh quan Việt Nam (1992), Hội thảo về sinh thái cảnh quan: quan điểm và phương pháp luận, Tuyển tập các báo cáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo về sinh thái cảnh quan: quan điểm và phương pháp luận
Tác giả: Chi hội Sinh thái cảnh quan Việt Nam
Năm: 1992
6. Phan Nguyên Hồng (1991), Sinh thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam, Luận án Tiến sỹ khoa học, Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam
Tác giả: Phan Nguyên Hồng
Năm: 1991
8. Nguyễn Cao Huần, Nguyễn An Thịnh, Phạm Quang Tuấn và nnk (2005), “Tính đặc thù của cảnh quan ven biển Thái Bình”, Tạp chí Khoa học, (5AP), ĐHQGHN, Hà Nội, trang 50-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính đặc thù của cảnh quan ven biển Thái Bình”", Tạp chí Khoa học
Tác giả: Nguyễn Cao Huần, Nguyễn An Thịnh, Phạm Quang Tuấn và nnk
Năm: 2005
11. Vũ Trung Tạng (2006), Sinh thái học hệ sinh thái, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái học hệ sinh thái
Tác giả: Vũ Trung Tạng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
12. Nguyễn Ngọc Thạch (1997), Viễn thám trong nghiên cứu tài nguyên và môi trường, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viễn thám trong nghiên cứu tài nguyên và môi trường
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thạch
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1997
13. Trần Đức Thạnh (1998), Đặc điểm địa hóa môi trường và trầm tích đất ngập triều ven biển Tiên Lãng, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm địa hóa môi trường và trầm tích đất ngập triều ven biển Tiên Lãng
Tác giả: Trần Đức Thạnh
Năm: 1998
14. Nguyễn An Thịnh (2008), Một số ứng dụng của bài toán Entropy trong công tác giám sát và đánh giá diễn biến phục hồi rừng, Tạp chí nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, số 10/2008, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ứng dụng của bài toán Entropy trong công tác giám sát và đánh giá diễn biến phục hồi rừng
Tác giả: Nguyễn An Thịnh
Năm: 2008
15. Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng (2005), Quy hoạch tổng thể các khu bảo tồn biển Thành phố Hải Phòng đến năm 2020, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể các khu bảo tồn biển Thành phố Hải Phòng đến năm 2020
Tác giả: Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng
Năm: 2005
16. UBND huyện Tiên Lãng, Thành phố Hải Phòng (12/2005), Rà soát, điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Tiên Lãng - Thành phố Hải Phòng đến năm 2020, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rà soát, điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Tiên Lãng - Thành phố Hải Phòng đến năm 2020
17. Viện Hải dương học Hải Phòng (2002), Thông tin đất ngập nước vùng cửa sông Văn Úc, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin đất ngập nước vùng cửa sông Văn Úc
Tác giả: Viện Hải dương học Hải Phòng
Năm: 2002
18. Viện Hải dương học Hải Phòng (2001), Các đe doạ do con người đối với đa dạng sinh học vùng đất ngập nước triều ven bờ Tiên Lãng, Hải Phòng.II. TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các đe doạ do con người đối với đa dạng sinh học vùng đất ngập nước triều ven bờ Tiên Lãng
Tác giả: Viện Hải dương học Hải Phòng
Năm: 2001
19. Arquitt S., R. Johnstone (2008), “Use of system dynamics modeling in design of an environmental restoration banking institution”, Ecological Economics Volume 65, pp. 63-75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Use of system dynamics modeling in design of an environmental restoration banking institution”," Ecological Economics
Tác giả: Arquitt S., R. Johnstone
Năm: 2008
21. Farina A. (2006), Principles and Methods in Landscape Ecology, Chapman &amp; Hall, London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Principles and Methods in Landscape Ecology
Tác giả: Farina A
Năm: 2006
22. Forman R.T.T. and M. Godron (1981), Quantitative landscape ecology, Wiley and Sons, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quantitative landscape ecology
Tác giả: Forman R.T.T. and M. Godron
Năm: 1981
23. Forman R.T.T., M. Godron (1986), Landscape Ecology, Wiley and Sons, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Landscape Ecology
Tác giả: Forman R.T.T., M. Godron
Năm: 1986
24. Francoise Burel, Jacques Baudry (1999), Landscape Ecology-Concepts, Methods and Application, Science Publishers Inc., France Sách, tạp chí
Tiêu đề: Landscape Ecology-Concepts, Methods and Application
Tác giả: Francoise Burel, Jacques Baudry
Năm: 1999
25. Herold M., H. Couclelis, K.C. Clarke (2005), “The role of spatial metrics in the analysis and modeling of urban land use change”, Computers, Environment and Urban Systems, Volume 29, Issue 4, pp. 369-399 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The role of spatial metrics in the analysis and modeling of urban land use change”", Computers, Environment and Urban Systems
Tác giả: Herold M., H. Couclelis, K.C. Clarke
Năm: 2005
1. A.G. Ixatrenko (1976) (người dịch: Vũ Tự Lập), Cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lý tự nhiên Khác
4. Phạm Hoàng Hải và nnk., Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w