* Gây đợc hứng thú cho học sinh khi làm bài tập trong SGK, sách tham khảo, giúp học sinh tự giải đợc một số bài tập, đề thi học sinh giỏi các cấp, đề thi vào các tr-ờng chuyên, lớp chuyê
Trang 1Phần I Phần mở đầu 2
V Đối tượng nghiờn cứu và phương phỏp tiến hành 4
A. Cơ sở lý luận Error: Reference source not found
I Đặc điểm tâm lí học sinh bậc THCS Error: Reference source not found
II Những khó khăn và thuận lợi của việc giảng dạy bộ môn hoá học ở nhà tr ờng THCS Error: Reference source not found
1 Thuận lợi: Error: Reference source not found
2 Khó khăn………
5
B. Quá trình thực hiện Error: Reference source not
found
I Cách phát hiện học sinh giỏi hoá Error: Reference source not found
II Cách bồi d ỡng học sinh giói hoá: Error: Reference source not found
1 Dạy lý thuyết: Error: Reference source not found
2 Dạy bài tập: Error: Reference source not found
3 Yêu cầu và việc kiểm tra đánh giá học sinh: Error: Reference source not found
4 Một số bài tập dùng cho việc phát hiện và bồi d ỡng học sinh giỏi hoá THCS:
7
Trang 2Phần III Kết luận 17
Phần I: Phần mở đầu
I Lý do chọn đề tài
"Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai" Câu nói ấy không có ý nghĩa với một lớp
ngời, một quốc gia mà nó có ý nghĩa cho tất cả các quốc gia trên thế giới Trong"
Tuyên ngôn về quyền trẻ em" mà Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã nhất trí thông qua
ngày 10/11/1959 có nổi bật lên tinh thần cơ bản "Loài ngời phải dành cho trẻ em những gì tốt nhất mà mình có " Điều đó có nghĩa trẻ em nói chung phải đợc hởng thụ tất cả tinh hoa của xã hội loài ngời, của dân tộc minh Bằng cách nào? Nhất thiết phải qua con đờng học tập từ phía học sinh và con đờng giáo dục từ phía các nhà giáo dục Trớc ngỡng cửa của thời đai mới, thời đại của cách mạng khoa học kỹ thuật với sự phát triển nh vũ bão đã và đang xâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống Ngày nay khi toàn Đảng toàn dân đang quyết tâm đa nớc ta theo con đờng công nghiệp hoá , hiên đại hoá Hơn bao giờ hết việc đào tạo một thế hệ trẻ có đầy đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nớc là một vấn đề sống còn mang tính chất thời đại Từ năm
1993 - 1994 đến nay Bộ giáo dục và đào tạo đã tổ chức thi Quốc gia chọn học sinh giỏi Hoá cấp Trung Học Cơ Sở Từ năm 1996, Việt Nam chính thức tham gia vào các
kỳ thi Olympic Hoá Quốc tế Năm 1998, đoàn học sinh Việt Nam xếp thứ 19 trên tổng
số 49 nớc tại cuộc thi Olympic Hoá học sinh Quốc tế lần thứ 30 tổ chức tại Oxtraylia
Để có đợc các học sinh giỏi hoá cấp PTTH Quốc gia và Quốc tế Sau này trở thành những ngời gắn bó với hoá học, cống hiến cả cuộc đời mình cho hoá học, thì việc phát hiện và bồi dỡng, việc tạo nguồn học sinh giỏi hoá bậc THCS là một việc làm hết sức quan trọng Trong bài viết này chúng tôi xin đa ra một số kinh nghiệm trong việc phát hiện và bồi dỡng học sinh giỏi hoá bậc THCS Vì thời gian trực tiếp giảng dạy trên lớp còn hạn chế, kinh nghiệm bồi dỡng học sinh giỏi hoá còn non nớt lên bài viết
Trang 3không thể tránh khỏi những sai sót Kính mong các thày cô giáo cùng các bạn đồng nghiệp đóng góp ý kiến của mình cho bài viết đợc hoàn chỉnh hơn
II Mục đích nghiện cứu:
* Đề tài này có tác dụng giúp giáo viên có thêm t liệu xây dựng chơng trình bồi d-ỡng học sinh giỏi môn hóa cấp THCS Trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản nhất cần phải có ở ngời học sinh học đội tuyển học sinh giỏi hóa Từ đó góp phần nâng cao năng lực học môn Hóa giúp các em tiếp thu bài một cách chủ động, sáng tạo.
* Gây đợc hứng thú cho học sinh khi làm bài tập trong SGK, sách tham khảo, giúp học sinh tự giải đợc một số bài tập, đề thi học sinh giỏi các cấp, đề thi vào các tr-ờng chuyên, lớp chuyên Hóa của tỉnh và quốc gia.
* Giúp học sinh nắm vững một cách có hệ thống các phơng pháp cơ bản và vận dụng thành thạo các phơng pháp đó để giải bài tập.
* Thông qua đề tài này, giáo viên thấy rõ mục đích của việc đào tạo học sinh giỏi,
đồng thời mở ra hớng đi, giúp học sinh học tốt hơn bộ môn hóa học.
III Nhiệm vụ của đề tài
* Đề tài này đa ra một số kinh nghiệm trong việc phát hiện học sinh giỏi môn Hóa.
* Trang bị cho giáo viên, học sinh t liệu về một số phơng pháp giải toán Hóa học
áp dụng để làm bài tập.
* Rút ra một số nhận xét và chú ý khi làm từng phơng pháp.
* Chọn lọc, hệ thống một số bài tập hay gặp cho phù hợp cho từng phơng pháp.
IV Phạm vi đề tài
Phát triển năng lực, t duy của học sinh thông qua giải toán hóa học đối với học sinh lớp 8 và lớp 9 Đặc biệt có tác dụng với học sinh ôn thi đội tuyển học sinh giỏi cấp THCS, thi vào các lớp chuyên Hóa THPT Và là một tài liệu hữu ích đối với giáo viên đang giảng dạy, đang bồi dỡng hoặc chuẩn bị bồi dỡng học sinh giỏi môn hóa bậc THCS.
V Đối tợng nghiên cứu và phơng pháp tiến hành
Đề tài áp dụng đối với học sinh lớp 8, lớp 9 và trong các giờ luyện tập, ôn tập cuối kì, cuối năm, kì thi học sinh giỏi, và thi tuyển vào cấp III.
Trang 4Phơng pháp tiến hành: Học sinh có kiến thức cơ bản, đa ra phơng pháp giải, bài tập áp dụng, sai lầm hay gặp, bài tập tự giải (học sinh về nhà làm bài tập).
VI Dự kiến kết quả của đề tài
Khi cha thực hiện đề tài này: Học sinh cha biết tổng hợp kiến thức trên lớp để làm các bìa tập hóa học nâng cao, đề thi học sinh giỏi, cảm thấy kiến thức hóa học mới
và khó, hay mắc những sai lầm, hay gặp khó khăn khi thực hiện giải toán.
Nếu thực hiện đợc đề tài này thì học sinh có hứng thú khi giải toán hóa học, làm bài tập tốt hơn, có kỹ năng giải đề và trình bày bài thi hóa học một cách hiệu quả.
Trang 5PhÇn II: PhÇn néi dung
A C¬ së lý luËn
I §Æc ®iÓm t©m lÝ häc sinh bËc THCS
Phải nói rằng lứa tuổi học sinh THCS đặc điểm tâm lý hết sức điển hình , đây là
"Thời kỳ quá độ của việc chuyển từ trẻ con sang người lớn", do đó tạo cho các em một nhân cách đa dạng phong phú thể hiện ở một số điểm cơ bản sau đây:
• Hứng thú các em đã phát triển ở mức cao, hứng thú về học tập đã xuất hiện và ngày càng đậm nét Đây là một đặc điểm hết sức thuận lợi đối với việc giảng dạy
bộ môn hoá Từ việc tò mò, thích thú say mê môn không phải là một khoảng cách xa đối với các em
• Bên cạnh đó ý thức tự lập và khả năng đi tìm sâu và khám phá khoa học là một
ưu điểm điển hình của học sinh bậc THCS Tuy nhiên việc đi sâu vào bản chất khái niệm, khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh của các em không phải lúc nào cũng bộc lộ rõ nét
• Bên cạnh những ưu điểm trên cũng bộc lộ những nhược điểm của các em: có hứng thú say mê có niềm khát khao chân lý, có lòng yêu khoa học song các em còn rụt rè e ngại, đôi khi hay nản chí lòng tin khi gặp phải công việc quá khó khăn Làm thế nào để có thể khắc phục những khó khăn đó Điều quan trọng nhất
là : Mỗi giáo viên thực sự quán triệt nguyên tắc “Tôn trọng nhân cách của học sinh “ nên các em ngày càng vững vàng lớn khôn hơn
II Nh÷ng khã kh¨n vµ thuËn lîi cña viÖc gi¶ng d¹y bé m«n ho¸ häc ë nhµ trêng THCS.
Căn cứ vào phân phối chương trình của bộ môn hoá ở trường THCS cùng với đặc thù của bộ môn khoa học này có thể nhận thấy những thuận lợi và khó khăn trong giảng dạy cũng như việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn
1 ThuËn lîi:
• Hoá học là khoa học thực nghiệm, là khoa học nghiên cứu về các chất và biến đổi về các chất khác Mặc dù những kiến thức khoa học trong sách giáo khoa viết
cô đọng, nhưng lại gây hứng thú với học sinh đặc biệt là hệ thống các thí nghiệm làm tăng tính tò mò ham hiểu biết của các em Những hiện tượng hoá học xảy ra
Trang 6trong cuộc sống các em đều có thể vận dụng kiến thức đã học hoặc sẽ học để giải thích làm rõ, đây chính là một thuận lợi hết sức to lớn
• Điều thuận lợi cơ bản thứ hai cũng chính là xuất phát từ khả năng tìm tòi, muốn khám phá khoa học, một đặc điểm nhân cách điển hình của các em Với bộ môn hoá học là một môn khoa học tự nhiên, với tính chính xác cao của tri thức, tính hợp lý của kiến thức, tính suy luận và logic chặt chẽ, càng gây tính tò mò, hứng thú học tập của các em
• Điều thuận lợi cơ bản thứ ba là ứng dụng của khoa học hoá học trong đời sống ngày càng rộng rãi Từ việc phục vụ cho đời sống sản xuất, đến việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Vị trí của bộ môn hoá học ngày càng được đề cao Đây là một trong những điều kiện hết sức thuận lợi để các em thêm yêu thích bộ môn
2 Khã kh¨n:
• Do phân phối chương trình bộ môn hoá học ở trường THCS đã làm hạn chế về mặt thời gian giảng dạy trên lớp của giáo viên, thời gian tìm tòi nghiên cứu của học sinh, trong khi đó yêu cầu của việc nắm bắt kiến thức lại ở mức độ cao Đây cũng là một khó khăn rất lớn đòi hỏi phải có sự quyết tâm vượt khó, sự say mê tìm tòi không quản thời gian của cả thầy và trò
• Hoá học là một thực nghiệm liền với thực hành Do đó việc truyền thụ kiến thức hoá học thôi là chưa đủ mà quan trọng hơn là phải giúp học sinh nắm bắt những
kỹ năng, kỹ xảo thực hành Hiểu biết kiến thức vận dụng chúng vào cuộc sống muôn hình muôn vẻ Trong khi thiết bị thí nghiệm ở hầu hết các trường THCS còn nghèo nàn, thiếu thốn lạc hậu chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu đang phát triển của xã hội Mặt khác việc kiểm tra đánh giá kiến thức của học sinh còn nặng nhiều về tính toán chưa thực sự gắn liền với kỹ năng thực hành thi nghiệm, làm cho mảng kiến thức này ở các trường THCS còn nhiều lỗ hổng lớn Đây cũng chính là một khó khăn rất lớn cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi hoá
• Bên cạnh những yếu tố khách quan đã nêu thì việc giảng dạy bộ môn hoá còn chưa được coi trọng, còn bị coi là môn phụ Giáo viên giảng dạy chưa thực sự tin tưởng vào các em, chưa đủ thời gian để dành sức vào việc trên đây nâng cao kiến thức, nghiên cứu khoa học, đổi mới phương pháp dạy học bộ môn
Trang 7Trên đây là một số thuận lợi và khó khăn trong việc giảng dạy bộ môn hoá và việc phát hiện bồi dưỡng học sinh giỏi hoá ở trường THCS Theo chúng tôi nghĩ những khó khăn trên mặc dù lớn, nhưng nếu như mỗi giáo viên giảng dạy hoặc trực tiếp giảng dạy đội tuyển tìm cho mình một cách đi đúng, tranh thủ được sự ủng hộ quan tâm của các cấp lãnh đạo, của gia đình các em và đặc biệt là tạo cho các em sự say mê nhiệt tình, hứng thú tìm tòi khoa học hoá học thì những khó khăn trên không phải là không khắc phục được
B Qu¸ tr×nh thùc hiÖn
I C¸ch ph¸t hiÖn häc sinh giái ho¸
Do đặc thù của bộ môn hoá học: Là khoa học thực nghiệm đòi hỏi các em học sinh nói chung cũng như các em học sinh giỏi hoá nói riêng muốn học giỏi bộ môn hoá cần phải có một năng lực tiếp thu kiến thức tốt, có năng lực sáng tạo, khả năng suy luận tốt, khả năng tư duy độc lập trong những tình huống khó khăn
Ngoài ra đòi hỏi các em phải có niềm say mê bộ môn ham học ham hiểu biết, có sức khoẻ đó cũng là một trong những phẩm chất không thể thiếu được Nhưng không phải lúc nào các em học sinh cũng cũng có thể hội đủ các phẩm chất năng lực đó, nếu có thì làm thế nào có thể phát hiện được để tìm được học sinh giỏi Hoá thì cần phảo đưa các em vào hoạt động, vào tình huống có vấn để
Cố vấn Phạm Văn Đồng khi nghe báo cáo” Vấn đề đào tạo và sử dụng nhân tài theo lý thuyết tình huống trong hoạt động” đã phát hiện: ”Trong mỗi người chúng ta người nào cũng có một sở trường nhất định nào đó nó đang ngủ trong người mình, cũng như các mỏ vàng nếu như người ta không đào thì không khi nào người ta thấy
Chính phương pháp dạy học nêu vấn đề, các tình huống có vấn đề đã kích thích khêu gợi đòi hỏi con người suy nghĩ tím tòi và phát huy tư duy đến mức độ cao nhất, moi móc trong con người mình, thậm chí trong tiềm thức của mình cái gì có thể giải quyết vấn đề đặt ra ….”
Chính nhờ có tình huống có vấn đề người giáo viên đưa ra là làm nẩy sinh nhu cầu cần thiết phải học hỏi, phải suy nghĩ để giải quyết tình huống một cách hợp lý khoa học Trên cơ sở đó giúp người giáo viên phát hiện ra các em có năng khiếu bộ môn, có phẩm chất năng lực tốt để bồi dưỡng
II C¸ch båi dìng häc sinh giãi ho¸:
Trang 8Căn cứ vào kiến thức hoá lớp 8, 9 có thể chia toán hoá thành các dạng, các chuyên
đề cơ bản sau :
1 Bài tập định tính:
Đây là loại bài tập yêu cầu học sinh phải nắm vững tính chất vật lí, hóa học, cách điều chế,…của các chất vô cơ, hữu cơ đã học Đặc biệt phải biết tổng hợp,khái quát hóa từ các chất riêng lẻ thành các dạng đặc thù cho từng loại chất Sau đây là một số dạng cơ bản:
* Câu hỏi trình bày, so sánh, giải thích hiện tượng và viết phương trình phản ứng.
Trong loại bài tập này, giáo viên cần lưu ý cho các em các tính chất đặc biệt, các hiện tượng xảy ra trong thực tế làm thí nghiệm, và các tình huống dễ bị nhầm lẫn khi làm bài:
ví dụ: Cho kim loại Na vào dung dịch CuSO4 có hiện tượng gì xảy ra? Giải thích?
* Toán nhận biết – Tách chất
Là loại toán giúp hình thành một cách có hệ thống tính chất hoá học của từng hợp chất cụ thể, rèn luyện khả năng ứng phó linh hoạt với những tình huống khó Để học sinh nắm vững được loại toán này, ngoài việc giảng dạy hệ thống kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa, cũng như kiến thức nâng cao thì việc ra hệ thống bài tập phải phù hợp với trình độ học sinh, phải làm xuất hiện những tình huống có vấn đề
Ví dụ: Khi dạy loại toán nhận biết các chất với những yêu cầu, những tình huống khác
nhau từ dễ đến khó như :
+ Nhận biết bằng thuốc thử cho trước
+ Tự chọn hoá chất nhận biết
+ Nhận biết các chất khi không dùng hoá chất hoặc ít hoá chất nhất
+ Nhận biết các chất khi chất này có mối liên quan với nhau hoặc là sản phẩm của các quá trình sản xuất hoá học
Tương tự như toán nhận biết thì cách làm loại toán tách chất cũng vậy, các bài tập được nâng dần từ đơn giản đến phức tạp, từ tách các chất trong hỗn hợp có tính chất khác nhau, đến nhiều tính chất giống nhau hoặc trực tiếp thực hành thao tác trên một số hoá chất cho phép Qua các bài tập như vậy sẽ giúp học sinh hiểu sâu thêm kiến thức, phát triển tư duy sáng tạo, cách trình bày khoa học và tính cẩn thận
* Toán điều chế - viết phương trình biểu diễn dãy biến hoá:
Trang 9Loại toán này giúp các em nắm vững kiến thức cơ bản khă năng suy luận, tính hợp logic chặt chẽ của từng loại phản ứng khác nhau, cách điều chế các loại hợp chất một cách linh hoạt
2 Bài tập định lượng
Khi giảng dạy các chuyên đề này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách trình bày các dạng toán nhất định Đặc biệt chú ý kết hợp phương pháp giải toán vào các bài toán hóa học một cách linh hoạt, dễ hiểu mà vẫn thể hiện đặc thù của bộ môn
Toán nồng độ và độ tan:
Đây là chuyên đề xuyên suốt quá trình giải toán hoá Khi dạy về chuyên đề này ngoài việc cung cấp cho các em các công thức tính nồng độ, độ tan thì người giáo viên phải bổ sung thêm một loạt kiến thức như : Quy tắc đường chéo, quy luật về độ tan các chất khi hạ và tăng nhiệt độ, tinh thể hydrat, công thức liên quan giữa các loại nồng độ…Việc cung cấp những kiến thức này cho học sinh không nên gò bó, ồ ạt mà phải giúp học sinh nắm được bản chất, thấy được cần thiết vận dụng
Toán nhúng kim loại vào dung dịch muối :
Loại toán giải dựa trên quy luật tăng giảm khối lượng của kim loại ( Chất rắn) Tuy nhiên trong quá trình dạy loại toán này cần giúp học sinh nắm bắt được bản chất của loại toán bằng cách đưa ra những bài toán làm phản ví dụ, xuất hiện nhiều tình huống có vấn đề như:
+ Cho một kim loại vào dung dịch một muối, tiến tới vào dung dịch hai muối
+ Hai kim loại vào dung dịch hai muối
+ Cho kim loại có tham gia phản ứng với nước vào dung dịch muối
Kết hợp với yêu cầu phản ứng xảy ra hoàn toàn, không hoàn toàn, cho phản ứng ngừng lại Có như vậy học sinh mới không bị bất ngờ trong những tình huống khó khăn
Toán biện luận khi sục khí ( CO 2 …) vào dung dịch kiềm( NaOH…)
Đây là loại toán hoá đòi hỏi các em học sinh có năng lực tiếp thu kiến thức tốt, nắm bắt các trường hợp xảy ra dự đoán, suy luận để tìm được sản phẩm sau phản ứng
Từ bài toán tổng quát cho đến từng bài tập riêng lẻ các em phải hình thành được một hệ thống kiến thức cơ bản chặt chẽ
Toán lập CTPT:
Đây là loại toán phong phú và đa dạng đòi hỏi có thời gian giảng dạy nên chia thành những chuyên đề nhỏ hơn để giúp học sinh có thể nắm bắt vững vàng như:
Trang 10+ Lập công thức một chất khi biết khối lượng mol của từng nguyên tố trong hợp chất và khối lượng mol của chất đó
+ Xác định nguyên tố bằng cách lập mối quan hệ giữa khối lượng mol và hoá trị của nguyên tố đó
+ Xác định công thức phân tử hợp chất hữu cơ thông qua bài toán đốt cháy
3 Toán trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm là một dạng toán mà trong đề bài gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu ra một vấn đề cùng với những thông tin cần thiết, sao cho học sinh chỉ phải trả lời vắn tắt đối với từng câu Có nhiều kiểu câu trắc nghiệm khác nhau, giáo viên cần xây dựng và hướng dẫn các em thực hiện một cách nhanh nhất Trong quá trình làm trắc nghiêm, tránh đoán tủ, học tủ mà cần rà soát lại toàn bộ chương trình môn học, xem kỹ hơn với những nội dung khó, nhớ lại những chi tiết cốt lõi Đặc biệt khi giảng dạy, giáo viên nên thường xuyên cho học sinh làm các bài thi trắc nghiệm, hướng dẫn các em cách lựa chọn tránh nhầm lẫn, và cố gắng đạt được số điểm cao nhất Ví dụ: Khi làm bài thi, nên bắt đầu từ câu trác nghiệm số 1, lần lượt lướt qua khá nhanh, quyết định làm các câu cảm thấy dễ và chắc chắn, đồng thời đánh dấu trong đề thi những câu chưa làm được, lần lượt thực hiện đến câu trắc nghiệm cuối cùng Sau đó quay trở lại “ giải quyết” những câu đã bỏ qua một cách khẩn trương để dành thời gian làm bìa tập tự luận
Dĩ nhiên còn rất nhiều loại toán khác như toán hỗn hợp, toán viết công thức cấu tạo của Hyđro cacbon và dẫn xuất, toán về Este, độ rượu…Do việc phân phối chương trình của bộ môn làm cho thời gian giảng dạy đội tuyển rất hạn chế, trong khi đó lượng kiến thức đòi hỏi vừa có chiều rộng và chiều sâu Làm thế nào để giải quyết được mâu thuẫn này ? Trước hết người giáo viên phải xác định được vấn đề dạy cái gì? Dạy như thế nào ? Cụ thể:
1 D¹y lý thuyÕt:
Việc dạy tính chất hoá học của các hợp chất oxit, axit, các hợp chất hyđrocacbon như dãy ankan, anken, ankin…đòi hỏi phải có một hệ thống chuyên mục cụ thể, bởi ở các đối tượng học sinh giỏi, khả năng tổng hợp, khái quát của các em ở mức độ cao hơn nhiều so với học sinh đại trà Tuy nhiên việc dạy phần kiến thức này cần tránh : áp đặt, thông báo ồ ạt bỏ qua thực nghiệm…làm giảm hứng thú học tập của học sinh, làm mất khả năng hiểu sâu thêm kiến thức