1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

sang kien kinh nghiêm ngu văn 6

16 890 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phương pháp dạy học Tiếng Việt: Rèn kỹ năng đặt câu và chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ cho học sinh lớp 6 vùng đặc biệt khó khăn
Tác giả Phạm Thị Ngọc Minh
Trường học Trường THCS Tô Hiệu
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Yên Bái
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 178,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Muoỏn theỏ thỡ phửụng phaựp daùy hoùc phaỷi khoõng ngửứng ủoồi mụựi, naõng cao; phaỷi mang tớnh tớch cửùc, chuỷ ủoọng cao nhaốm taọp trung vaứo vieọc khụi daọy sửù tửù reứn luyeọn, phaựt

Trang 1

biệt khó khăn.”

Phần thứ nhất : Mở đầu.

1- Lí do chọn đề tài.

-Moõn Ngửừ vaờn laứ moõn hoùc coự vai troứ cửùc kỡ quan troùng trong heọ thoỏng giaựo duùc vaứ ủaứo taùo nửụực ta bụỷi daùy vaờn laứ daùy caựch ửựng xửỷ, caựch laứm ngửụứi; laứ coõng cuù ủaộc lửùc trong quaự trỡnh hỡnh thaứnh vaứ phaựt trieồn nhaõn caựch cuỷa treỷ Môn Ngữ văn

ở trờng THCS đợc chia thành 3 phân môn : Văn – Tiếng Việt – Tập làm văn

Trong đó câu Tiếng Việt là một phơng tiện giao tiếp quan trọng trong xã hội Chức năng đó chẳng những biểu lộ trong lĩnh vực giao tiếp hàng ngày của mọi ngời Việt Nam, mà còn đợc biểu lộ trong các lĩnh vực hoạt động giao tiếp về chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá, giáo dục, ngoại giao Câu Tiếng Việt đã từ lâu là chất liệu của sáng tạo nghệ thuật - nghệ thuật ngôn từ Nó đã góp phần thể hiện rõ sức mạnh và sự tinh tế, uyển chuyển trong lĩnh vực hoạt động nghệ thuật

Mặt khác, câu Tiếng Việt gắn bó chặt chẽ với hoạt động nhận thức và t duy của ngời Việt, mang rõ dấu ấn của nếp cảm, nếp nghĩ và nếp sống của ngời Việt Nó trở thành một phần máu thịt trong con ngời Việt Nam Chính vì thế, sử dụng câu Tiếng

Việt, học Tiếng Việt phải hiểu đợc, cảm nhận đợc phần “ linh hồn dân tộc ấy”

Theỏ nhửng, treõn thửùc teỏ, phaàn lụựn hoùc sinh khoõng thớch hoùc moõn hoùc naứy, thaọm chớ coự em coứn sụù moói khi ủeỏn giụứ hoùc vaờn…Tửứ thửùc teỏ ủoự ủoứi hoỷi ngửụứi giaựo vieõn phaỷi tửù nghieõn cửựu, tỡm toứi cho mỡnh moọt phửụng phaựp daùy hoùc toỏt nhaỏt nhaốm giuựp hoùc sinh tieỏp thu baứi nhanh nhaỏt Muoỏn theỏ thỡ phửụng phaựp daùy hoùc phaỷi khoõng ngửứng ủoồi mụựi, naõng cao; phaỷi mang tớnh tớch cửùc, chuỷ ủoọng cao nhaốm taọp trung vaứo vieọc khụi daọy sửù tửù reứn luyeọn, phaựt trieồn khaỷ naờng tửù duy, suy nghú vaứ vaọn duùng moọt caựch chuỷ ủoọng,phaựt huy tớnh tớch cửùc cuỷa hoùc sinh.v v

Là một ngời giáo viên trực tiếp giảng dạy môn ngữ văn bậc THCS, tôi nhận thấy kỹ năng đặt câu và chữa lỗi của học sinh còn nhièu hạn chế , đặc biệt với học sinh dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn , nhiều em thờng tỏ ra rất lúng túng khi yêu cầu

đặt câu, có khi câu do các em đặt ra nhng các em cũng không biết đúng hay sai, có mắc lỗi gì không?

Hoạt động trên lớp là hoạt động giao tiếp giữa thầy với trò, nếu học sinh nói cha thành câu thì giao tiếp không đạt đợc mục đích, giờ học không có kết quả.Từ những

điều đó tôi nghĩ, giờ dạy Tiếng Việt giáo viên có đủ điều kiện để khắc phục những hạn chế kể trên của học sinh

-Taỏt caỷ nhửừng ủieàu treõn ủaừ thoõi thuực toõi khoõng ngửứng suy nghú, coỏ hoùc hoỷi, tỡm toứi, nghieõn cửựu caực phửụng phaựp mụựi ủeồ daùy toỏt moõn Ngửừ vaờn, ủaởc bieọt laứ phaõn moõn tieỏng Vieọt nhaốm naõng cao chaỏt lửụùng hoùc taọp cuỷa moói hoùc sinh, naõng cao

hieồu bieỏt veà “kĩ năng đặt câu và chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ” cuỷa tieỏng Vieọt

ủoàng thụứi giuựp caực em coự voỏn ngoõn ngửừ phong phuự; ủaởc bieọt laứ bieỏt vaọn duùng

trong vaờn noựi, vaờn vieỏt…

Trang 2

biệt khó khăn.”

2- Mục đích nghiên cứu.

-Nhằm nâng cao chất lợng học Tiếng Việt cho học sinh Cụ thể là năng cao khả năng

đặt câu và chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ cho học sinh dân tộc vùng đặc biệt khó khăn , từ đó giúp học sinh thực hiện quá trình giao tiếp một cách có hiệu quả

3- Đối tợng nghiên cứu :

Học sinh lớp 6 trờng THCS Tô Hiệu

4- Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu.

“Kĩ năng đặt câu và chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ cho học sinh lớp 6 vùng đặc biệt khó khăn ” ( HS lớp 6 trờng THCS Tô Hiệu- Trạm Tấu – Yên Bái.)

5- Nhiệm vụ nghiên cứu:

Nhằm nâng cao về chuyên môn nghiệp vụ , có những đổi mới tích cực trong phơng pháp dạy học Tiếng Việt ở vùng đặc biệt khó khăn, giúp đồng nghiệp khi giảng dạy tiếng Việt lớp 6 có những phơng pháp phù hợp để đạt đợc nhng kết quả cao Đặc biệt giúp học sinh có những kĩ năng đặt câu và chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ khi tạo lập văn bản, trong giao tiếp hằng ngày

6- Phơng pháp nghiên cứu.

Trực tiếp giảng dạy, đọc tài liệu tham khảo , khảo sát đối tợng học sinh qua trực tiếp giảng dạy bằng những bài kiểm tra trắc nghiệm, bài viết tập làm văn , tham khảo ý kiến đồng nghiệp Su tầm thông tin viết đề cơng , từ đó áp dụng vào để viết sáng kiến kinh nghiệm

7-Thời gian nghiên cứu.

Tháng 9 /2008 dăng kí sáng kiến kinh nghiệm

Tháng 10/ 2008 đến tháng 3/2009 nghiên cứu và viết sáng kiến

Phần thứ hai : Nội dung.

Chơng I : Cơ sở lí luận của đề tài

-Thửùc hieọn chửụng trỡnh thay saựch giaựo khoa ủửụùc ban haứnh keứm theo quyeỏt ủũnh soỏ 03/ 2002/ Qẹ-BGD&ẹT ngaứy 24 thaựng 01 naờm 2002 cuỷa boọ trửụỷng Boọ GD&ẹT

-Thửùc hieọn nghũ quyeỏt soỏ 40/2000/QH10 cuỷa quoỏc hoọi Chổ thũ soỏ 14/2001/CT-TTG cuỷa thuỷ tửụựng chớnh phuỷ veà vieọc ủoồi mụựi chửụng trỡnh giaựo duùc( chơng trình

và phơng pháp giảng dạy)

Trang 3

biệt khó khăn.”

* Dạy học môn ngữ văn nói chung và phân môn tiếng Việt nói riêng ở trờng THCS thực chất là góp phần hình thành những con ngời có trình độ học vấn phổ thông cơ sở , chuẩn bị cho học sinh ra xã hội hoặc tiếp tục học lên nữa ở bậc học cao hơn Đó là những ngời có ý thức tự tu dỡng , biết thơng yêu quý trọng gia đình , bạn

bè ; có lòng yêu nớc yêu CNXH, biết hớng tới những t tởng, tình cảm cao đẹp nh lòng nhân ái , tinh thần tôn trọng lẽ phải , sự công bằng , lòng căm ghét cái sấu, cái ác Đó

là con ngời biết rèn luyện để có tính tự lập, t duy sáng tạo , bớc đầu có năng lực cảm thụ giá trị chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật , trớc hết là trong văn học, có năng lực thực hành và nằng lực sử dung tiến Việt nh một công cụ t duy và giao tiếp đó cũng

là ngời có ham muốn đêm tài trí của mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ tổ quốc

Dạy học tiếng Việt là làm cho học sinh “ nắm đợc những đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa của các loại đơn vị tiêu biểu của tong bộ phận cấu thành tiếng Việt ”, “ nắm đợc những tri thức về ngữ cảnh , về ý định, về mục đích , về hiệu quả giao tiếp , nắm đợc các quy tắc chi phối vịêc sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp trong nhà trờng cũng nh ngoài xã hội”

* Cũng nh việc dạy học các môn học khác , trong quá trình dạy học Tiếng Việt học sinh phải tích cực chủ động biến quá trình học tập thành quá trình tự học tập, còn giáo viên thì giữ vai trò tổ chức , hớng dẫn hoạt động của học sinh

Theo phơng hớng đó giáo viên phải tích cực hoá hoạt động của ngời học , tạo mọi cơ hội ( chủ yếu thông qua con đờng thực hành và luyện tập ) để tất cả học sinh tìm hiểu phân tích , suy nghĩ và tự nhận ra các tri thức của bài học

*Phơng pháp dạy học Tiếng Việt hiện nay phải dựa trên con đờng giao tiếp Theo

đó, phải tăng cờng các hoạt động giao tiếp,đàm thoại giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh trong toàn bộ quá trình dạy học Từ hoạt động tìm hiểu , phân tích nhận ra tri thức , đến hoạt động thực hành , luyện tập củng cố kiểm tra và

đánh giá đồng thời cũng phải giảm thiểu cách giảng dạy theo lối thuyết giảng Hơn nữa phơng pháp dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp cũng đòi hỏi ngời giáo viên ngữ văn phải tận dụng

mọi hoàn cảnh giảng dạy để rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng việt cho học sinh

Để việc đổi mới phơng pháp về vấn đề trên có hiệu qủa cao thì trớc tiên giáo viên phải tích cực trong việc đổi mới phơng pháp trong quá trình giảng dạy về việc rèn kỹ năng đặt câu và sữa lỗi cho học sinh, phát huy tính tích cực tự giác của học sinh – lấy học sinh làm trung tâm Tích cực chủ động trong việc tìm hiểu kiến thức về kỹ năng đặt câu và chữa lỗi cho học sinh qua việc tham khảo kiến thức ở các tài liệu có liên quan

Trong quá trình giảng dạy hiện nay thì nhiệm vụ của ngời giáo viên dạy Ngữ văn nói chung và dạy phân môn tiếng việt nói riêng có vai trò quan trọng Đặc biệt trong giảng dạy phân môn Tiếng Việt giáo viên đã tích cực đổi mới phơng pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, giúp các em tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả nhất Từ đó giúp các em có khả năng t duy chính xác, có kỹ năng giao tiếp tốt trong quá trình học tập

Trang 4

biệt khó khăn.”

Chơng II: Thực trạng của đề tài

I Lịch sử của đề tài.

Trong quá trình giảng dạy và qua việc thực hiện dự giờ các đồng nghiệp tôi thấy

có một số giờ dạy tiếng việt mà cụ thể là trong việc rèn kỹ năng đặt câu và sửa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ cho học sinh đạt hiệu quả cha cao Có những hoạt động dạy của giáo viên đôi khi còn thụ động, máy móc, hình thức Giáo viên còn gặp nhiều khó khăn trong việc rèn luyện kỹ năng đặt câu cho học sinh qua các giờ dạy vì thời gian trên lớp để thực hiện và tổ chức cho học sinh rèn luyện là không nhiều

Mặt khác do học sinh khối 6 của trờng mới chuyển từ lớp 5 lên nên cha có nhiều thời gian để thích nghi nhanh với các phơng pháp học tập mới Vì thế khiến cho một

số giờ dạy đạt hiệu quả cha cao Một bộ phận học sinh còn chậm , năng lực còn hạn chế, các em học tập còn thụ động, cha tích cực, việc chuẩn bị bài cha tốt, khả năng nắm bắt về câu và cách chữa lỗi của không ít học sinh vẫn còn mơ hồ, cha chắc chắn

Đặc biệt là các em là học sinh dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn , ít có điều kiện giao lu với bên ngoài, vốn tiếng Kinh của các em cha nhiều nên việc tiếp thu của các em là còn hạn chế

Các em là học sinh đầu cấp nên việc rèn kĩ năng đặt câu có đầy đủ thành phần chủ ngữ và vị ngữ , và tránh bị mắc lỗi về những vấn đề này , để các em có nền móng kiến thức cho các lớp tiếp theo Và đặc biệt giúp các em có vốn kiến thức về tiếng Việt , sử dụng thành thạo trong giao tiếp cũng nh trong cuộc sống hàng ngày để các

em không gặp phải những sai sót đắng tiếc trong giao tiếp cũng nh trong quá trình tạo lập văn bản

II Kết quả khảo sát đầu năm.

Thông qua việc khảo sát đầu năm tôi nhận thấy một số lỗi cơ bản học sinh thờng mắc phải là câu thiếu thành phần nòng cốt

1 Câu thiếu thành phần chủ ngữ.

VD1 : Qua trận ma rào chiều qua, làm cho sân trờng em thêm sạch đẹp

( Câu thiếu chủ ngữ)

( HS Lò văn Dũng- lớp 6 )

VD 2 : Ngày hôm nay trơì nắng, nên bị héo

( Câu thiếu chủ ngữ)

( HS Lò Thị Hơng- lớp 6)

v v v

+ Phân tích lỗi : Đây là câu thiếu chủ ngữ do HS nhầm trạng ngữ “Qua trận ma rào chiều qua ” “Ngày hôm nay trơì nắng” là chủ ngữ

+ Nguyên nhân : Vì trạng ngữ và chủ ngữ có những đặc điêm gần gũi với nhâu : đều

đứng ở đàu câu , và đứng trớc vị ngữ Khi phân tích nhận diện cac thành phần câu các em lạ dựa vào hình thức cứ đứng ở đầu câu là chủ ngữ

Trang 5

biệt khó khăn.”

Mặt khác các em cha phân biệt đợc đâu là thành phần chính đâu là thành phần phụ trong câu và không thấy đợc sự khác biệt về c hức năng của chủ ngữ và vị ngữ , trạng ngữ ở trong câu

2- Câu thiếu thành phần vị ngữ:

VD: Dáng dấp thanh tú trong chiếc áo mầu xanh da trời của cô giáo

( Câu thiếu vị ngữ)

(HS Lò Văn Tuấn- lớp 6)

VD2 Chiếc áo mới , tôi mua

( Câu thiếu vị ngữ)

( HS Lò Thị Vui- lớp 6)

( Câu thiếu vị ngữ)

v v v

+ Phân tích lỗi :

Câu không có vị ngữ mà chỉ có chủ ngữ : “Dáng dấp thanh tú trong chiếc áo mầu xanh da trời của cô giáo” học sinh nhầm định ngữ thanh tú trong chiếc áo mầu xanh

da trời của cô giáo” là vị ngữ

+ Nguyên nhân : Do HS không phân biệt đợc sự khác biệt giữa choc năng của định ngữ và vị ngữ Chính vì thế khi HS phân tích và viết câu nhầm lẫn và thiếu

Kết quả khảo sát về kỹ năng đặt câu và chữa lỗi về chủ ngữ, vị ngữ nh sau

Lớ

Đặt câu

đúng Đặt câu sai hiện lỗi sai, Biết phát

chỉ ra

Cha biết phát hiện lỗi, cha chỉ Lầm trạng

ngữ là chủ ngữ

Cha có chủ ngữ Cha có vị ngữ

Số

l-ợng Lệ Tỉ Số l- ợng Lệ Tỉ Số l- ợng Lệ Tỉ Số l- ợng Lệ Tỉ Số l- ợng Lệ Tỉ Số l- ợng Lệ Tỉ

6 36 10 27.7 13 36,

1 7 19, 4 6 16, 6 13 36, 1 23 63,9

Nh vậy kỹ năng đặt câu và chữa lỗi về chủ ngữ, vị ngữ của học sinh còn nhiều hạn chế Từ thực trạng trên để công tác giảng dạy và học tập của học sinh đạt hiệu quả tốt hơn tôi đã hớng dẫn HS sửa chữa những lỗi mà các em đã mắc phải bằng những biện pháp và phơng pháp phù hợp

Chơng III : Giải quyết vấn đề

I Giải pháp thực hiện

Sau khi nghiên cứu vấn đề này bằng kinh nghiệm và năng lực của bản thân tôi xin

đa ra một số giải pháp sau đây

Trang 6

biệt khó khăn.”

1 - Đói vơí giáo viên

Giáo viên cần chủ động đầu t nghiên cứu, thiết kế bài dạy, su tầm các lỗi sai về

đặt câu và chữa lỗi, chuẩn bị đồ dùng dạy học cho tiết dạy Từ đó có cơ sở cho việc

áp dụng đổi mới phơng pháp cũng nh sử dụng các phơng pháp dạy học phù hợp với từng đối tợng học sinh trong lớp dạy để việc rèn kỹ năng đặt câu và chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ cho học sinh đạt kết quả tốt hơn

2-Đối với học sinh

Học sinh cần phải tích cực chủ động học tập theo sự hớng dẫn của giáo viên Có ý thức chuẩn bị bài đầy đủ, và luyện kỹ năng về đặt câu và sửa lỗi, cũng nh ý thức đợc tầm quan trọng của những kỹ năng đặt câu và chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ trong giao tiếp cũng nh trong quá trình học tập

Để thực hiện việc đổi mới phơng pháp cần tiến hành ứng dụng về việc rèn luyện

kỹ năng đặt câu và chữa lỗi về chủ ngữ, vị ngữ cho học sinh lớp 6 trên cơ sở đa ra những định hớng, những hoạt động cơ bản nhất đối với một tiết dạy để cho việc dạy

và học về vấn đề trên tốt hơn

II Các biện pháp thực hiện.

Để học sinh thấy đợc những lỗi sai của mình, và cách sửa sai tôi đã thực hiện các biện pháp sau :

1- Chữa lỗi sai học sinh mắc phải.

* Câu thiếu thành phần chủ ngữ.

VD1 : Qua trận ma rào chiều qua, làm cho sân trờng em thêm sạch đẹp

( Câu thiếu chủ ngữ)

( HS Lò văn Dũng- lớp 6 )

GV hớng dẫn học sinh sửa :

VD1 : Qua trận m a rào chiều qua , nó// làm cho sân tr ờng em thêm sạch đẹp

TN CN VN

VD 2 : Ngày hôm nay trơì nắng, nên bị héo

( Câu thiếu chủ ngữ)

( HS Lò Thị Hơng- lớp 6)

Sửa : Ngày hôm nay trơì nắng, nên cây Keo bị héo

TN CN VN

* Câu thiếu thành phần vị ngữ.vị ngữ:

VD: Dáng dấp thanh tú trong chiếc áo mầu xanh da trời của cô giáo

( Câu thiếu vị ngữ)

Sửa là : Dáng dấp của cô giáo / thanh tú trong chiếc áo mầu xanh da trời

CN VN

VD2 Chiếc áo mới , tôi mua

( Câu thiếu vị ngữ)

Trang 7

biệt khó khăn.”

( HS Lò Thị Vui- lớp 6)

Sửa là : Chiếc áo mới , tôi / mới mua rất đẹp.

ĐN CN VN

2 Rèn kỹ năng đặt câu.

Để học sinh có khả năng đặt câu đúng, hạn chế những sai sót trong quá trình học sinh sử dụng việc đặt câu trong giao tiếp và luyện tập trong các gìơ học đặc biệt là trong các tiết kiểm tra Cần cho học sinh hiểu rõ việc đặt câu cần phải đúng quy tắc ngữ pháp Trau dồi vốn tiếng kinh cho học sinh

a Câu cần phải viết đúng với quy tắc ngữ pháp Tiếng Việt.

Câu đúng ngữ pháp tiếng việt là câu có đầy đủ hai thành phần nòng cốt là chủ ngữ

và vị ngữ Vì thế, yêu cầu đầu tiên đối với việc đặt câu là phải đặt câu đúng với qui tắc Tiếng Việt Chẳng hạn, những câu nh:

(1) Trời / m a

C V

(2) Nếu trời m a / thì chúng ta / không đi cắm trại nữa

CN2 VN2 CN1 VN1

(3) Mùa xuân đến / chim chóc / ríu rít bay về

C V C V

Tr C

Đây là những câu đợc đặt đúng với qui tắc đặt câu Tiếng Việt Câu (1) là câu có một kết cấu chủ- vị (C-V) đợc gọi là câu đơn; Câu (2) là câu có hơn một kết cấu C-V, trong đó không có kết cấu C-V nào bao hàm kết cấu C-V nào đợc gọi là câu ghép; Câu (3) là câu cũng có hơn một kết cấu C-V nhng chỉ có một kết cấu C-V làm nòng cốt, kết cấu C-V còn lại làm thành phần câu, đợc gọi là câu mở rộng thành phần

Tuy nhiên, các qui tắc ngữ pháp của Tiếng Việt trong quá trình sử dụng vẫn

có sự linh hoạt uyển chuyển mà những trờng hợp sau đây sẽ cho chúng ta hiểu rõ hơn để có nắm chắc hơn và vận dụng vào cách đặt câu và xác định câu chính xác Vì vậy khi nắm chắc các trờng hợp sau các em sẽ có những kỹ năng đặt câu, phân biệt câu cũng nh chữa lỗi hiệu quả hơn

* Phần lớn các câu trong Tiếng Việt đòi hỏi phải có đầy đủ hai thành phần nòng cốt là chủ ngữ và vị ngữ Tuy thế, tuỳ những hoàn cảnh sử dụng cụ thể, ngời ta có thể dùng câu đặc biệt ( Câu không phân định thành phần hay không cấu tạo theo mô hình cụm C - V), câu rút gọn ( câu bị tỉnh lợc đi một thành phần nào đó)

Ví dụ những câu đặc biệt: Ma, Mùa xuân, v v

Hoặc những câu rút gọn sau (thành phần bị tỉnh lợc)

Ví dụ:(1) - Anh đi đâu đấy?

- Đi học ( Tỉnh lợc chủ ngữ)

(2) - Ai là chủ nhà đây?

- Tôi ( Tỉnh lợc vị ngữ)

(3) - Anh ấy đi hôm nào?

Trang 8

biệt khó khăn.”

- Hôm qua ( Tỉnh lợc cả chủ ngữ và vị ngữ)

* Trong phạm vi câu:

+ Trật tự giữa hai thành phần nòng cốt thông thờng là chủ ngữ đứng trớc vị ngữ Ví dụ: - Em / học Tiếng Việt.

C V

- Quyển sách này / rất hay

C V

+ Trật tự các thành phần khác:

- Trạng ngữ của câu có vị trí tơng đối tự do ( tuỳ theo điều kiện khách quan và dụng

ý của ngời nói).

* Trạng ngữ có thể đứng ở đầu câu

Ví dụ: - Ngày mai , tôi nghỉ học.

* Trạng ngữ có thể đứng ở giữa câu

Ví dụ: Tôi, ngày mai, nghỉ học.

* Trạng ngữ có thể đứng ở cuối câu

Ví dụ: Tôi nghỉ học, ngày mai

- Đề ngữ của câu thờng có vị trí đứng đầu câu

Ví dụ: Giàu, tôi cũng giàu rồi.

- Phần chuyển tiếp thờng đứng ở đầu câu.

Ví dụ: ( ) Nói tóm lại, chúng ta đang gặp nhiều khó khăn.

- Phần hô - đáp ở trong câu thờng có hai vị trí là:

* Đầu câu: - Nam ơi, lại đây.

*Hoặc cuối câu: - Lại đây Nam ơi.

- Phần phụ chú thờng đi kèm ngay với từ mà nó bổ sung, giải thích.

Ví dụ: Nguyễn Du, tác giả truyện Kiều, là nhà thơ lớn của dân tộc.

Mặt khác để học sinh có khả năng và phơng pháp tốt về kỹ năng đặt câu đúng, chính xác và không sai về mặt ngữ nghĩa thì cần phải lu ý đến biện pháp sau đây

đó là;

b/ Câu phải có quan hệ ngữ nghĩa phù hợp với t duy ngời Việt.

Trong quá trình đặt câu, ngời viết ngoài việc lu ý đến yêu cầu viết đúng ngữ pháp Tiếng Việt, còn phải chú ý đến quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ ngữ trong câu Chẳng

hạn, những câu nh: Cái bàn tròn này vuông; Cái bàn gỗ này làm bằng sắt là

những câu có quan hệ ngữ nghĩa nội tại không hợp lôgic nói chung vì những câu này mâu thuẫn nhau về các nét nghĩa Cho nên khi viết câu phải chú ý sao cho các nét nghĩa trong câu không đợc mâu thuẫn nhau

Tính không mâu thuẫn giữa các nét nghĩa của từ ngữ trong câu thể hiện ở ba

điểm sau:

b.1- Câu phản ánh đúng quan hệ trong thế giới khách quan Những câu phản

ánh không đúng hiện thực khách quan là những câu sai.

Ví dụ: “ Truyện Kiều” là tác phẩm kiệt tác của Nguyễn Công Hoan.(là một câu sai).

b.2 - Quan hệ giữa các thành phần câu, về các câu phải hợp lôgic Những câu

có quan hệ không hợp lôgic là những câu sai.

Ví dụ: Vì trời nắng nên đờng lầy lội.( là một câu sai).

Trang 9

biệt khó khăn.”

b.3 - Quan hệ giữa các thành phần đẳng lập phải là quan hệ đồng loại Những câu có các thành phần này thuộc các loại khác nhau là những câu sai.

Ví dụ: Ngời chiến sĩ bị hai vết thơng, một vết ở bên đùi trái và một vết ở Quảng Trị (

là một câu sai).

Mặt khác đối với học sinh thì việc xác định và hiểu rõ về tác dụng của các dấu câu là điều rất quan trọng vì nếu nắm chắc tác dụng của các dấu câu thì khi đặt câu và sử dụng câu sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn về ý nghĩa của câu Do vậy học sinh sẽ có kỹ năng xác định và đặt câu chính xác Cho nên phải cho học sinh nắm chắc biện pháp sau đây, đó là;

c - Câu phải đợc đánh dấu câu phù hợp.

VD : Khi tôi yêu cầu học sinh viết một đoạn văn miêu tả về chị gái mình,có em học sinh viết nh sau:

Chị gái, em không xinh lắm, nhng trông chị rất duyên Mắt chị, em rất tròn và to, hàm răng của chị trắng và đều , em rất thích ngắm chị mỗi khi chị cời.”

Đây là đoạn văn học sinh đánh dấu không phù hợp đọc đoạn văn ta thấy đoạn văn nói về chính ngời viết văn chứ không phải là viết về chị gái mình

Do đó, khi đặt câu, ngời viết phải đặc biệt chú ý đến việc đặt dấu câu làm cho

các quan hệ về ngữ pháp, ngữ nghĩa đợc tách bạch, rõ ràng, tránh cho ngời đọc có thể hiểu sai ý nghĩa của câu

Trong Tiếng Việt hiện nay sử dụng một số loại câu chủ yếu sau:

c.1) Dấu chấm: Dùng để đánh dấu sự kết thúc của câu trần thuật.

c.2) Dấu chấm hỏi: Dùng để đánh dấu câu nghi vấn.

c.3) Dấu chấm lửng: Dấu dùng để biểu thị lời nói bị ngắt quãng vì xúc động; hài

h-ớc; biểu thị sự kéo dài âm thanh; biểu thị khoảng cách khách quan về thời gian, ; biểu thị điều ngời nói cha nói hết ( Dấu chấm lửng khi đặt trong ngoặc đơn, ngoặc vuông( )[ ] dùng để biểu thị lời dẫn trực tiếp bị lợc bỏ một số câu)

c.4) Dấu chấm phẩy: dùng để phân cách các thành phần tơng đối độc lập trong câu.

c.5) Dấu chấm than: Dấu dùng để đánh dấu câu cảm thán hoặc câu cầu khiến ( Dấu

chấm than đôi khi đặt cùng dấu chấm hỏi( ? ) để biểu thị thái độ mỉa mai, châm biếm)

c.6) Dấu ngang cách: Dấu dùng để phân biệt thành phần chêm xen, đặt trớc những

lời đối thoại, các bộ phận liệt kê

c.7) Dấu hai chấm: Dấu dùng để báo hiệu điều trình bày tiếp theo mang ý nghĩa giái

thích, thuyết minh, báo hiệu lời trích dẫn trực tiếp, lời đối thoại

c.8) Dấu ngoặc đơn: Dấu dùng để tách các thành phần có tác dụng giải thích, bổ

sung; đóng khung bộ phận chỉ nguồn gốc lời trích dẫn

c.9) Dấu ngoặc kép: Dấu dùng để đánh dấu lời dẫn trực tiếp, đóng khung tên riêng,

tên tác phẩm, đánh dấu những từ ngữ đợc hiểu theo nghĩa khác

c.10) Dấu phẩy: Dấu dùng để tách các thành phần cùng loại, các vế câu; tách các

thành phần biệt lập ( hô ngữ, phần chuyển tiếp, phần chú thích, trạng ngữ ) tạo nhịp

điệu biểu cảm cho câu

Để học sinh thành thạo và đạt đợc kỹ năng đặt câu đúng theo quy tắc ngữ pháp, quan hệ ngữ nghĩa phù hợp thì cần phải giúp học sinh rèn luyện câu Vì đối

Trang 10

biệt khó khăn.”

với các em thì nếu nh càng đợc rèn luyện về các phơng pháp đặt câu thì càng làm cho các em có điều kiện hoàn chỉnh khả năng của mình đối với việc đặt câu và sử dụng câu trong giao tiếp tốt hơn Do vậy cần thực hiện các thao tác sau đây;

d.1 Đặt câu- mở rộng và rút gọn câu:

* Đặt câu và mở rộng câu:

- Đặt câu: Nông dân gặt

- Thêm các từ ngữ mở rộng chủ ngữ.

Ví dụ: Nông dân xã tôi gặt.

-Thêm các từ mở rộng vị ngữ.

Ví dụ: Gió thổi -> Gió thổi mạnh.

- Thêm các từ mở rộng cả chủ ngữ và vị ngữ.

Ví dụ: Nông dân gặt -> Nông dân xã tôi gặt lúa mùa.

- Thêm các từ ngữ làm thành phần trạng ngữ, đề ngữ của câu.

Ví dụ: Gió thổi -> Hôm nay, gió thổi mạnh.

- Hôm nay, gió mùa đông bắc thổi mạnh

* Rút gọn câu: Biện pháp làm cho câu chỉ còn lại hai thành phần chính ( C-V).

Ví dụ: Con tàu xinh xinh trờn đi trong đêm tối.

-> Con tàu / tr ờn đi

C V

d.2) Tách và ghép câu:

* Tách câu: Biện pháp làm cho một câu ( có nhiều vế, nhiều bộ phận) trở thành nhiều câu riêng biệt Ví dụ: Thầy giáo xem báo còn học sinh đọc sách.

-> Thầy giáo xem báo Học sinh đọc sách

* Ghép câu: Biện pháp ( ngợc lại với tách câu) làm cho nhiều câu đơn trở thành một câu Ví dụ: - Ông nội đến Mọi ngời ra đón ông.

-> Ông nội đến, mọi ngời ra đón ông

- Trời nổi gió Một cơn ma ập đến

-> Trời nổi gió và một cơn ma ập đến

3 Rèn kỹ năng chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ.

Trớc hết để học sinh nắm đợc cách chữa lỗi, giáo viên phải giúp học sinh hiểu đợc Câu đúng quy tắc ngữ pháp nh phần kỹ năng đặt câu đã nêu ra Nghĩa là câu phải có

đầy đủ thành phần chủ ngữ và vị ngữ mới đợc chấp nhận Đó chính là cơ sở và yêu cầu đầu tiên để học sinh có kỹ năng cơ bản đối với việc chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ Vậy để giúp học sinh chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ tốt cần thực hiện một số biện pháp sau đây;

a - Phải xác định đợc thành phần chủ ngữ , vị ngữ và rút ra lỗi sai của câu.

Đối với học sinh thì đây là một thao tác cơ bản nhng cần thiết bắt đầu cho việc

chữa lỗi.Vì chỉ khi nào học sinh đã xác định đợc câu mà mình cần sửa đã có đầy đủ thành phần chủ - vị cha, câu đó có thiếu thành phần nào không, nếu thiếu thì thiếu thành phần chủ ngữ hay vị ngữ thì lúc đó học sinh mới có cơ sở để tiếp tục tiến hành

Ngày đăng: 31/08/2013, 15:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w