Lịch sử hình thành máy may từ xưa đến nay, phân loại và chức năng của máy may, các thương hiệu máy may nổi tiếng. Các trường phái nghệ thuật thời đại Phục Hưng. Khi nói đến hội họa, người ta thường hay nhắc tới cụm từ “trường phái”, đây là một cụm từ dùng để chỉ phong cách trong đó phân loại một nhóm các họa sỹ có chung những kỹ thuật và phương pháp thể hiện. Các trường phái hội họa trên thế giới là vô cùng nhiều, các trường phái xuất hiện ở bất cứ quốc gia nào, và ở bất cứ khoảng thời gian nào. Vấn đề chỉ là tính đại chúng – được nhiều người biết đến hay không mà thôi.
Trang 1I TRƯỜNG PHÁI HỘI HỌA CUBISM
Khi nói đến hội họa, người ta thường hay nhắc tới cụm từ “trường phái”, đây là một cụm từ dùng để chỉ phong cách trong đó phân loại một nhóm các họa sỹ có chung những kỹ thuật và phương pháp thể hiện Các trường phái hội họa trên thế giới là vô cùng nhiều, các trường phái xuất hiện ở bất cứ quốc gia nào, và ở bất cứ khoảng thời gian nào Vấn đề chỉ là tính đại chúng – được nhiều người biết đến hay không mà thôi
I SỰ HÌNH THÀNH CỦA TRƯỜNG PHÁI CUBISM.
- Chủ nghĩa lập thể, còn gọi là trường phái lập thể, (Cubism) là một trường phái hội họa tạo ra cuộc cách mạng về hội họa và điêu khắc châu Âu vào đầu thế kỷ 20
-Chủ nghĩa lập thể do Georges Braque và Pablo Picasso khởi xướng năm 1906 tại khu Montmartre của kinh
đô ánh sáng Paris, Pháp
- Nhà phê bình hội họa người Pháp Louis Vauxcelles sử dụng danh từ "lập thể" lần đầu tiên để ngụ ý rằng đó là những hình lập phương kỳ quặc vào năm 1908
- Sau đó danh từ này được hai nhà khai phá của trường phái lập thể sử dụng một vài lần và sau đó thành tên gọi chính thức
- Lập thể ảnh hưởng tới các nghệ sĩ vào thập niên 1910 và khơi dậy một vài trường phái nghệ thuật mới như
chủ nghĩa vị lai, chủ nghĩa cấu trúc và chủ nghĩa biểu hiện
II CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN
Chia thành 3 giai đoạn:
+ Chủ nghĩa Lập thể chịu sự ảnh hưởng của Cézanne (1907-1909),
+ Chủ nghĩa Lập thể Phân tích (1909-1912)
+ Chủ nghĩa Lập thể Tổng hợp
Hầu hết các họa sĩ theo trường phái Lập thể đều đã từng sáng tác theo cả hai phong cách Phân tích và Tổng hợp
a) Lập thể phân tích
- Đối tượng trong tranh bị chia thành nhiều mảng nhỏ rối rắm, khá trừu tượng
- Những mảng hình nhỏ sẽ được đặt dày đặc tại trung tâm sau đó tản ra nhiều phía, hướng về các cạnh.
- Nói một cách đơn giản, Lập thể Phân tích tiếp cận đối tượng như một nhiếp ảnh gia với hàng loạt những bức
ảnh chụp từ nhiều góc độ khác nhau vào các thời điểm khác nhau
- Những hình ảnh này sau đó sẽ được cắt ra và xếp lại một cách ngẫu nhiên, chồng chéo trên cùng một mặt phẳng
- Thêm một điểm đặc trưng khác của chủ phong cách này chính là bảng màu hết sức đơn giản, đến mức hầu
như đơn sắc
Trang 2- Do đó người xem không bị phân tâm khi nhìn vào phom dáng của cấu trúc và mật độ ảnh ở trung tâm khung
hình
- Trong giai đoạn sáng tác này, các họa sĩ hầu như dùng bảng màu giống nhau, thiên về các màu vàng và màu nâu xám
- Những đặc điểm đó nói lên thời gian này đang là lúc Picasso, Braque cùng đồng nghiệp của mình hoàn thiện
kỹ thuật và cơ sở lý luận của hội họa Lập thể
b) Lập thể tổng hợp
- Bố cục của bức tranh gồm các chi tiết chồng chất lên nhau, những chi tiết này được tô sơn hoặc được trét sơn lên nền vải, chúng có màu sắc sặc sỡ tươi sáng hơn,
- Sử dụng cac hình trang trí nhiều hơn hoặc cắt dán
Không giống như lập thể phân tích, ở đó vật thể bị bẻ gãy làm nhiều mảnh, lập thể phân tích cố gắng kết hợp
nhiều vật thể với nhau để tạo nên các hình khối mới
- Thời kỳ này còn đánh dấu sự ra đời của tranh dán và tranh dán giấy
- Picasso đã phát minh ra tranh dán với bức tranh nổi tiếng của ông là “Tĩnh vật với chiếc mây” trong đó ông đã dán những miếng vải dầu lên một phần của chiếc ghế mây
- Braque cũng lấy cảm hứng từ bức tranh này để tạo ra tác phẩm Đĩa hoa quả và cốc thủy tinh Tranh dán giấy cũng gồm các vật liệu dùng để dán nhưng có điều khác là các mẩu giấy dán chính là các vật thể
- Họ còn đi xa hơn nữa là dùng giấy với
hình khắc gỗ Sau đó còn đưa thêm các mẩu quảng cáo trên báo vào tác phẩm của họ và điều này làm cho các
công trình của các nhà lập thể có thêm phần màu sắc
III ĐẶC TRƯNG NGHỆ THUẬT
1) Chủ đề và hình ảnh :
- Về chủ thể trong tác phẩm của họa sĩ lập thể,thì chủ yếu là vẽ về con người hay tĩnh vật
- Về hĩnh ảnh thì được người họa sĩ khắc họa một cách khá rõ nét và cụ thể
2) Màu sắc và ánh sáng :
- Về màu sắc trong tác phẩm hội họa lập thể thì người họa sĩ sử dụng ít màu sắc và khá tối giản về màu sắc.
-Về ánh sáng thì các tác phẩm hội họa lập thể được người họa sĩ tô vẽ hơi tối ánh sáng hơi mờ ảo và có phần
mờ nhạt
3) Các yếu tố hình họa
- Người họa sĩ thường từ bỏ luật xa gần, đối tượng được mổ xẻ, phân tích và được kết hợp lại trong một hình
thức trừu tượng
Trang 3IV MỘT SỐ HỌA SỸ TIÊU BIỂU CỦA TRƯỜNG PHÁI LẬP THỂ CUBISM
- Có rất nhiều họa sĩ thuộc trường phái lập thể Georges Braque, Marcel Duchamp, Juan Gris, Fernand Leger, Jacques Lipchitz, Louis Marcoussis, Marie Marevna, Jean Metzinger, Francis Picabia, Pablo Picasso, Liubov Popova, Marie Vassilieff, Fritz Wotruba…
- Trong đó có hai họa sĩ nổi tiếng tiêu biểu là hai nhà sáng lập ra trường phái đó là:
Georges Braque và Pablo Picasso
1) Pablo Picasso (1881-1973)
- Pablo Picasso sinh năm 1881 tại Magala, miền nam Tây Ban Nha
- Ngay từ khi còn nhỏ, Picasso đã bộc lộ sự say mê và năng khiếu trong lĩnh vực hội họa
- Cha của Picasso là một họa sĩ chuyên vẽ chim theo trường phái hiện thực, còn là một giảng viên nghệ thuật và phụ trách bảo tàng địa phương, trường Mỹ thuật công nghệ tạo hình của barcelona Vì vậy, Picasso có được những bài học đầu tiên về nghệ thuật chính từ cha mình
Vào Học viện mỹ thuật (Academia de San Fernando) tại Mairid được chưa đầy một năm, năm 1900 Picasso đã
bỏ học để sang Paris
- Đây là giai đoạn khó khăn của người họa sĩ trẻ khi ông phải sống trong cảnh nghèo túng, lạnh lẽo và đôi khi tuyệt vọng, phần lớn tác phẩm của Pablo đã phải đốt để sưởi ấm cho căn phòng nhỏ
a) Đời tư
- Năm 1904,ông bắt đầu mối quan hệ lâu dài với Fernande Olivier Thời kỳ này được gọi là Thời kỳ Hồng vì đây là thời kỳ ông toàn dùng màu hồng nhạt mềm mại để làm nền tranh cho mình, thời kỳ
- Tồn tại trong 3 năm Sau khi bắt đầu nổi tiếng và trở nên giàu có
- Năm 1950, họa sĩ được nhận Giải thưởng hòa bình Stalin của chính phủ Liên Xô
- Năm 1962, ông được nhận một giải thưởng lớn khác của nhà nước Xô viết, đó là Giải thưởng hòa bình Lê Nin
b)Tác phẩm
- Được chia thành 5 thời kỳ:
- Thời kỳ Xanh (1901–1904)
- Thời kỳ Hồng (1904–1906)
- Thời kỳ Ảnh hưởng Phi châu - điêu khắc (1908–1909)
- Thời kỳ Lập thể phân tích (1909–1912) Thời kỳ Lập thể tổng hợp (1912–1919)
Trước năm 1901
- Picasso bắt đầu tập vẽ dưới sự hướng dẫn của cha ông từ năm 1890 Tiêu biểu là bức The First Communion (1896)
Trang 4- Cùng năm, khi mới 14 tuổi, Picasso hoàn thành tác phẩm Portrait of Aunt Pepa (Chân dung dì Pepa), một bức chân dung gây ấn tượng sâu sắc đến cả Juan-Eduardo Cirlot
- Năm 1897, chủ nghĩa hiện thực của Picasso bắt đầu chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa chủ trương , thể hiện qua một loạt các bức tranh phong cảnh sử dụng tông màu xanh lá cây và tím không tự nhiên
Thời kỳ Hồng (1905–1907)
- - Các tác phẩm của Picasso trong giai đoạn này mang vẻ tươi tắn hơn với việc sử dụng nhiều màu cam và hồng
Thời kỳ Ảnh hưởng Phi châu (1908–1909)
- Thời kỳ Ảnh hưởng Phi châu bắt đầu với tác phẩm nổi tiếng “Những cô nàng ở Avingon (Les Demoiselles d'Avignon)” lấy cảm hứng từ những đồ tạo tác Phi châu
Thời kỳ lập thể phân tích (1909-1912)
- Phong cách vẽ mà Picasso đã phát triển sử dụng những màu đơn sắc ngả nâu cho các tác phẩm Các vật thể sẽ được 2 họa sĩ tách thành những bộ phận riêng biệt và “phân tích” chugns theo hình dạng bộ phận này
Thời kỳ Lập thể tổng hợp (1912–1919)
Đây là sự phát triển chủ nghĩa lập thể của Picasso với việc sử dụng nghệ thuật cắt dán bằng các chất liệu vải, giấy báo, giấy dán tường để mô tả đề tài tĩnh vật và nhân vật
Di sản
- Khi Picasso qua đời, rất nhiều tác phẩm do họa sĩ sáng tác vẫn thuộc quyền sở hữu của ông vì Picasso cảm thấy không cần thiết phải bán chúng
- Picasso có vài bức tranh nằm trong danh sách những tác phẩm nghệ thuật đắt giá nhất thế giới:
Bức Les Noces de Pierrette - được bán với giá hơn 51 triệu USD năm 1999
Bức Garçon à la pipe - được bán với giá 104 triệu USD tại nhà đấu giá Sothebys năm 2004 đã lập
kỉ lục thế giới về giá cho một tác phẩm nghệ thuật.24
Bức Dora Maar au Chat - được bán với giá 95,2 triệu USD tại nhà đấu giá Sotheby's năm 2006
"Nude on a black armchair"-được bán với giá 45,1 triệu USD năm1999
2) Georges Braque (1882-1963)
- Là một họa sĩ tự học nhưng thành danh rất sớm
- Ông chính là người đã phát kiến ra kỹ thuật dán giấy, làm thành các bức tranh theo kiểu vẽ vân gỗ hay vân thớ đá cẩm thạch trong nghệ thuật hiện đại
- Đến Paris năm 1900, ông nghiên cứu hội họa và sáng tác như một họa sĩ Dã thú thực thụ Và cuộc gặp gỡ với Picasso đã mang đến một bước ngoặt cho cuộc đời ông, khi Braque bị ám ảnh và mê hoặc với bức
“Những cô gái Avignon” và từ đó quyết định dấn thân cùng Picasso vào phái Lập thể
Trang 5- - Trong các tác phẩm của Brauqe, người ta hầu hết chỉ thấy những mảng trầm tối màu nâu, vàng đất, nâu đỏ, xám… mà vắng đi các màu rực rỡ; cho dù ở các tác phẩm theo phong cách Tổng hợp
- Ở phong cách Phân tích của ông, các hình khối được chia nhỏ thành những hình chữ nhật, tam giác… chồng chất lên nhau; màu sắc bị giảm hầu như đến mức tối thiểu sức biểu cảm, chỉ còn lại tông nâu xám
Bù lại, ấn tượng lại đến từ sắc độ và bố cục của diện, tuyến
V ỨNG DỤNG CỦA TRƯỜNG PHÁI LẬP THỂ ĐỜI SỐNG ( ĐẶC BIỆT LÀ THỜI TRANG)
Trường phái lập thể phát triển hoàng kim vào những năm đầu TK XX Tuy nhiên trong đời sống cũng có rất nhiu sản phẩmđ ặc sắc được hưởng ứng mạnh mẽ nhờ lấy cảm hứng từ trường phái đó
-Trường phái lập thể có ảnh hưởng không nhỏ trong ngành thời trang Nhờ cảm hứng từ những bức tranh của trường phái mà nhiều nhà thiết kế đã tạo nên nhiều bộ sưu tập độc đáo và được nhiều người yêu thích
- Những mảng màu lập thể trong bộ sưu tập của các nhà thiết kế thời trang:
VI KẾT LUẬN
Chúng ta vừa tìm hiểu qua về trường phái hội họa Cubism (Lập thể) Tìm hiểu được lịch sử nguồn gốc bắt nguồn từ Paris và các giai đoạn của nó: Lập thể phân tích, lập thể tổng hợp
Sau đó chúng ta còn biết thêm được những nét độc đáo qua từng đặc điển mà tranh lập thể mang lại về những hình ảnh về con người và tĩnh vật mang những màu sắc nhẹ nhàng cùng những bức tranh dán giấy… Cũng như hiểu biết thêm về các bức tramh nổi tiếng của trường phái do các họa sĩ nổi tieensg như picasso, Georges Braque… Cũng như các ứng dụng của nó vào đời sống hiện nay Thông qua đó chúng ta cũng thu thập thêm kiến thức để rồi chúng ta cũng áp dụng vào ngành thời trang mà chúng ta đang học
II TRƯỜNG PHÁI NGHỆ THUẬT POP ART
1 Khái niệm pop art:
Pop art (viết tắt của chữ popular art tức nghệ thuật đại chúng) là trào lưu mỹ thuật xuất phát từ nghệ thuật đại
chúng của thời đại công nghiệp Nó ra đời vào giữa thập niên 1950 và gắn liền với các thị trường lớn, đặc biệt với những hình thức thông tin mới như truyền hình, điện ảnh, quảng cáo, truyện tranh
2 Lịch sử của pop art:
“Nơi sinh” của phong trào nghệ thuật Pop Art là tại Anh vào giữa thập niên 50 Khi đó, Independent
Group (IG) thành lập tại London vào năm 1952, là tập hợp các họa sĩ trẻ, nhà điêu khắc, kiến trúc sư, nhà văn, nhà phê bình( Eduardo Paolozzi, John McHale, Alison và Peter Smithson ) đưa ra các cuộc thảo luận xoay quanh
những tác động từ yếu tố văn hóa đại chúng đến nghệ thuật, thách thức lại phương pháp tiếp cận văn hóa cũng như
quan điểm của mỹ thuật truyền thống
Cuối những năm 1950 và đầu 1960, Pop Art có mặt ở Mỹ; nảy sinh từ cuộc “cách mạng văn hóa” dẫn đầu
bởi các nhà hoạt động, nhà tư tưởng và nghệ sĩ tìm cách đảo ngược lại những điều mà trong mắt họ là một trật tự
xã hội bị cai trị bởi sự tuân thủ ngột ngạt Pop Art Mỹ sử dụng các kĩ thuật sao chép, mô phỏng, phủ lớp, kết hợp
và sắp xếp các yếu tố thị giác đại diện cho xã hội và văn hóa Mỹ.
Pop Art nhanh chóng lan đi khắp thế giới: Tây Ban Nha, Bỉ, Hà Lan Ở Nhật Bản, vào giữa những năm
1960, nhà thiết kế đồ họa Tadanori Yokoo đã trở thành một trong những nghệ sĩ Pop Art thành công nhất của đất
Trang 6nước mặt trời mọc Nhân vật mang tính biểu tượng trong các bộ manga và anime đã trở thành biểu tượng cho Pop Art Nhật Bản như Speed Racer và Astro Boy Tại Ý, Pop Art được biết đến từ năm 1964 và được thể hiện dưới
nhiều hình thức khác nhau bởi các nghệ sĩ như Mario Schifano, Franco Angeli, Giosetta Fioroni, Tano Festa Nga
là quốc gia có chút “chậm chạp” trước phong trào Pop Art với một số tác phẩm nghệ thuật tương tự như Pop Art chỉ nổi lên khoảng đầu những năm 1970.
Phong cách đặc biệt của pop art chưa bao giờ “ lỗi mốt” Và gnf 50 năm qua, phong trào nghệ thuật pop art luôn
là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà thiết kế hiện đại
Figure 1 Astro Boy nhân vật pop art tại Nhật
3 Đặc điểm của nghệ thuật pop art:
3.1 Tính đại chúng:
- Pop Art mở cho sự tham gia của công chúng, lấy đề tài chất liệu từ đại chúng, từ những vật dụng thông thường hàng ngày
- Mang tính ngẫu nhiên tùy hứng dựa trên tác động qua lại giữa người sáng tác và người thưởng thức
3.2 Tính nhất thời
- Giải pháp cấp kì, mẫu mã sản phẩm và các hình thức thể hiện thay đổi tho mốt và nhu cầu của số đông
- Mang tính nghệ thuật nhưng hữu ích trong tiêu dùng
- Chi phí sản xuất thấp, giá cả phải chăng, phục vụ cho số đông
3.3 Tính trẻ trung, phóng khoáng, gợi cảm, táo bạo, dí dỏm, hài hước.
- Ý tưởng táo bạo, bố cục ngẫu hứng, màu sắc hẫm dẫn lôi cuốn, sặc sỡ, tương phản mạnh mẽ tạo
ấn tượng ngộ nghĩnh hoặc gợi cảm, nhấn mạnh những biểu tượng tình yêu, sự thoải mái, tiện nghi, …
- Tìm kiếm sự mới mẻ, khước từ những quy tắc truyền thống cứng ngắc, lạnh lùng
3.3 Tính kinh doanh thương mại
- Pop Art lấy hình ảnh từ văn hóa đại chúng và chuyển hóa thành những vật liệu khác, cảm hóa để chúng trở nên hấp dẫn, quyến rũ
- Pop Art trở thành một phần của truyền thông, tận dụng sức mạnh của truyền thông đại chúng để phục vụ cho nhu cầu con người , thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ sản phẩm rất có hiệu quả
- Pop Art đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho ngành công nghiệp thời trang
- Sử dụng các hình ảnh của nghệ sĩ nổi tiếng trong in ấn thương mại nhằm gia tăng doanh số
4.Bố cục, màu sắc, hoa văn, chất liệu
4.1 Bố cục :
Dạng hình ảnh phẳng, phân chia theo mảng; ngôn ngữ hình ảnh trẻ trung có cách thể hiện táo bạo bố cục đày ngẫu hứng không theo một quy luật nào hết
4.2 Màu sắc:
Màu sắc là yếu tố đặc trưng của trường phái Pop Art, lối sử dụng màu mạnh, rực mang lại hiệu quả thị giác tương phản mạnh mẽ Kết hợp giữa nhiều gam màu bậc 1, tạo thành những mảng màu lớn, bắt mắt đôi khi kết hợp cùng họa tiết chấm bi hoặc kẻ sọc tạo nên sự thu hút khó cưỡng của phong cách này
Trang 7Figure 2 màu sắc của pop art
Màu sắc của Pop Art thường sử dụng những gam màu tươi mới, phần lớn là những gam màu bậc 1, màu chói như đỏ thẫm, đỏ tươi, vàng, tím, xanh da trời và xanh lá cây Đây là điểm nổi bật, đặc trưng và ấn tượng mạnh của Pop Art
4.3 Hoa văn:
- Hoa văn sử dụng thường là chân dung nhân vật nổi tiếng trong truyện tranh, nhãn mác của những sản phẩm, thực phẩm đã gây dấu ấn với thể loại Pop Art những năm 1960.Các nghệ sĩ pop art bắt đàu công việc sáng tác của mình từ việc thương mại hóa, tức là thường sử dụng hình ảnh của các nghệ sĩ nổi tiếng trong in ấn thương mại nhầm gia tăng doanh số do vậy các tác phẩm pop art thường sử dụng hình ảnh của các nghệ sĩ nổi tiếng
Pop art đánh giá giá cao những gì gọi là” văn hóa vạt chất” đơn giản là, pop art nhận ra sự hieenh diện” phổ biến của chủ nghĩa vật chất như một sự kiện phát sinh tự nhiên”.Pop art đánh giá giá cao những gì gọi là” văn hóa vạt chất” đơn giản là, pop art nhận ra sự hiện diện” phổ biến của chủ nghĩa vật chất như một sự kiện phát sinh tự nhiên”
Chất liệu: Một trong những lợi thế của Pop Art là không quá tốn kém vì nó sử dụng văn hóa bình dân và
những vật liệu thông dụng như thủy tinh, nhựa, giấy Phong cách này đã nâng cấp giá trị hàng hóa lên thành một đẳng cấp nghệ thuật
4 Những nhân vật có ảnh hưởng đến làn sóng thời trang Pop Art
1.1 ANDY WARHOL
Andy Warhol là một trong những biểu tượng đầu tiên của Pop Art Vào những năm 1960, các tác phẩm của ông
là sự kết hợp giữa nghệ thuật biểu hiện, văn hóa người nổi tiếng và những quảng cáo thịnh hành
Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Warhol là “Campbell’s soup can” Nó đã được in thành họa tiết
cho chiếc váy có tên là The Souper Dress Đây cũng chính là bước ngoặt khởi đầu cho sự ảnh hưởng của Warhol đối với ngành thời trang
Những năm gần đây, những tác phẩm Pop Art của Warhol luôn xuất hiện trong bộ sưu tập của các nhà thiết kế nổi tiếng như Christian Dior, Jean-Charles de Castelbajac, …
Tác phẩm “Golden Slippers” của Warhol trên các mẫu váy, phụ kiện trong bộ sưu tập Christian Dior mùa thu 2013
ELLE Việt Nam đã có mặt trong tháng 8 tại Seoul để tham dự triển lãm Espirit Dior và sự kiện khai trương cửa hàng boutique lớn nhất của
Jean-Charles de Castelbajac đã chọn những tác phẩm vẽ chính mình của ông vua Pop Art Andy Warhol làm cảm hứng cho sản phẩm của mình
5.2 ROY LICHTENSTEIN
5.3 Khi nhắc đến những họa tiết quần áo hay nội thất nổi tiếng, Roy Liechtenstein sẽ là cái tên đầu tiên được nhớ tới Ông là họa sĩ chuyên vẽ tranh châm biếm, những tác phẩm của Liechtenstein thường lấy ý tưởng từ các quảng cáo và truyện tranh Mỹ
Trang 8Nghệ thuật của Roy Lichtenstein trên trang phục mùa Thu 2012 của 3.1 Phillip Lim
Không chỉ tạo cảm hứng cho thời trang áo quần, ông cũng để lại dấu ấn của mình với thời trang giày dép khi kết hợp với Nike, Charlotte Olympia, Vans và Converse, Những bức tranh Pop Art của Lichtenstein được dùng cho dòng sản phẩm limited của Converse
5.4 KEITH HARING
5.5 Cuối năm 2015, cửa hàng Colette tại Pháp đã mở một pop-up store lấy cảm hứng từ Keith Haring Toàn bộ sản phẩm từ áo thun, phụ kiện, cho tới ván trượt đều mang đậm dấu ấn nghệ thuật của ông
Nicholas Kirkwood phối hợp với Haring cho ra mắt những chiếc giày với hình dáng độc và lạ năm 2011
Ngược lại, các hãng khác như Adidas, Reebok và Tommy Hilfiger lại chọn những họa tiết Pop Art của ông để trang trí cho thân giày
5.4 TAKASHI MURAKAMI
Murakami là một trong những họa sĩ đương đại Nhật Bản thành công nhất ngày nay, với phong cách nghệ thuật Pop Art Văn hóa manga và anime chính là nguồn cảm hứng của ông
Năm 2002, Marc Jacobs từng mời ông thiết kế một dòng túi xách cho thương hiệu Louis Vuitton Sự hợp tác đó mang lại một trong những thành công lớn nhất trong lịch sử về sự kết hợp giữa thời trang và nghệ thuật
Marc Jacobs chính thức rời khỏi Louis Vuitton
Suốt 16 năm qua, hai cái tên Marc Jacobs và Louis Vuitton luôn gắn liền với nhau, đến mức người ta chẳng bao giờ có thể nghĩ đến một ngày nhà
Năm 2008, tạp chí Time đã bình chọn Takashi Murakami là 1 trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất thế giới Takashi Murakami cho ra mắt bộ sưu tập hợp tác với thương hiệu Vans tại Paris vào ngày 28/6/2015
5.5 YAYOI KUSAMA
Yayoi Kusama là nữ họa sỹ người Nhật nổi tiếng với các tác phẩm sử dụng họa tiết chấm bi Những chấm bi
“đặc sản” của Kusama giờ đã bước vào lãnh địa của thời trang, trong một bộ sưu tập của nhãn hiệu thời trang Pháp Louis Vuitton năm 2012.Sự kết hợp giữa giữa hai tên tuổi sáng tạo danh tiếng Marc Jacobs và Yayoi Kusama đã mang đến làn gió mới cho sản phẩm của Louis Vuitton.Yayoi Kusama được mệnh danh là Nữ hoàng chấm bi với sức sáng tạo tưởng chừng như vô tận
6 Ứng dụng của Pop Art:
6.1 Thời trang pop art:
- Thời trang pop art với những màu sắc và hình ảnh rất táo bạo tạo nên những bộ trang phục độc đáo đầy điểm nhấn, giúp cho người mặc vừa nổi bậc vừa thể hiện được sự năng động và cá tính của bản thân Các nhà thiết ké khéo léo đưa các tác phẩm nghệ thuật pop art hay những hình ảnh và màu sắc dâm chất pop art vào trang phục của mình
- Thời trang và hiệu ứng pop art trong đồ họa :
Trang 9- Thời trang hiệu ứng pop art của tạo hình:
6.2 Ứng dụng của pop art trong đồ họa:
Thiết kế banner, thiết kế poster trường phái Pop Art
6.3 Pop art trong trang trí nội thất:
Pop Art là một trong những phong cách hài hước nhất, khiêu khích và vui nhộn nhất trong thiết kế nội thất Một cách rất đơn giản để trang trí nội thất theo phong cách Pop Art là hãy sử dụng những tác phẩm nghệ thuật của chính trường phái này: những bức tranh, hình chụp cách điệu, những mẫu đồ họa, những ấn bản truyện tranh hoạt hình, áp phích hay biểu tượng thương hiệu…Một hiệu ứng thường thấy khi sử dụng tranh ảnh Pop Art là lặp lại: ví
dụ, bạn có thể treo bốn bức ảnh Marilyn Monroe với những tông màu khác nhau để ghép thành một hình ảnh tổng thể đặc sắc.Phong cách Pop Art trong thiết kế nội thất là đủ ý nghĩa và bất thường Hơn nữa, bạn có thể tạo ra thiết
kế nội thất của riêng mình mà sẽ không ai dám nói với bạn rằng bạn đã thực hiện một thiết kế vô vị.Một thực tế thú vị là các yếu tố của nội thất trong phong cách nghệ thuật Pop Art, ngay cả bản thân chúng cũng chính là một phần thực sự của nghệ thuật.Có thể thấy phong cách nghệ thuật Pop Art trong thiết kế nội thất rất phù hợp với những ai có cá tính riêng, ưa sự phá cách Đây thực sự là một nghệ thuật thiết kế nội thất
Một số đồ nội thất pop art:
Tường:
Để trang trí tường, bạn có thể ốp gỗ, có thể sơn nước, hoặc trang trí cả bốn bức tường hoàn toàn khác nhau Và rất cần thiết việc sử dụng các màu tương phản trong một không gian, vì vậy bạn nên khéo léo chọn màu sắc hoặc nhờ tư vấn để có thể đi đúng hướng khi sử dụng những tông màu tương phản
Giấy dán tường với hoa văn thú vị, màu sắc tươi sáng cũng là một lựa chọn tuyệt vời vì có rất nhiều mẫu giấy phong phú in hình ảnh và màu sắc Pop Art, khá dễ dàng để bạn lựa chọn cho không gian
Ngoài ra cũng có thể trang trí bằng tấm 3D thạch cao…tùy vào khả năng sáng tạo của mình
Sàn nhà:
Vì bàn ghế, sofa, đồ trang trí… đã mang màu sắc rực rỡ, nên trần và sàn cần đơn giản hết mức, để không cạnh tranh với các đối tượng còn lại
Trần phẳng sơn trắng vừa mang hình thức hiện đại,vừa là một phần nền hoàn hảo giúp không gian thêm rộng
mở, mang nhiều ánh sáng vào phòng, tăng lên độ rực rỡ của màu sắc sử dụng
Sàn giữ vị trí cân bằng cho toàn không gian, nên sẽ có tông màu sậm, hoặc từ vật liệu nhìn có vẻ có sức nặng,
để kéo phần không gian màu sắc, náo loạn bên trên về thế cân bằng, ổn định Lựa chọn đơn giản nhất là sàn gỗ màu sậm đơn giản
Bàn ghế:
Sau khi đã set-up không gian, ánh sáng đầy đủ, việc tiếp theo là đưa yếu tố chính vào không gian nội thất Pop Art là phong cách của sự nổi loạn, phá cách, vì vậy đồ nội thất đưa vào cũng không phải là bình thường, những sofa, ghế đơn, bàn trà… phải thật hiện đại , phong cách, kiểu dáng đặc sắc, khác thường, như: sofa hình đôi môi đỏ mong, ghế trứng độc đáo siêu ngầu, hay là ghế hoa tuylip uyển chuyển bắt mắt…là sản phẩm ra đời trong những
Trang 10năm 50s, 60s, cũng là giai đoạn đỉnh cao của nghệ thuật Pop Art.Tất cả vật dụng đều là hàng độc, bộc lộ cá tính chịu chơi , nổi loạn của chủ nhà Nhưng đó cũng là lý do cho nguyên tắt gọn gàng,tối giản trong Pop Art
III TRƯỜNG PHÁI NGHỆ THUẬT: OPICAL-ART
5.1 Khái niệm về Opical-Art
Op Art (cụm từ viết tắt của Optical Art: Nghệ thuật Quang học/Nghệ thuật Thị Giác) là phong cách nghệ thuật
trừu tượng khai thác ảo giác quang học của quá trình nhận thức Có nghĩa là, người xem có thể nhìn thấy ở Op Art những hình ảnh khuất, sự chuyển độnghay cảm giác không gian ba chiều đang phình ra và cong lên…mà thực
chất đó chỉ là sự sắp đặt trên bề mặt hai chiều tĩnh
Vùng võng mạc trong mắt dễ bị tác động bởi ánh sáng và màu sắc, vì vậy, nghệ sỹ Op Art tạo ra các ảo ảnh quang học bằng việc xen kẽ các mảng màu sắc tương phản cao (phổ biến nhất là đen và trắng) cùng sự lặp đi
lặp lại của các mô hình dạng cong hoặc thẳng Op Art tồn tại để đánh lừa đôi mắt Sự tương phản sẽ gây ra
nhầm lẫn rất lớn đối với thị giác, mà người xem phải chú tâm rất nhiều để phân biệt giữa thành phần chính và các
thành phần phụ Không gian dương (positive spaces) và không gian âm (negative spaces) đều đóng vai trò
quan trọng và có giá trị bằng nhau trong một tác phẩm Op Art Nghệ thuật Op Art không thể được tạo ra khi
hai thành phần dương/âm này không đan xen với nhau hoặc bị khuyết thiếu
5.2 Lịch sử của phong trào nghệ thuật Op Art
Thuật ngữ “Op Art” có lẽ được sử dụng lần đầu tiên bởi nghệ sĩ kiêm nhà văn Donald Judd, trong bài đánh giá
về cuộc triển lãm mang tên “Tranh Quang học/ Optical Paintings” của Julian Stanczak Cụm từ này chính thức
trở nên phổ biến khi xuất hiện trên tạp chí Time đăng ngày 23 tháng 10 năm 1964 Mặc dù vậy, phong cách giống
như “Op Art” đã được tìm thấy ở một số mẫu thiết kế của Victor Vasarely từ những năm 1930 Hầu hết, những
người nghiên cứu về Op Art đều đồng ý rằng: Vasarely là người đi tiên phong trong phong trào nghệ thuật Op Art với tác phẩm Zebra năm 1938
Đỉnh cao thành công của phong trào Op Art là vào năm 1965, khi Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại/ Museum of Modern Art (MoMA) tại Hoa Kì tổ chức buổi triển lãm “The Eye Responsive/Tạm dịch là Phản ứng của Mắt” Dưới sự chỉ đạo của William C Seitz, triển lãm trưng bày 123 bức tranh và tác phẩm điêu khắc của các nghệ
sĩ Op Art như Victor Vasarely, Bridget Riley, Carlos Cruz-Diez, Jesus-Rafael Soto và Josef Albers Ngoài ra, tiêu biểu của phong cách Op Art còn có thêm những gương mặt như Yaacov Agam, Julio Le Parc, François Morellet…
Các tác phẩm của Riley mang nhiều hình học tạo ra cảm giác di chuyển hoặc màu sắc Vào đầu những năm
1960, tác phẩm của cô được cho là gây cảm giác trong người xem đa dạng như đi biển và lặn biển Từ năm 1961 đến năm 1964, cô đã làm việc với sự tương phản của màu đen và trắng, thỉnh thoảng giới thiệu tông màu xám Tác phẩm trong phong cách này bao gồm buổi trình diễn solo đầu tiên của cô vào năm 1962 tại Gallery One của Musgrave, cũng như nhiều chương trình tiếp theo
Riley bắt đầu điều tra màu sắc vào năm 1967, năm mà cô đã sản xuất ra bức tranh sọc đầu tiên của mình Sau một hồi hồi lớn vào đầu những năm 1970, Riley bắt đầu đi du lịch rộng rãi Sau một chuyến đi đến Ai Cập vào đầu những năm 1980, nơi cô được truyền cảm hứng bởi trang trí chữ tượng hình đầy màu sắc, Riley bắt đầu khám phá màu sắc và sự tương phản Trong một số tác phẩm, các đường màu được sử dụng để tạo ra một hiệu ứng lung linh, trong khi ở những người khác thì khung ảnh được lấp đầy bằng các mẫu tessellating Điển hình của những tác phẩm đầy màu sắc sau này là Shadow Play