1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lịch sử hình thành và phát triển của nghệ thuật đờn ca tài tử

38 567 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 65,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong lịch sử hình thành và phát triển âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam, Ðờn ca tài tử được xem như là thể loại sinh ra muộn hơn cả. Tuy nhiên cho đến giờ Đờn ca tài tử lại có một chỗ đứng vô cùng vững chắc trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam. Với việc được tổ chức UNESCO công nhận là di sản phi vật thể của nhân loại vào hồi 15 giờ 47 phút (theo giờ Việt Nam) ngày 05122013 tại phiên họp của Uỷ ban liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể lần thứ 8 của UNESCO diễn ra tại thành phố Baku nước Cộng hoà Azerbaijan, Đờn ca tài tử không chỉ khẳng định được chỗ đứng vững chắc của mình trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam mà còn tạo thêm sự đa dạng cho văn hóa Việt Nam. Cùng với những loại hình nghệ thuật âm nhạc cổ truyền như Quan họ Bắc Ninh, Hát xoan Phú Thọ, Nhã nhạc cung đình Huế, dân ca ví dặm,... Đờn ca tài tử là loại hình âm nhạc cổ truyền Việt Nam đã được biết đến rộng rãi, khác với các loại hình nghệ thuật âm nhạc cổ truyền ở trên Đờn ca tài tử đại diện cho khu vực Nam Bộ. Em là một cư dân của đồng bằng Bắc Bộ cho nên Đờn ca tài tử vẫn là một ẩn số với em, điều mà em biết về Đờn ca tài tử cũng chỉ là một phần của bài “Dạ cổ hoài lang” và vùng đất quê hương của Đờn ca tà tử(một vùng mà em chẳng biết gì nhiều ngoài việc đó là một vựa lúa, trái cây lớn nhất của đất nước). Chính điều này đã thôi thúc em tìm hiểu về Đờn ca tài tử 2. Phương pháp nghiên cứu Tìm hiểu, phân tích, nhận định, tổng hợp rồi đưa ra nhận xét. 3. Đối tượng nghiên cứu Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ Việt Nam 4. Kết cấu của đề tài Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Vài nét về nghệ thuật Đờn ca tài tử Chương 3: Lịch sử hình thành và phát triển của nghệ thuật Đờn ca tài tử Chương 4: Toàn cảnh sống động của Đờn ca tài tử Nam Bộ Việt Nam Chương 5: Bảo tồn nghệ thuật Đờn ca tài tử 5. Đóng góp của người viết Kiểm định nội dung, gắn kết các phần kết cấu lại với nhau.  

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong lịch sử hình thành và phát triển âm nhạc dân tộc cổ truyền ViệtNam, Ðờn ca tài tử được xem như là thể loại sinh ra muộn hơn cả Tuy nhiêncho đến giờ Đờn ca tài tử lại có một chỗ đứng vô cùng vững chắc trong nền

âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam Với việc được tổ chức UNESCO côngnhận là di sản phi vật thể của nhân loại vào hồi 15 giờ 47 phút (theo giờ ViệtNam) ngày 05/12/2013 tại phiên họp của Uỷ ban liên Chính phủ về bảo vệ disản văn hoá phi vật thể lần thứ 8 của UNESCO diễn ra tại thành phố Baku-nước Cộng hoà Azerbaijan, Đờn ca tài tử không chỉ khẳng định được chỗđứng vững chắc của mình trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam màcòn tạo thêm sự đa dạng cho văn hóa Việt Nam

Cùng với những loại hình nghệ thuật âm nhạc cổ truyền như Quan họBắc Ninh, Hát xoan Phú Thọ, Nhã nhạc cung đình Huế, dân ca - ví dặm, Đờn ca tài tử là loại hình âm nhạc cổ truyền Việt Nam đã được biết đến rộngrãi, khác với các loại hình nghệ thuật âm nhạc cổ truyền ở trên Đờn ca tài tửđại diện cho khu vực Nam Bộ

Em là một cư dân của đồng bằng Bắc Bộ cho nên Đờn ca tài tử vẫn làmột ẩn số với em, điều mà em biết về Đờn ca tài tử cũng chỉ là một phần của

bài “Dạ cổ hoài lang” và vùng đất quê hương của Đờn ca tà tử(một vùng mà

em chẳng biết gì nhiều ngoài việc đó là một vựa lúa, trái cây lớn nhất của đấtnước) Chính điều này đã thôi thúc em tìm hiểu về Đờn ca tài tử

2 Phương pháp nghiên cứu

Tìm hiểu, phân tích, nhận định, tổng hợp rồi đưa ra nhận xét

3 Đối tượng nghiên cứu

Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ Việt Nam

4 Kết cấu của đề tài

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Vài nét về nghệ thuật Đờn ca tài tử

Trang 2

Chương 3: Lịch sử hình thành và phát triển của nghệ thuật Đờn ca tài tửChương 4: Toàn cảnh sống động của Đờn ca tài tử Nam Bộ - Việt NamChương 5: Bảo tồn nghệ thuật Đờn ca tài tử

5 Đóng góp của người viết

Kiểm định nội dung, gắn kết các phần kết cấu lại với nhau

Trang 3

NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận

1 Khái niệm văn hóa:

-Của UNESCO: Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần vàvật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của 1 xã hội hay của mộtnhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, nhữnglối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị,những tập tục và những tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năngsuy xét về bản thân Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinhvật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo

lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tựbiết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thànhtựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩ mới mẻ, nhữngcông trình vượt trội bản thân

-Của Wikipedia: Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo

ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chínhvăn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững vàtrật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông quaquá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hànhđộng và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển củacon người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chứcđời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinhthần mà do con người tạo ra

-Của giáo sư Trần Ngọc Thêm: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giátrị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể…) do con ngườisáng tạo ra và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tácvới môi trường tự nhiên và xã hội của mình

Trang 4

-Của chuyên ngành văn hóa và phát triển – khoa tuyên truyền – Học việnbáo chí tuyên truyền: văn hóa là hệ thống những giá trị do con người sáng tạo

ra trong quá trình lao động và sản xuất!

2 Khái niệm nghệ thuật:

- Nghệ thuật là sản phẩm của sáng tạo thông qua hoạt động phát triểnhướng đến cái chân - thiện - mỹ nhằm thỏa mãn nhu cầu cảm thụ, thẩm mỹ,giá trị, nhận thức, sáng tạo nhằm để hưởng thụ Nghệ thuật ra đời song songvới văn hóa, nó ra đời từ khi con người xuất hiện

- Nghệ thuật là sự sáng tạo ra những vật thể hoặc phi vật thể chứa đựngnhững giá trị to lớn về tư tưởng, thẩm mỹ, có khả năng làm rung động cảmxúc, tư tưởng tình cảm cho người thưởng thức

Nghệ thuật là cái hay cái đẹp để con người có thể cảm nhận được quacác giác quan từ đó tác động tới tâm lý, cảm xúc ngưỡng mộ đối vwois tácphẩm nghệ thuật

Như vậy ta có thể hiểu, nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội, một bộphận của văn hóa tinh thần , phản ánh nhận thức của con người về hiện thựckhách quan và tái hiện lại bằng hình tượng cụ thể thông qua ý thức của cánhân sáng tác Giá trị của các tác phẩm nghệ thuật có khả năng tác động vào

tư tưởng, tình cảm, nhận thức của con người, thức tỉnh và phát triển năng lựccủa con người

- Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học Việt Nam thì: “Nghệthuật là hình thái ý thức xã hội đặc biệt, dùng hình tượng sinh động cụ thể vàgợi cảm để phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng, tình cảm”

Như vậy có thể hiểu chung nhất: Nghệ thuật là một hình thái ý thức xãhội, một bộ phận của văn hóa tinh thần phản ánh nhận thức của con người vềhiện thực khách quan và tái hiện lại bằng hình tượng cụ thể thông qua ý thứcchủ quan của cá nhân Kết quả của quá trình nhận thức ấy là các giá trị nghệthuật với những hình tượng cảm tính có khả năng tác động vào tư tưởng, tình

Trang 5

cảm của con người, thống nhất các tư tưởng, tình cảm và ý chí thức tỉnh vàphát triển năng lực sáng tạo của con người.

3 Khái niệm văn hóa nghệ thuật:

-Các nhà lý luận đã đưa ra một số quan điểm thống nhất về khái niệmvăn hóa nghệ thuật trên cơ sở những quan niệm và định nghĩa khác nhau trênthế giới Văn hóa nghệ thuật là một bộ phận của sản xuất tinh thần, là thành tốtrọng yếu của văn hóa thẩm mỹ, nó tuân thủ những quy luật chung của vănhóa và văn hóa thẩm mỹ nhưng biểu hiện của những quy luật đó trong vănhóa nghệ thuật có tính đặc thù

- Văn hóa nghệ thuật là một thành tố của văn hóa Nó là một hình thái ýthức xã hội đặc thù vì nó tồn tại bởi những quy luật đặc trưng:chân - thiện -

mỹ Nó có vai trò quan trọng giúp định hướng dư luận xã hội ,ý thức xã hội và

Văn hóa nghệ thuật là sự phát triển những năng lực nghệ thuật (thụ cảm,nhận thức, sáng tạo nghệ thuật) của cá nhân và cộng đồng trong hoạt độngnghệ thuật nhằm sáng tạo, lưu truyền và thụ cảm các giá trị nghệ thuật Hoạtđộng này bao gồm quá trình sáng tạo, sản xuất, lưu giữ, bảo quản, truyềnthống, phổ biến, đánh giá và tiêu dùng các giá trị nghệ thuật

Văn hóa nghệ thuật bao gồm những thành tố chính sau:

- Nghệ sĩ và quá trình sáng tạo nghệ thuật

- Cơ quan tổ chức điều hành việc sáng tạo nghệ thuật, hội nghệ thuật,ban văn hóa nghệ thuật và các chính sách, chế độ liên quan

- Các giá trị nghệ thuật, các tác phẩm nghệ thuật

Trang 6

- Các thiết chế văn hóa: viện bảo tàng, rạp hát, cung văn hóa, đài phátthanh, truyền hình, …

- Đối tượng thưởng thức các giá trị nghệ thuật

- Các hoạt động đánh giá nghiên cứu, phê bình nghệ thuật

- Các cơ quản lý lãnh đạo về văn hóa nghệ thuật

Trang 7

Chương 2: Vài nét về nghệ thuật Đờn ca tài tử:

1 Nghệ thuật Đờn ca tài tử là gì?

Đờn ca tài tử Nam bộ là một dòng nhạc dân tộc của Việt Nam đã đượcUNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể và là một danh hiệuUNESCO ở Việt Nam có vùng ảnh hưởng lớn, với phạm vi 21 tỉnh thành phíanam Đờn ca tài tử hình thành và phát triển từ cuối thế kỉ 19, bắt nguồn từnhạc lễ, Nhã nhạc cung đình Huế và văn học dân gian Đờn ca tài tử là loạihình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam Bộ Đây là một loại hìnhnghệ thuật của đàn và ca, do những người bình dân, thanh niên nam nữ nôngthôn Nam Bộ hát ca sau những giờ lao động Đờn ca tài tử xuất hiện hơn 100năm trước, là loại hình diễn tấu có ban nhạc gồm 4 loại là đàn kìm, đàn cò,đàn tranh và đàn bầu (gọi là tứ tuyệt), sau này, có cách tân bằng cách thay thếđộc huyền cầm bằng cây guitar phím lõm Những người tham gia đờn ca tài

tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm với nhau Họ tập trung lại để cùng chia sẻthú vui tao nhã nên thường không câu nệ về trang phục

Nghệ thuật Đờn ca tài tử hiện đang được phát triển ở 21 tỉnh, thành phốphía Nam Việt Nam là: An Giang, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bạc Liêu, BếnTre, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Cà Mau, Cần Thơ, ĐồngNai, Đồng Tháp, Hậu Giang, TP Hồ Chí Minh, Kiên Giang, Long An, NinhThuận, Sóc Trăng, Tây Ninh, Tiền Giang, Trà Vinh và Vĩnh Long Trong đó,Bạc Liêu, Bình Dương, Tiền Giang và TP Hồ Chí Minh là những tỉnh, thànhphố có nhiều người hát đờn ca tài tử nhất

Nhạc cụ trong "Đờn ca tài tử" gồm đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn kìm, đàn

cò, đàn tam, sáo thường là sáo bảy lỗ (phụ họa) Hiện nay có một loại đàn mới docác nghệ nhân Việt Nam cải biến là Guitar phím lõm Loại nhạc cụ này đượckhoét lõm các ngăn sao cho khi đánh lên nghe giống nhạc cụ Việt Nam nhất

Trang 8

2 Trình diễn nghệ thuật Đờn ca tài tử:

Ban nhạc tường dùng năm nhạc cụ, thường gọi là ban ngũ tuyệt gồm đàntranh, đàn tỳ bà, đàn kìm, đàn cò, và đàn tam Phụ họa thêm làtiếng sáo thường là sáo bảy lỗ

Về trang phục, những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè,chòm xóm với nhau nên thường chỉ mặc các loại thường phục khi tham giatrình diễn Khi nào diễn ở đình, miếu hoặc trên sân khấu họ mới mặc cáctrang phục biểu diễn

Những năm gần đây nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch nên cácnhóm nhạc tài tử hợp lại với nhau thành các câu lạc bộ đờn ca tài tử mangtính bán chuyên nghiệp Bên cạnh nghề nghiệp chính, họ phục vụ văn nghệkhi có yêu cầu

Một số người nói rằng từ "tài tử" có nghĩa là nghiệp dư Trong thực tế, từnày có nghĩa là tài năng và ngụ ý rằng những người này không dùng nghệthuật để kiếm kế sinh nhai,mà chỉ để cho vui hoặc những lúc ngẫu hứng Tuynhiên, điều này không có nghĩa là họ không phải là chuyên gia Ngược lại, đểtrở thành một nghệ sĩ trong ý nghĩa xác thực nhất của từ này, họ phải thựchành trong một thời gian dài

Đối với hình thức âm nhạc, vai trò của các ca sĩ và nhạc sĩ đều bìnhđẳng Ca trù hát và người ca (bài hát truyền thống từ miền Bắc và miềnTrung) là phụ nữ, trong khi đờn ca tài tử bao gồm các ca sĩ nam nữ và họ cóvai trò bình đẳng

Đờn ca tài tử sử dụng dụng cụ như đàn cò, đàn nguyệt, đàn tranh, songlan (nhạc cụ bằng gỗ để gõ nhịp) hoặc cả Ghita lõm

Loại hình âm nhạc không chỉ ở các lễ hội và các bên mà còn trong thờigian sau thu hoạch Ngoài ra, nó có thể được chơi trong bóng mát của cây,con thuyền hoặc trong đêm trăng sáng

Trang 9

3 Cách biểu diễn, nghệ thuật biểu diễn Đờn ca tài tử

Bởi là một dòng nhạc có xuất phát từ cung đình do đó cách biểu diễn đờn

ca tài tử khá đặc biệt và đòi hỏi người nghệ sĩ phải có tài năng, trình độ thực sự.Tại Việt Nam có 3 loại hình nghệ thuật có xuất xứ từ nhạc cung đình đó là Nhãnhạc Huế, Ca trù và Đờn ca tài tử Nhưng khác với 2 loại hình Nhã nhạc và Catrù người hát chính thường là nữ, trong nghệ thuật đờn ca thì nam và nữ có vaitrò bình đẳng, người đàn và người hát có vị trí tương đương nhau

Dàn nhạc của đờn ca tài tử có nhiều nhạc cụ hơn dàn nhạc của Ca trù và

ca Huế Trước đây, dàn nhạc đờn ca tài tử sử dụng các loại nhạc cụ gồm đànkim, đàn cò, đàn tranh song lang, ống tiêu Khoảng từ năm 1920, lục huyềncầm ( đàn ghi ta ), hạ uy cầm và violon cũng được thêm vào trong dàn nhạc.Cũng bởi lý do xuất phát từ cung đình do đó đờn ca xưa kia chủ yếuđược biểu diễn trong các tư gia hoặc phục vụ 1 số ít khán giả Tuy nhiên theothời gian và sức hấp dẫn của dòng nhạc này mà ngày nay đờn ca đã được sânkhấu hóa để biểu diễn phục vụ công chúng

Khi biểu diễn nhạc tài tử, các nghệ sĩ thường chú trọng đến sự kết hợpcủa nhạc cụ có âm sắc khác nhau, ít thấy có sự kết hợp giữa các nhạc cụ cùng

âm sắc Thường thấy nhất là song tấu đàn kim và đàn tranh, là sự kết hợp giữatiếng tơ và tiếng sắt, mà theo các chuyên gia thì được gọi là sắt cầm hảo hiệp.Cũng có khi là tam tấu đàn kim – tranh – cò, kim – tranh – độc huyền, tranh –

cò – độc huyền mà giới chuyên gia gọi là tam chi liên hoàn pháp Nếu mộtban nhạc tài tử có 3 nhạc công và 1 ca sĩ thì được gọi là ban tứ tuyệt, nếu có 4nhạc công và 1 ca sĩ thì được gọi là ban ngũ nguyệt

Vì đờn ca tài tử đặc biệt ở chỗ thường được biểu diễn ngẫu hứng, dựatrên bản nhạc gốc truyền thống, người hát cải biên đi theo cách riêng củamình Sự khác biệt này khiến cho người nghe luôn cảm thấy mới lạ dù nghecùng một bài

Phần hay nhất trong tài tử là ở phần rao của người đàn và nói lối củangười ca Người đàn dùng rao - người ca dùng lối nói – để lên dây đàn và gợi

Trang 10

cảm hứng cho bạn diễn, tạo không khí cho dàn tấu Ngoài ra khi trình diễn cácnghệ sĩ có thể dùng tiếng đàn của mình để “ đối đáp” hoặc “thách thức” vớingười đồng diễn Đây cũng là điểm tạo sự mới lạ, hấp dẫn, cuốn hút của loạihình nghệ thuật dân tộc này.

4 Đặc điểm của nghệ thuật Đờn ca tài tử

Các bài bản của Đờn ca tài tử được sáng tạo dựa trên cơ sở nhạc Lễ,nhạc Cung đình, nhạc dân gian miền Trung và Nam Các bài bản này được cảibiên liên tục từ 72 bài nhạc cổ và đặc biệt là từ 20 bài gốc (bài Tổ) cho 4 điệu(hơi), gồm: 06 bài Bắc (diễn tả sự vui tươi, phóng khoáng), 07 bài Hạ (dùngtrong tế lễ, có tính trang nghiêm), 03 bài Nam (diễn tả sự an nhàn, thanhthoát) và 04 bài Oán (diễn tả cảnh đau buồn, chia ly)

Nhạc cụ được sử dụng trong Đờn ca tài tử gồm: đàn kìm, đàn tranh, đàn

cò, đàn tỳ bà, đàn tam (hoặc đàn sến, đàn độc huyền), sáo, tiêu, song loan

Từ khoảng năm 1930 có thêm đàn ghita phím lõm, violon, ghita Hawaii(đàn hạ uy cầm)

Người thực hành Đờn ca tài tử gồm: người dạy đàn (thầy Đờn) có kỹthuật đàn giỏi, thông thạo những bài bản cổ, dạy cách chơi các nhạc cụ; ngườiđặt lời (thầy Tuồng) nắm giữ tri thức và kinh nghiệm, sáng tạo những bài bảnmới; người dạy ca (thầy Ca) thông thạo những bài bản cổ, có kỹ thuật ca điêuluyện, dạy cách ca ngâm, ngân, luyến, ; người đờn (Danh cầm) là người chơinhạc cụ và người ca (Danh ca) là người thể hiện các bài bản bằng lời

Đờn ca tài tử được thực hành theo nhóm, câu lạc bộ và gia đình, ít khinhạc công độc tấu, mà thường song tấu, tam tấu, hòa tấu Dàn nhạc thườngcùng ngồi trên một bộ ván hoặc chiếu để biểu diễn với phong cách thảnh thơi,lãng đãng, dựa trên khung bài bản cố định gọi là “lòng bản” Khán giả có thểcùng tham gia thực hành, bình luận và sáng tạo

Đờn ca tài tử được truyền dạy theo hai hình thức: truyền ngón, truyềnkhẩu trực tiếp tại nhà, câu lạc bộ, gia đình, dòng họ; truyền ngón, truyền khẩukết hợp với giáo án, bài giảng tại một số trường văn hóa nghệ thuật địa phương

Trang 11

và quốc gia Người học đàn cần ít nhất 3 năm để học những kỹ năng cơ bảnnhư: rao, rung, nhấn, khảy, búng, phi, vê, láy, day, chớp, chụp…; học chơi độcchiếc, tam tấu, tứ tấu, ngũ tấu, lục tấu với các nhạc cụ khác nhau.Người học ca(đơn ca, song ca) học những bài truyền thống, trên cơ sở đó sáng tạo cách nhấnnhá, luyến láy tinh tế theo nhạc điệu và lời ca của bài gốc.

Người miền Nam coi Đờn ca tài tử là sinh hoạt văn hóa tinh thần khôngthể thiếu trong các dịp lễ hội, tết, giỗ, cưới, sinh nhật, họp mặt,… Lễ giỗ Tổđược tổ chức vào ngày 12/8 âm lịch hàng năm

5 Đặc trưng của Đờn ca tài tử: Tính ngẫu hứng, tự nhiên của Đờn

ca tài tử

Đờn ca tài tử là nghệ thuật duy nhất không phụ thuộc vào không gianvăn hóa, hoặc các không gian trình diễn theo mùa vụ, cứ hứng lên thì chơi,gặp nhau thì chơi và hội hè, ma chay, cưới hỏi cũng đều chơi Đó là một lốihòa đàn trác tuyệt mà ở đấy tính ngẫu hứng được đặt lên trên hết Tính ngẫuhứng ấy, thú vị ở chỗ mỗi lần đánh một bản đàn thì hầu như đó là nhữngcuộc đối thoại bằng âm thanh Có lẽ đây là một trong những nghệ thuật ngẫuhứng gần như duy nhất ở nước ta Chính cách thể hiện tự nhiên, bình dị vàhết sức ngẫu hứng tạo thành cốt cách riêng có của loại hình nghệ thuật này.Mất tính ngẫu hứng sẽ làm cho Đờn ca tài tử trở nên nhạt nhẽo.

Theo GS.TS Trần Văn Khê, người ta nói chơi Đờn ca tài tử chứ khôngnói biểu diễn Đờn ca tài tử Nó là một nghệ thuật tức hứng, chơi không cótính trước, không ai nói trước với ai, khi những người có cùng sở thích ngồilại với nhau cùng chơi, cùng tức hứng tại chỗ thì họ bắt đầu thả hồn, hòanhịp vào tiếng đàn, lời ca đầy phấn khích Họ không câu nệ trang phục, lễnghi, có gì dùng nấy Thế mới là Đờn ca tài tử! Trên thực tế ở vùng sôngnước miền Tây đã và đang xuất hiện nhiều nhóm Đờn ca tài tử, câu lạc bộĐờn ca tài tử… Các nghệ sĩ ăn mặc chỉnh tề, đờn có bài bản chính xác, hátđúng nhịp, đúng hơi Chính cái khuôn phép, gò bó ấy đã khiến nghệ sĩ chỉdám biểu diễn những bài “tủ” mà không dám ngẫu hứng, không dám thả hồn

Trang 12

vào từng giai điệu của lời ca, tiếng hát, cho nên Đờn ca tài tử bị lạc điệu, xadần nguyên gốc và trở nên khách sáo Nghệ sĩ nhân dân (NSND), soạn giảViễn Châu phàn nàn:

- Nhiều nghệ sĩ chơi Đờn ca tài tử hiện nay trên khuôn mặt buồn rườirượi, vô hồn, vô cảm! Dường như họ không có cái gốc tự nhiên, mộc mạc,hát cho vui như của Đờn ca tài tử ngày xưa mà đã thành một thứ nghề kiếmsống Điều này làm cho cái hồn của nghệ thuật Đờn ca tài tử bị đánh mất

Mà đánh mất cái linh hồn, cái ngẫu hứng, cái bình dị, chân chất trong Đờn

ca tài tử là đánh mất giá trị nguyên gốc đích thực, rất đáng lo ngại, bởi khithiếu những đặc điểm này thì nghệ thuật Đờn ca tài tử khó lòng được truyền

bá rộng rãi

Tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, từ lâu Đờn ca tài tử đã trở nênquen thuộc, nhà nhà đều biết chơi, người người đều biết hát Nó trở thànhmón ăn tinh thần hết sức bình dị của bà con miền sông nước Vào nhữngđêm trăng sau mùa gặt, trên chiếc chiếu trước sân nhà, bà con vui mừng vụmùa bội thu đã nhóm lại chơi Đờn ca tài tử thâu đêm suốt sáng Điều đóchứng tỏ sức sống mạnh mẽ của loại hình cổ nhạc độc đáo vừa mang tínhbình dân, vừa mang tính bác học này Người dân Nam Bộ không chỉ là chủthể sáng tạo, biểu diễn, mà còn là đối tượng thưởng thức Đờn ca tài tử Tuynhiên, trên thực tế, khi những câu lạc bộ Đờn ca tài tử chuyên nghiệp ra đời

đã kéo theo sự chỉn chu, khuôn sáo vào nghệ thuật Đờn ca tài tử Điều nàyvừa có tác dụng tích cực lại vừa tiềm ẩn những tiêu cực NSND Ngọc Giàubộc bạch:

- Đi theo con đường chuyên nghiệp, mỗi nghệ sĩ phải cố gắng tìm hiểu

để hoàn thiện bản thân, nắm bắt quy luật âm điệu của Đờn ca tài tử Một bảnnhạc có thể chơi hàng nghìn lần mà không lần nào giống lần nào Sự chuyênnghiệp sẽ nâng tầm hiện đại của Đờn ca tài tử nhưng nhất thiết phải đề caotính ngẫu hứng, nếu không nó sẽ mất cái cốt cách tự nhiên vốn có

Trang 13

Như vậy, tính ngẫu hứng, tự nhiên chính là đặc trưng nguyên gốc làmnên giá trị độc đáo của nghệ thuật Đờn ca tài tử được hầu hết các nhà nghiêncứu, các soạn giả, nghệ sĩ nổi tiếng thừa nhận

6 Giá trị của Đờn ca tài tử

Có lịch sử khá lâu đời và được bắt nguồn từ truyền thống văn hóa đadạng của miền Trung và miền Nam Việt Nam, Đờn ca tài tử luôn khẳng định

rõ vai trò không thể thiếu của mình trong đời sống xã hội người Việt, đượccộng đồng cư dân ở vùng miệt vườn, sông nước Nam bộ tự nguyện chấpnhận, tự do tham gia thực hành, sáng tạo, góp phần tạo nên sự đa dạng củavăn hóa Việt Nam

Đờn ca tài tử luôn được bổ sung, làm mới bằng cách kế thừa, kết hợp giátrị âm nhạc Cung đình, dân gian; đồng thời giao lưu, tiếp biến các yếu tố vănhóa của người Khmer, Hoa và phương Tây

Đờn ca tài tử là loại hình sinh hoạt văn hóa gắn kết cộng đồng, phản ánhtâm tư, tình cảm và phù hợp với lối sống cần cù, phóng khoáng, cởi mở vàcan trường của người dân Nam bộ Thông qua việc thực hành Đờn ca tài tử,các tập quán xã hội khác như: lễ hội, văn hóa truyền khẩu, nghề thủ công,…cũng được bảo tồn và phát huy

7 Sức sống lan tỏa mãnh liệt của Đờn ca tài tử

Theo một số nhà nghiên cứu như GS TSKH Tô Ngọc Thanh, nhạc sĩĐặng Hoành Loan, nhà nghiên cứu âm nhạc Bùi Trọng Hiền đều có chungnhận định, Đờn ca tài tử hơn trăm năm qua đã được người dân yêu mến Vìyêu mến loại hình nghệ thuật này, nên cho đến nay, dù chưa nhận được nhiều

cơ chế, chính sách từ các cấp quản lý văn hóa, nhưng Đờn ca tài tử vẫn luônđược người dân bảo tồn và phát huy tốt

Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan cũng cho biết, trong quá trình điều tra điền

dã, nhóm lập hồ sơ đã phát hiện và phân loại được 24 CLB và 4 dàn nhạc chơiĐờn ca tài tử xuất sắc, trong đó dàn nhạc tài tử của Tòa thánh Cao Đài (TâyNinh) là chơi chuẩn nhất Đặc biệt hơn, các nhà sưu tầm tìm được 8 tập tàiliệu của 8 danh cầm và tìm được bài Ngũ châu, bài Tứ bửu bằng chữ nhạc cổ

Trang 14

truyền Đó là những tư liệu quý giá của Đờn ca tài tử góp vào những hạngmục quan trọng của việc lập hồ sơ.

Ban đầu, việc lập hồ sơ Đờn ca tài tử khiến nhiều nhà nghiên cứu e ngại,bởi nó là loại hình “âm nhạc cổ truyền muộn”, lan rộng ở nhiều địa phương,nên khá nhiều ý kiến trái chiều, rằng lối chơi Đờn ca tài tử chỉ là ngẫu hứng,không chuyên nghiệp Nhưng qua quá trình nghiên cứu, lý giải khoa học, “tàitử” có nghĩa là người có tài; chữ “tài tử” còn hàm chỉ việc không dùng nghệthuật của mình làm kế sinh nhai

GS Trần Văn Khê cho hay, nhạc tài tử chơi ngẫu hứng, nhưng phải ghinhớ trong đầu để chơi Ví dụ như “xàng” trong Đờn ca tài tử không dùng ký

âm của phương Tây để diễn tả được, không ký âm được, mỗi lần chơi đềukhác nhau, nếu ký âm thì cũng chỉ ghi lại một giai đoạn thôi Không thể nhìnvào ký âm để chơi, vì Đờn ca tài tử từ tĩnh sang động… Tuy chỉ có khoảng 20

“bản tổ” - bản do các bậc thầy sáng tạo, có niêm luật chặt chẽ, nhưng trongmỗi câu, nhịp điệu của Đờn ca tài tử người diễn có thể thêm thắt các âm, thoảimái sáng tạo… “Nói một cách nào đó, Đờn ca tài tử là một loại hình âm nhạccần “tri thức thưởng thức”, người chơi phải thả hồn vào từng âm giai, ngườinghe phải hiểu tiếng lòng của ngón đờn Càng nghe càng hiểu thì thấy cànghay và say mê là như thế Nghe để buồn, để vui với một loại hình âm nhạcdân gian độc đáo này đã gắn kết với những thân phận đi mở cõi” - GS TrầnVăn Khê khẳng định

Theo ông Lê Toàn, Viện trưởng Viện Âm nhạc Việt Nam, từ năm 1997,khởi nguồn từ liên hoan Đờn ca tài tử được Viện Âm nhạc tổ chức tại phíaNam đã góp phần khơi thông mạch nguồn của loại hình nghệ thuật độc đáonày Đến việc nghiên cứu, lập hồ sơ di sản, Đờn ca tài tử đã được thổi bùnglên, lan rộng khắp thôn, ấp, làng, xã các tỉnh phía Nam Liên tiếp sau đó, cáctỉnh, thành phố phía Nam đã có ý thức tổ chức các cuộc liên hoan, thành lậpcác CLB Đờn ca tài tử, tạo nên “sân chơi” nghệ thuật cổ truyền rộn ràng trongdân Và việc Đờn ca tài tử được UNESCO vinh danh khẳng định giá trị truyềnthống của cha ông đã, đang và sẽ luôn được người dân gìn giữ và phát huy

Trang 15

Chương 3: Lịch sử hình thành và phát triển của

nghệ thuật Đờn ca tài tử:

Vào đầu thế kỷ thứ XIX ở Nam Bộ đã có hai hình thức nghệ thuật đó làTuồng và Nhạc lễ Tuồng là sân khấu diễn tích, âm nhạc lấy trống, kèn làmnòng cốt, Nhạc lễ là ban nhạc chơi nhạc phục vụ hành lễ tín ngưỡng, lấy nhạc

cụ dây kéo và bộ gõ làm nòng cốt Từ nhu cầu chơi nhạc, các nhạc công hoạtđộng trong hai hình thức nghệ thuật này, cùng với những người yêu nhạc dựavào âm nhạc của hai hình thức nghệ thuật trên để sáng tạo ra phong trào “đờncây” (tức hòa đờn không có bộ gõ) để thoả mãn nhu cầu chơi nhạc trongnhững lúc nông nhàn, trong những ngày rảnh rỗi Phong trào đờn cây nhanhchóng lan tỏa khắp các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam Bộ

Đến cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, nhiều quan viên phụ trách cácban nhạc triều đình nhà Nguyễn vào Nam theo phong trào Cần vương Họ lànhững người sớm biết kết hợp âm hưởng nhạc Nam Bộ với nhạc Huế để sángtác ra những bản nhạc Tài tử và mở các lớp dạy đờn khắp khắp hai miềnĐông, Tây Nam Bộ Một số nhạc sư tiêu biểu thời bấy giờ là nhạc sư:Nguyễn Quang Đại (tức Ba Đợi) (1880) ở Long An, nhạc sư Trần QuangDiệm (1853 -1927) ở Mỹ Tho, là nội tổ của GS Trần Văn Khê Lê Bình An (1862-1924) là cha của nhạc sư Lê Tài Khị (Hậu Tổ Nhạc Khị) ở Bạc Liêu,Kinh lịch Trần Quang Quờn ở Vĩnh Long … Các Ông đã có nhiều nămnghiên cứu, chỉnh sửa các bản đờn cổ, sáng tác các bản mới, rồi “tập hợpthống nhất được những ban, nhóm đờn ca của hai vùng Đông-Tây Nam Bộ,dựng nên dòng nhạc Tài tử” là những người có công sáng tác bài bản, truyềndạy đờn ca tài tử khắp Nam Bộ Như vậy, từ phong trào đờn cây nhờ có cácnhạc sư từ kinh đô Huế vào đã tạo ra sự biến đổi về chất để âm nhạc đờn câytrở thành hình thức âm nhạc cổ truyền mới: Đờn ca tài tử

Để chơi đờn ca tài tử, người ta phải theo học các nhạc sư một thời gianrất dài, thường phải mất hai đến ba năm mới thông thạo các bản đờn, các kỹ

Trang 16

thuật chơi đờn như: rung, nhấn rung, nhấn mổ, nhấn mượn hơi, mổ đơn, mổkép, mổ kềm dây; các cách đổ hột, rung cung của đờn dây cung kéo; các cáchchầy, hưởng, mổ bấm, bịt, day, chớp, búng, phi, rải của đờn tỳ bà Nhờ vàocác ngón kỹ thuật này, người chơi mới chơi được các điệu và hơi trong bàinhạc tài tử.

Đến nay, bài bản tài tử đã lên tới vài trăm bản Trong vài trăm bản đó,giới nhà nghề nhạc tài tử đã gút lại được 20 bản nhạc tiêu biểu đại diện chocác làn hơi, Bắc, Hạ, Nam, Oán (Gồm hai thang âm: thang âm bắc và thang

âm nam) và được gọi là 20 bản tổ, như sau: trong làn hơi Bắc (thang âmbắc)có các bài :Lưu Thủy, Phú lục, Bình Bán , Cổ bản, Xuân tình , Tây Thi.Trong làn hơi hạ (Thang âm Bắc) có các bài: Xàng xê, Ngũ đối thượng, Ngũđối hạ, Long Đăng, Long Ngâm, Vạn giá, Tiểu khúc, trong làn hơi nam(thang âm nam) có các bài: Nam Xuân, Nam ai, Đảo ngũ cung, trong làn hơioán (thang âm nam) có các bài:Tứ đại oán, Phụng hoàng, Giang Nam, Phụngcầu

Khi chơi 20 bản tổ cũng như chơi những bản đờn tài tử khác, người chơiđược phép ngẫu hứng sáng tạo, để sáng tác ngay khi trình diễn những nét giaiđiệu mới mẻ trên cơ sở nhịp, câu, lớp, điệu (giọng), hơi, đã được quy định bởilòng bản

Tất cả các nhạc sĩ chơi nhạc tài tử phải thuộc thấu đáo lòng bản của từngbản nhạc tài tử Có vậy khi hòa đờn họ mới nhanh chóng thoát khỏi sự ràngbuộc của lòng bản để ngẩu hứng trong “sáng tác” các câu đờn, chữ đờn màvẫn bảo đảm sự toàn vẹn bản hòa tấu nhạc tài tử

Dàn nhạc hòa tấu nhạc tài tử truyền thống thường có có nhạc cụ: đờnkìm, đờn tranh, đờn tỳ bà, đờn cò, đờn bầu, ống tiêu và song loan Khoảngnửa cuối thế kỷ XX có thêm hai nhạc cụ phương Tây là guitare và violontham gia vào dàn nhạc tài tử Để hai nhạc cụ này tương thích với nhạc đàn tài

tử người ta đã cải tiến bằng cách khoét phím đàn guitare lõm xuống, gọi làguitare phím lõm và thay đổi cách lên dây của cả hai cây đờn

Trang 17

Trên cơ sở các bản nhạc tài tử, người ta viết lời ca để các ca sĩ hát Lời ca

ra đời đã nhanh chóng trở thành công cụ đắc lực phát huy giá trị nghệ thuật vàchức năng giáo dục của Đờn ca Tài tử đối với công chúng - một công chúngdân ca vốn có truyền thống tiếp nhận nội dung âm nhạc thông qua lời hát

Không bao lâu sau, các ca sĩ trình diễn nhạc tài tử có lời đã thay đổi lốingồi ca (ca “salon”) bằng cách ca có diễn điệu bộ gọi là “Ca ra bộ” Ban nhạctài tử biểu diễn Ca ra bộ được biết đến sớm nhất là ban nhạc tài tử ở Mỹ Thocủa ông Nguyễn Tống Triều (Tư Triều) với cô Ba Đắc, người ca sĩ diễn ba vaiBùi Kiệm, Bùi Ông và Kiều Nguyệt Nga trong bài ca Tứ đại oán tại hội chợđấu xảo ở Paris vào năm 1910 Ca ra bộ ra đời là tiền đề cho việc hình thànhsân khấu Cải lương Nam Bộ Đến năm 1917, vở diễn Lục Vân Tiên của soạngiả Trương Duy Toản được trình diễn ở Sa đéc Nhiều người coi đây là vởCải lương đầu tiên Vở Cải lương đã đánh dấu sự ra đời loại hình sân khấutruyền thống thứ ba của Việt Nam sau sân khấu Tuồng và sân khấu Chèo.Nhờ vào biểu mục nhạc tài tử phong phú, nhờ vào những giọng ca tài tử điêuluyện, sân khấu Cải lương đã nhanh chóng phát triển và trở thành sân khấu ănkhách nhất trong các loại hình nghệ thuật biểu diễn ở Nam Bộ suốt thế kỷ

XX Ngược lại, sân khấu Cải lương cũng là tác nhân tích cực làm cho nhạc tài

tử lan tỏa tới mọi lớp người từ thành thị đến nông thôn Nam Bộ

Nói đến sân khấu Cải lương, không thể không nhắc tới một bản nhạc cótính chất sự kiện, đó là bản Vọng cổ Tiền thân bản Vọng cổ là bản “Dạ cổhoài lang” do nhạc sĩ Sáu Lầu (Cao Văn Lầu) sang tác năm 1919 ở Bạc Liêu.Hơn một năm, từ sân chơi Đờn ca tài tử, bản Dạ cổ hoài lang bước lên sânkhấu Cải lương Kể từ đấy, nhờ vào những sáng tạo của nhiều danh ca, danhcầm, khắp Nam Bộ Đặc biệt là người Bạc Liêu như các nghệ sỉ Lư HòaNghĩa, Nghệ sỉ Bảy cao, Nhạc sỉ Trần Tấn Hưng… bản Dạ cổ hoài lang đãdần lột xác từ nhịp đôi đến nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16, nghịp 32 nhịp 64 cho đếnkhi các danh ca , danh cầm xác định điểm thăng hoa của bài vọng cổ là đếnnhịp 32 một điểm đến vừa đủ để bản vọng cổ tỏa sáng và phát huy hết côngsuất vừa đủ để các tác giả cổ nhạc gởi gấm lòng mình vào 6 câu vọng cổ

Trang 18

Vọng cổ ra đời là một sự kiện âm nhạc lớn làm thay đổi diện mạo âmnhạc của sân khấu cải lương Dần dà, bản Vọng cổ cũng được giới chơi nhạctài tử yêu mến và trở thành bản nhạc không thể thiếu trong mỗi cuộc đờn catài tử Đến đầu thập niên 70 của thế kỷ XX các tác giả lồng ghép bản vọng cổvào tân nhạc và tạo nên mối lương duyên giửa Tân và cổ nhạc mà ta thườnggọi là Tân cổ giao duyên nghỉa là: trong bản vọng cổ từ 6 câu nhịp 32, tác giảrút lại còn 4 câu 1-2 và 5-6 thêm vào đó 1 đoạn tân nhạc trước sau đó ca 2 câuvọng cổ 1-2 kế tiếp 1 đoạn nhạc và ca 5 -6 củng có bài tác giả đưa 1 đoạnnhạc vào hẳn 1 câu vọng cổ, thay gì mổi câu vọng cổ có 32 nhịp thì người tagiành 16 nhịp để ca nhạc và 16 nhịp ca trở về vọng cổ Tân cổ giao duyên rađời làm cho bản vọng cổ thêm mền mại tạo một luồng sinh khí mới trong bàivọng cỏ.

Trong giới đờn ca tài tử, những người chơi phải thuộc làu lòng bản cácbản đàn Khi chơi, họ được phép tự do sáng tạo ngẫu hứng thêm bớt các âm,biến hóa tiết tấu, thay đổi cường độ, tạo chỗ ngưng nghỉ để cho ra một bè đàn

có tính cách rêng, kỹ thuật riêng của người nhạc sĩ chơi Đờn ca tài tử Và cứnhư vậy, nếu có 4 người hòa tấu 4 nhạc cụ khác nhau trên cùng một lòng bản

họ sẽ cho ra 4 giai điệu có tánh cách khác nhau nhưng lại hợp thành “một tácphẩm hoàn hảo” Lối hòa đàn của Đờn ca tài tử được các nhà nghiên cứu âmnhạc Việt Nam gọi là lối “hòa tấu biến hóa lòng bản” PGS-Nhạc sĩ HoàngĐạm cho rằng “ “Biến hóa lòng bản” là một trong nhiều cách viết âm nhạckhác nhau, mà từ lâu danh từ âm nhạc thế giới đã gọi là hétérophonie (hétéro

là dị dạng, biến hóa khác nhau; phonie là âm điệu, giai điệu)… Trung Quốcgọi cách viết này là “chi thanh” hoặc “phức điệu chi thanh”

Trước khi vào bản đờn chính, người chơi đờn tài tử phải chơi câu rao.Câu rao là câu nhạc khởi đầu, rất ngẫu hứng của người chơi đờn Câu Raokhông có nhịp phách cố định, không có lòng bản như bản đờn, người chơi câurao dựa trên cơ sở điệu và hơi của nhạc tài tử mà sáng tác Câu rao “chẳngnhững tạo một bầu không khí phù hợp với bản đờn, vui tươi cho bản Bắc,nghiêm trang cho bản Nhạc, êm ả cho bản Xuân, buồn dịu cho bản Ai, mà còn

là một dịp để nhạc công thử dây đờn như người chơi kỵ mã thử ngựa, và lúc

Trang 19

đó người nhạc công có thể phô tài của mình hay tùy hứng sáng tác nhữngkhúc mới lạ”.

Trước kia những người chơi Đờn ca tài tử là những nhạc sĩ tài tử, họkhông sống bằng nghề đàn hát Họ chơi đờn một mình hoặc hòa đờn với nhauchỉ nhằm mục đích tiêu khiển khi nhàn rỗi Khi chơi họ phải chọn nhữngngười bạn tri âm, tri kỷ, hiểu nhau từ cuộc sống đến nghệ thuật; hiểu nhau từngón đờn, chữ đờn đến tài năng nghệ thuật Bởi với họ, lối chơi nhạc tài tử làđánh lên những âm thanh từ “tâm thức” để tạo ra một bản nhạc của “tâm thế”

Vì vậy chơi nhạc tài tử chính là chơi “tâm tấu”, chơi nhạc bằng cả lòng mình

Để có được điều đó, việc chọn bạn đờn và nơi để chơi đờn là điều vô cùngquan trọng

Về sau, khi phong trào chơi Đờn ca tài tử lan rộng, quần chúng có nhucầu thưởng thức, nhiều nhạc sĩ bậc thầy đã đứng ra thành lập các “ban nhạctài tử” để đi trình diễn các nơi “Ban nhạc tài tử” ra đời đã tạo ra lối chơi nhạctài tử khác với lối chơi tiêu khiển trước đấy Đó là lối biểu diễn nhạc tài tửtrên bục diễn trước khán giả Người ta còn biết “Vào năm 1915 Nguyễn TốngTriều và ban nhạc tài tử ở Mỹ Tho lên trình diễn ở nhà hàng Cửu Long Giangbên cạnh chợ Sài Gòn Đây là lần đầu tiên nhạc tài tử lên sân khấu chuyênnghiệp ở Sài Gòn”

Song song với việc thành lập các ban nhạc tài tử, sân khấu Cải lương rađời đã sản sinh ra nhiều nhạc sư, nhiều danh cầm chơi nhạc tài tử lừng danh

Họ là những người hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp, họ luôn luôn phảikhổ luyện, phải sáng tạo, phải làm mới ngón đờn, chữ đờn của mình trongtừng đêm diễn Sự khổ luyện, sự sáng tạo nghệ thuật ấy đã biến họ thànhnhững người điêu luyện trong trình diễn và nhạy bén trong sáng tạo các ngónđờn, chữ đờn mới, bổ sung, làm phong phú nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ

Ngày đăng: 15/08/2018, 17:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w