Tuyệt đại đa số các nhà triết học trong lịch sử cả các nhà duy vật và các nhà duy tâm trả lời một cách khẳng định rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới.. Lý luận nhận thức
Trang 1Vấn đề cơ bản của triết học và các trường phái triết học trong lịch sử
Bài làm
Như các nhà khoa học khác, triết học đặt ra và giải quyết rất nhiều vấn đề,trong đó có một vấn đề gọi là cơ bản của triết học Vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề về mối
quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tâm và vật, giữa ý thức
và vật chất "Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học,đặc biệt là triết học hiện đại, là vấn đề giữa tư duy và tồn tại"
(Awngghen) Bởi vì việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học là cơ sở và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học, và tiêu chuẩn để xác định lập trường thế giới quan của các triết gia và học thuyết của họ Vấn đề
cơ bản của riết học có hai mặt : mặt thứ nhất, giữa ý thức
và vật chất, cái nào có trước, cái nào có sau? Cái nào
quyết định cái nào? Mặt thứ hai, con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Việc giải quyết hai mặt vấn đề cơ bản của triết học là xuất phát điểm các
trường phái triết học trong lịch sử.
* Trả lời mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học đã xuất hiện khả tri luận và bất khả tri luận.
- Khả tri luận cho rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới Khả tri luận bao gồm khả tri luận duy vật và khả tri luận duy tâm Tuyệt đại đa số các nhà triết học
trong lịch sử (cả các nhà duy vật và các nhà duy tâm) trả lời một cách khẳng định rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới Đó là tính đồng nhất của tư duy và tồn tại Song, nếu như các nhà duy vật tìm cơ sở của sự đồng nhất đó ở vật chất, vì tư duy, ý thức con người cũng do vật
Trang 2chất sinh ra thì trả lại, những nhà duy tâm lại tìm cơ sở đó
ở ý thức, tinh thần Hêghen cho rằng có một thực thể tinh thần được gọi là ý niệm tuyệt đối đã tồn tại trước cả giới tự nhiên, nhiên và con người tư duy, quá trình nhận thức của con người chẳng qua là quá trình ý niệm tuyệt đối tự nhận thức bản thân mình mà thôi.
- Bất khả tri luận (thuyết không thể biết) cho rằng con
người không thể hiểu biết được thế giới Đavít Hium, nhà triết học Anh là một đại biểu bất khả tri luận( thuyết không thể biết) Hium tiếp tục đường lối duy tâm chủ quan của Béccli nhưng khác với Béccli, Hium đi đến chủ nghĩa hoài nghi và thuyết không thể biết Hium không thừa nhận bất
cứ một thực thể nào Thực thể, theo ông chỉ là một sự trừu tượng giả đối được hình thành trên cơ sở của thói quen tâm lý đơn giản Ông là người sáng lập những nguyên tắc
cơ bản của thuyết không thể biết ở châu Âu thời cận đại
Lý luận nhận thức của Hium xây dựng trên cơ sở kết quả cải biến chủ nghĩa duy tâm chủ quan của Béccli theo tinh thần của thuyết không thể biết và hiện tượng luận- một học thuyết triết học cho rằng con người chỉ nhận biết được hiện tượng bề ngoài của sự vật mà không thể xâm nhập được vào bản chất của chúng, tách rời hiện tượng và bản chất Cantơ, nhà triết học cổ điển Đức cũng là một đại biểu Ông cho rằng thế giới quanh ta mà ta thấy được lại không liên quan gì đến cái gọi là thế giới tự nó, chúng chỉ là các hiện tượng phù hợp với cái cảm giác và tri giác do lý tính của ta tạo ra Nhưng các cảm giác và tri giác không cung cấp cho hiểu biết gì về thế giới tự nó Như vậy trong lĩnh vực nhận thức luận, Cantơ là người theo thuyết không thể biết Vấn
đề mà những người theo thuyết không thể biết đặt ra và đã không giải quyết được là làm thế nào để biết được rằng
Trang 3những cảm giác, biểu tượng và nói chung ý thức của con người có phù hợp với sự vật mà con người có muốn nhận thức hay không? Thực ra đây là câu hỏi khó và có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu tính biện chứng của quá trình nhận thức của con người Nhưng các giác quan của con người cũng như khả năng nhận biết của mỗi giác quan đều là có hạn Ý thức được mặt hạn chế của nhận thức và tính tương đối của chân lý là bước phát triển của tư duy triết học Nhưng nếu từ đó đi tới phủ nhận khả năng nhận thức thế giới của tư duy con người, phủ nhận chân lý khách quan, lại là điều sai lầm và rơi vào chủ nghĩa duy tâm Biểu hiện ở trào lưu triết học hoài nghi luận là Pirôn-Hy lạp cổ đại, nâng sự hoài nghi lên thành nguyên tắc trong việc xem xét tri thức đã đạt được và cho rằng con người không thể đạt chân lý khách quan và hoài nghi luận thời Phục hưng lại có tác dụng quan trọng trong cuộc đấu
tranh chống hệ tư tưởng trung cổ và uy tín của Giáo hội thời trung cổ vì nó thừa nhận sự hoài nghi đối với cả Kinh thánh và các tín điều tôn giáo.
* Trả lời mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học đã xuất hiện ba trường phái triết học cơ bản là nhất nguyên luận triết học, nhị nguyên luận triết học và đa nguyên luận triết học.
- Nhất nguyên luận triết học cho rằng chỉ một trong hai thực thể ( vật chất hoặc ý thức) là cái có trước và quyết định cái kia, nghĩa là cho rằng thế giới chỉ có một nguồn gốc duy nhất Nhất nguyên luận triết học bao gồm nhất nguyên luận duy tâm ( chủ nghĩa duy tâm, triết học duy tâm) và nhất nguyên luận duy vật (chủ nghĩa duy vật và triết học duy vật).
Trang 4Chủ nghĩa duy tâm là trường phái triết học xuất phát từ quan điểm bản chất của thế giới là ý thức; ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai; ý thức có trước quyết định vật chất Chủ nghĩa duy tâm có nguồn gốc nhận thức
và nguồn gốc xã hội là sự xem xét phiến diện, tuyệt đối hóa, thần thánh hóa một mặt, một đặt tính nào đó của quá trình nhận thức, đồng thời thường gắn với lợi ích của các giai cấp, tầng lớp áp bức, bóc lột nhân dân lao động Mặt khác, chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo thường có mối liên hệ mật thiết với nhau để cùng tồn tại và phát triển Chủ nghĩa duy tâm có hai hình thức cơ bản là chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người, khẳng định mọi sự vật, hiện tượng chỉ là phức tạp những cảm giác của cá nhân Béccli (1684-1753) là một đại biểu điển hình của chủ nghĩa duy tâm chủ quan, nhà triết học nổi tiếng người Anh Điểm xuất phát của triết học Béccli là kinh nghiệm cảm tính được giải thích theo nghĩa "những tập hợp ý niệm", "những phức hợp cảm giác" Béccli khẳng định rằng, ý niệm không phải là sự phản ánh sự vât, mà nó
chính là sự vật thực tế Béccli đưa đến một công thức
chung; tồn tại tức là được tri giác Mọi vật chỉ tồn tại trong chừng mực người ta cảm giác được, không có chủ thể thì không có khách thể Triết học Béccli chống lại nhận thức luận duy vật, thù địch với học thuyết về vật chất Platôn (427-347 TCN) là một đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa duy tâm khách quan Theo platôn thì giới tự nhiên bắt nguồn từ những thực thể tinh thàn là từ những ý niệm; vật thể cảm tính chỉ là cái bóng của ý niệm Ông cho rằng để thừa
nhận được chân lý, người ta phải từ bỏ mọi cái hữu hình cảm tính; phải hồi tưởng lại những gì mà linh hồn bất tử
Trang 5đã quan sát được trong thế giới ý niệm Thuyết hồi tưởng thần bí này dược xây dựng trên cơ sở thừa nhận tính bất
tử, tính độc lập của linh hồn với thể xác Nếu phép biện chứng của Đêmôcrit được sử dụng để phục vụ khoa học thì phép biện chứng của Platôn lệ thuộc vào triết học duy tâm Các hiện tượng của tự nhiên bị Platôn quy thành những quan hệ toán học Đạo đức học của Platôn được xây dựng trên cơ sở học thuyết về linh hồn bất tử; là một hình thức của lí luận tôn giáo, là bộ phận quan trọng nhất của ý thức
tư tưởng của tầng lớp chủ nô quý tộc Là kẻ thù chính trị của chế độ dân chủ chủ nô Aten Platôn coi chế độ quý tộc tức là chế độ nhà nước của tầng lớp chủ nô thượng lưu là nhà nước lý tưởng Hêghen ( 1771-1831) nhà triết học cổ điển Đức cũng là một đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa duy tâm khách quan Triết học của ông đầy mau thuẫn Nếu phương pháp biện chứng của ông là hạt nhân hợp lý chứa đựng tư tưởng thiên tài về sự phát triển thì hệ tư tưởng triết học duy tâm của ông phủ nhận tính khách quan của nhũng nguyên nhân bên trong vốn có của sự phát triển của tự nhiên và xã hội Ông cho rằng khởi nguyên của thế giới không phãi là vật chất mà là ý niệm tuyệt đối hay tinh thần thế giới Tính đa dạng phong phú của thế giới hiện thực là kết quả của sự vận động và sáng tạo của ý niệm tuyệt đối
Ý niệm tuyệt đối tồn tại vĩnh viễn Theo nhận xét của Lênin thì ý niệm tuyệt đối chỉ là một cách nói theo đường vòng, một cách nói khác về thượng đế mà thôi Cho nên triết học của Hêghen là sự biện hộ cho tôn giáo Hêghen đã có công trong việc phê phán tư duy siêu hình và ông là người đầu tiên trình bày toàn bộ thế giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình-trong sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng Đồng thời trong khuôn khổ của hệ
Trang 6thống triết học duy tâm khách quan của mình, Hêghen không chỉ trình bày các phạm trù như chất, lượng, phủ định, mâu thuẫn mà còn nói đến cả các quy luật như chất đổi dẩn đến lượng đổi và ngược lại, phủ định của phủ định
và quy luật mâu thuẩn Nhưng tất cả các cái đó chỉ là quy luật vận động và phát triển của bản thân tư duy, của ý
niệm tuyệt đối Tự nhiên, xã hội phát triển trong sự phụ thuộc vào sự phát triển của ý niệm tuyệt đối Ý niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới là tính thứ nhất, thế giới tự nhiên là tính thứ hai, do ý niệm tuyệt đối và tinh thần thế giới sinh
ra và quyết định, là một sự tồn tại khác của tinh thần sau khi trải qua giai đoạn tồn tại khác ấy, ý niệm tuyệt đối hay tinh thần thế giới mới trở lại bản thân mình và đó là giai đoạn cao nhất, giai đoạn tột cùng, được Hêghen gọi là tinh thần tuyệt đối.
Ngược lại, chủ nghĩa duy vật là trường phái triết học xuất phát từ quan điểm bản chất của thế giới là vật chất; vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai; vật chất có trước và quyết định ý thức Chủ nghĩa duy vật có nguồn gốc từ sự phát triển của khoa học và thực tiễn, thường gắn với lợi ích của giai cấp và lực lượng tiến bộ trong lịch sử
Nó là kết quả của quá trình đúc kết khái quát kinh nghiệm
để vừa phản ánh những thành tựu mà con người đã đạt trong từng giai đoạn lịch sử, vừa định hướng cho các lực lượng xã hội tiến bộ hoạt động trên nền tảng của những thành tựu ấy Chủ nghĩa duy vật có các hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật chất phác, ngây thơ thời cổ đại, chủ nghĩa duy vật máy móc siêu hình thế kỉ 17-18, chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật tầm thường và chủ nghĩa duy vật kinh tế Chủ nghĩa duy vật chất phác ngây thơ thời cổ đại xuất hiện ở nhiều dân tộc trên thế giới, nhất
Trang 7là ở các nước Ấn Độ, Trung Quốc và Hy Lạp Quan điểm của chủ nghĩa duy vật thời kỳ này nói chung là đúng đắn nhưng mang tính chất ngay thơ, chất phác, vì chủ yếu dựa vào cách quan sát trực tiếp, chưa dựa vào thành tựu của các bộ môn khoa học chuyên ngành, vì các bộ môn chuyên ngành lúc đó chưa phát triển Chủ nghĩa duy vật chất phác, ngây thơ là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật thời cổ đại Chủ nghỉa duy vật thời kỳ này trong khi thừa nhận tính thứ nhất của vật chất đã đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ thể và những kết luận của nó mang nặng tính trực quan nên ngây thơ chất phác Tuy còn rất nhiều hạn chế nhưng chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại về cơ bản là đúng vì nó lấy giới tự nhiên để giải thích
về giới tự nhiên, không biện đến thần linh hay thượng đế (một đấng sáng tạo nào) để giải thích thế giới Đêmôcrit (460-370 TCN) là một đại biểu xuất sắc nhất của chủ nghĩa duy vật cổ đại với học thuyết nguyên tử luận Nguyên tử có
vô vàn hình dạng Các sự vật là do các nguyên tử liên kết lại với nhau tạo nên Tính đa dạng vủa nguyên tử làm nên tính đa dạng của thế giới các sự vật Nguyên tử tự thân, không vận động, nhưng khi kết hợp với nhau thành vật thể thì làm cho vật thể và thế giới vận động không ngừng Khái niệm linh hồn được hiểu như là hoạt động tâm lý Linh hồn
là tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt thế giới hữu sinh và thế giới vô sinh Linh hồn cũng là một dạng vật chất được cấu tạo từ những nguyên tử đặc biệt có hình cầu lung linh như ngọn lửa, có vận tốc lớn, luôn luôn động và sinh ra nhiệt làm cho cơ thể hưng phấn và vận động Do đó linh hồn có một chức năng quan trọng là đem lại cho cơ thể sự khởi đầu vận động Chủ nghĩa máy móc siêu hình thế kỷ 17-18 xuất hiện vào thời ký phát triển rực rỡ của cơ học cổ điển
Trang 8khiến cho quan điểm xem xét thế giới theo kiểu máy móc chiếm địa vị thống trị và tác động mạnh mẽ đến các nhà duy vật Các nhà duy vật máy móc xem xét thế giới tự nhiên
và con người chỉ như hệ thống máy móc phức tạp khác nhau mà thôi Chủ nghĩa duy vật này còn là siêu hình vì họ chỉ thấy sự vật trong trạng thái biệt lập, ngưng đọng,
không vận động, không phát triển Phoiơbắc (1804-1872)
là một đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa máy móc siêu hình thế kỷ XVII-XVIII, là một trong những nhà duy vật lớn nhất của triết học cổ điển Đức và cả triết học thời kỳ trước Mác Công lao vĩ đại của ông đã khôi phục lại địa vị xứng đáng của triết học duy vật và đã giáng một đòn rất nặng vào triết học duy tâm khách quan của Hêghen và vào chủ nghĩa duy tâm nói chung Phoiơbắc chứng minh rằng thế giới là vật chất; giới tự nhiên không do ai sáng tạo ra, nó tồn tại độc lập với ý thức và không phụ thuộc vào bất cứ triết học nào Do đó cơ sở tồn tại của giới tự nhiên nằm ngay trong lòng giới tự nhiên, chống lại hệ thống duy tâm của triết học Hêghen coi giới tự nhiên là sự tồn tại khác của tinh thần, Phoiơbắc chỉ ra rằng triết học mới này phải có tính chất nhân bản, phải kết hợp với khoa học tự nhiên Nguyên lý nhân bản của triết học Phoiơbắc xóa bỏ sự tách rời giữa tinh thần và thể xác do triết học duy tâm và triết học nhị nguyên luận tạo ra Mặc tích cực trong triết học nhân bản của Phoiơbắc còn thể hiện ở chổ ông đấu tranh chống các quan niệm tôn giáo chính thống của đạo thiên chúa,, đặc biệt quan niệm về thượng đế Chủ nghĩa duy vật biện
chứng do Mác và Ăngghen xây dựng sau đó được Lênin phát triển Ngay từ khi mới ra đời chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại, chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ
Trang 9XVII-XVIII, thể hiện là đỉnh cao trong sự phát triển của chủ nghĩa duy vật Mác là một đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng, sinh ngày 5-5-1818 và mất ngày 14-3-1883 ở tỉnh Ranh của nước Đức là một đại biểu,
tháng 4-1841 nhận bằng tiến sĩ triết học Theo Mác, gắn bó với cuộc đấu tranh cách mạng, lý luận tiên phong có ý nghĩa cách mạng to lớn và trở thành một sức mạnh vật chất Mác chỉ rõ "giống như triết học thấy giai cấp vô sản là
vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình" Tư tưởng về vai trò lịch
sử toàn thế giới của giai cấp vô sản là điểm xuất phát của chủ nghĩa cộng sản khoa học Như vậy quá trình hình
thành và phát triển tư tưởng triết học duy vật biện chứng
và triết học duy vật lịch sử cũng đồng thời là quá trình hình thành chủ nghĩa cộng sản khoa học, thế giới vô sản cách mạng Mác xem sự tha hóa của lao đọng như một tất yếu lịch sử: "sự tha hóa" của lao động Sự tồn tại và phát triển của "lao động bị tha hóa" gắn liền với sở hửu tư nhân Mác đã cho rằng sở hữu tư nhân được sinh ra do "lao động
bị tha hóa", nhưng sau đó lại trở thành nguyên nhân của sự tha hóa của lao động và sự tha hóa của con người Sự tha hóa đó phát triển cao độ trong chủ nghĩa tư bản, thể hiện ở sức lao động bị biến thành hàng hóa cũng như ở quá trình hoạt động sản xuất và sản phẩm của lao động; từ đó dẩn tới "sự tha hóa của con người khỏi con người" Bởi vậy việc khắc phục sự tha hóa ấy chính là sự xóa bỏ chế độ sở hữu
tư nhân Việc giải phóng người công nhân khỏi lao động bị tha hóa" dưới chủ nghĩa tư bản cũng là khắc phục lao động
bị tha hóa nói chung, là sự giải phóng con người nói
chung Nhận thức về mặt xã hội của bản chất con người, Mác viết: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người
Trang 10là tổng hòa những quan hệ xã hội" Ăngghen cũng là một đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng, sinh ngày 28-11-1820 và mất ngày 5-8-1895 ở tỉnh Ranh của nước Đức là một đại biểu Ăngghen đã phát triển triết học Mác thông qua việc khái quát các thành tựu khoa học và phê phán các lý thuyết triết học duy tâm, siêu hình và cã những quan niệm duy vật tầm thường ở những người tự nhận là người mácxít nhưng lại không hiểu đúng thực chất của học thuyết Mác Ăngghen đã trình bày học thuyết Mác nói chung, triết học Mác nói riêng dưới dạng một hệ thống
lý luận Lênin cũng là một đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng, sinh năm 1870 và mất năm 1924 đã vận dụng sáng tạo học thuyết của Mác để giải quyết những vấn đề của cách mạng vô sản trong thời đại chủ nghĩa đế quốc và bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội Ông đã có đóng góp to lớn vào sự phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng, nhất là lý luận về hình thái kinh tế- xã hội của Mác Chính vì vậy mà một giai đoạn mới trong sự phát triển của chủ nghĩa Mác-Lênin nói riêng, chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung Chủ nghĩa duy vật tầm thường không thấy sự khác biệt giữa vật chất và ý thức, xem ý thức cũng chỉ là một dạng vật chất, coi tư
tưởng đối với óc gần giống như mặt đối với gan hay là nước tiểu đối với thận Chủ nghĩa duy vật kinh tế xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, coi kinh tế là cái quyết định duy nhất
sự phát triển của xã hội, trong khi đó thực ra kinh tế chỉ quyết định sự phát triển của xã hội khi xét đến cùng và cũng không phải là nhân tố quyết định duy nhất Ta biết rằng, ngoài kinh tế các yếu tố khác nhau như các tiền đề và điều kiện chính trị, các lý luận pháp lý, triết học, tôn giáo cũng đều có vai trò rất lớn trong sự phát triển của lịch sử