Có điều đó bởi bối cảnh xã hội thay đổi, quan niệm sáng tạo của nhà thơ đã có những chuyển biến sâu sắc: thay vì quan niệm thơ như một hoạt động tuyên truyền chính trị, giờ đây thơ được
Trang 11 Trong số các nhà thơ trực tiếp tham gia chiến đấu và trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, Hữu Thỉnh là một nhà thơ có phong cách riêng khá độc đáo Cái riêng ấy thể hiện một phần ở tính triết lý dung dị ông gửi vào tác phẩm Trước
1975, tính triết lí còn thấp thoáng; sau 1975, nó đã hiện hữu thành cái tôi triết lí không thể trộn lẫn trong thơ ông
Cái tôi triết lí đã làm nên nét nổi bật của Hữu Thỉnh đồng thời cũng làm rõ hơn đặc điểm thơ ca Việt Nam thời kì đổi mới cả trước và sau 1975 Dù trước hay sau
1975, chất triết lí của thơ Hữu Thỉnh đều gắn với cái nhìn hướng thiện, sự giản dị
và cảm nhận tinh tế về tạo vật Nó làm thơ ông mang nét riêng: triết lí mà vẫn gần gũi, không lên gân như nhiều người vẫn gặp phải
Tuy nhiên, trước 1975, cái tôi triết lí xuất hiện còn mờ nhạt Mục đích của nó là làm rõ cảm hứng anh hùng và niềm tin không lay chuyển về tương lai trong niềm vui tất thắng chứ không nhằm giãi bày những tâm tình riêng tư, nỗi buồn thế sự
Nó thường xuất hiện qua hai hình tượng: người chiến sĩ và người mẹ (người chị) trong chiến tranh Triết lí xuất hiện chỉ để làm nổi bật những hi sinh và những đóng góp thầm lặng cho cuộc cách mạng Ở hình tượng người mẹ (và người chị), Hữu Thỉnh thường chú ý ở phương diện đau thương, bất hạnh, những thiệt thòi hi
sinh… Cái tôi ấy không có nét riêng mà bị ảnh hưởng bởi xu hướng tổng kết chiến tranh thời bấy giờ
Ở giai đoạn sáng tác sau, cái tôi triết lí xuất hiện đậm đặc và trở thành một đặc điểm lớn trong thơ Hữu Thỉnh Có điều đó bởi bối cảnh xã hội thay đổi, quan niệm sáng tạo của nhà thơ đã có những chuyển biến sâu sắc: thay vì quan niệm thơ như một hoạt động tuyên truyền chính trị, giờ đây thơ được nhấn mạnh, đề cao trước hết với tư cách là một hoạt động sáng tạo – nhận thức; thơ không được phép quay lưng trước những vấn đề nóng bỏng của hiện thực đời sống, thơ phải gắn liền với thời đại và thời cuộc, thơ phải là tiếng nói trách nhiệm và ý thức xã hội tỉnh táo, trung thực của nghệ sỹ Nhận thức đời sống trong chiều sâu triết lý chính là một đặc điểm nổi bật của Hữu Thỉnh Thơ có thể bàn về nhiều vấn đề đa dạng của hiện
Trang 2thực song cách thể hiện phải giàu tính tư tưởng, hướng thơ trở về với đời thường, với số phận cá nhân, đào sâu vào tiếng nói nội tâm, đi sâu phân tích, lý giải thế giới cảm xúc, tâm linh sâu kín bí ẩn Đây là những đổi mới hết sức sâu sắc và nhân bản trong quan niệm, tư tưởng nghệ thuật của tác giả và nhiều nhà thơ khác cùng thế hệ với ông
Nếu trước đây, điều quan tâm lớn nhất với Hữu Thỉnh nói riêng và các thi sĩ chống
Mỹ nói chung là tâm niệm “Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình”, thì ở chặng sau, cái nhìn của nhà thơ mang tính hướng nội rất sâu Những mảnh vỡ tâm trạng, những lo âu khắc khoải, những bể dâu cuộc đời được nói đến một cách riết róng qua góc nhìn đời tư Không còn ở đây cái nhìn của chúng tôi mà là cái nhìn của
“chính tôi” Cái tôi vì thế trở nên đa diện mà mặt trội của nó là những suy tư về cõi người Đó không phải là cái tôi hiện lên trong quầng sáng sử thi mà là hiện lên trong chính cuộc sống thô ráp thường ngày
2 Trong hành trình thơ ca, Hữu Thỉnh đã nhiều lần soi rọi nội tâm và rút ra những triết lí riêng Đó là triết lí của cái tôi tự ý thức cao độ và luôn muốn đào sâu vào bản thể
Trong chuyên luận Thi pháp thơ Hữu Thỉnh, Nguyễn Nguyên Tản cũng đã nhắc tới cái tôi tự ý thức này trong hình bóng người cô đơn: “Con người cô đơn trong thơ Hữu Thỉnh xuất hiện trên cái nền chung ấy, nhưng cô đơn cũng cô đơn hơn, thất vọng cũng thất vọng hơn, đau xót cũng đau xót hơn Bởi như đã nêu ở trên, anh là người của khát vọng được đồng cảm, cháy bỏng, da diết, bức xúc”[6,tr53] Nhà thơ
đã tự soi vào bản thân để phát hiện ra nỗi cô đơn dường như là bạn đường của ông trong đường đời Cô đơn đã quán xuyến tất cả từ mạch thơ đến hồn thơ Điều này thể hiện rõ trong tập Thư mùa đông Nhiều người đánh giá nó là sự tiếp nối của một cô đơn dằng dặc Càng cô đơn, tác giả càng đi sâu để khám phá sự phong phú trong những cung bậc tâm hồn con người và từ đó đưa ra những triết lí sâu sắc về chính nỗi cô đơn Cô đơn đâu phải chỉ do thiếu hòa hợp với xã hội mà còn do người thi sĩ muốn sẻ chia song không được:
Trang 3Chỉ còn một mình anh
Với chiều ngoài cửa sổ
(Ước)
Câu thơ ẩn chứa nỗi buồn của người trên cuộc hành trình tìm tới hạnh phúc trọn vẹn:
Mùa thu cũng bỏ trời
Đi về miền tiếc nuối
Có con tàu mệt mỏi
Thét còi trong tim anh
(Ước)
Cái tôi ấy còn luôn muốn đào sâu vào bản thể bằng sự tự dằn vặt và những nghi vấn Trong guồng quay của cuộc sống mưu sinh, tâm hồn con người cũng bộc lộ nhiều biến thái mới, nhiều chiều sâu mới Nhà văn có thể mô tả rất nhiều nhân vật, qua cá tính và số phận các nhân vật ấy Còn nhà thơ chỉ mô tả tâm hồn mình để
Trang 4người đọc thấy được cuộc sống xã hội, vì vậy, cái tôi mới hay dằn vặt Cái tôi ấy chung cảm hứng với rất nhiều nhà thơ hiện đại Sau năm 1986, các nhà thơ nỗ lực khám phá sự phong phú của “cái tôi ẩn giấu”, dám phơi bày những bi kịch nhân sinh, hoài nghi những giá trị vốn đã quá ổn định để đi tìm những giá trị mới Cái tôi triết lí của Hữu Thỉnh cũng bộc lộ ngay cả góc khuất của tâm hồn Nó là sự đào sâu, lí giải, trăn trở của cái tôi Trong đó còn có cả quá trình nhà thơ tự làm thanh khiết tâm hồn mình Bài thơ “Lọc”, ông nói về chính cuộc sống nội tâm mình bằng triết lí:
Lọc hết bùn đi
Còn chút gì sót lại
Đấy là anh sau những vui buồn…
Nhà thơ đã dùng nhiều hình ảnh mang tính biểu tượng để nói về một chân lí: con người ta bị vấy quá nhiều “bùn đen” trong tâm hồn, cần sàng lọc đi mới thấy được bản chất Từ câu chuyện của chính ông, ta thấy triết lí sống dành cho mọi người
Trong nhiều bài thơ khác, ta cũng thấy những triết lí hướng thiện này Nó trở thành bình phong che chở ông trước sự cô đơn, đau buồn của cuộc đời Vì lẽ đó, thơ ông, dù về sau này chất chứa tâm trạng buồn nhưng vẫn không lạnh lẽo, mà vẫn toát lên vẻ hồn hậu của một tâm hồn luôn biết gạn lọc để vượt lên trên bùn lầy của cuộc sống:
Tôi cố lách qua cặn lắng của đời mình
Trang 5Dưới đáy cốc của hy vọng
(Cặn lắng)
Thông qua lời nhắn nhủ của mẹ, ông nêu một phương châm sống:
– Hãy yêu lấy con người
Dù trăm cay nghìn đắng
Đến với ai gặp nạn
Xong rồi, chơi với cây
(Lời mẹ)
Đặc biệt, cái tôi triết lí ấy hiện rõ đầy tranh cãi qua Thương lượng với thời gian:
Buổi sáng lo kiếm sống
Buổi chiều tìm công danh
Buổi tối đem trí khôn ra mài rũa
Trang 6Tỉnh thức
Những hàng cây bật khóc
Nhân vật trong Thương lượng với thời gian giống bao người Để sống thì cũng phải lao vào guồng quay tiền tài danh vọng Ngày thì lo tìm công danh, tiền bạc, đêm “mài rũa trí khôn” cũng chỉ để tìm công danh, tiền bạc một cách dễ dàng hơn May thay, trong vòng quay đó, cái tôi vẫn tỉnh thức, vẫn biết giật mình Có cái tỉnh thức này, mới hiện lên rõ ràng nhân cách một con người còn giữ được lương tri, còn biết trăn trở, đi tìm lẽ cao đẹp hơn là công danh, tiền bạc Những hàng cây bật khóc hay chính cái tôi bật khóc? Khóc vì “mình lại thương mình xót xa”, vì cuộc kiếm tìm áo cơm, danh vọng, cuộc mài rũa trí khôn đã biến mình thành một kẻ tầm thường; hay khóc vì không đạt được điều mình muốn dù đã phải “thương lượng với thời gian”? Hay vì cả hai lẽ? Hay khóc vì cứ “lo”, cứ “tìm”, cứ “mài rũa” hết
cả một đời rồi, còn nghĩ gì được đến những điều cao đẹp, thánh thiện…! Khóc vì hoàn cảnh buộc mình phải thế, hay khóc vì mình không vượt nổi hoàn cảnh? Qua
đó, chúng ta thấy được triết lí của tác giả về cuộc sống và đời người Cuộc sống cứ trôi qua vùn vụt, đời người còn lại gì đây sau khi cởi bỏ tấm áo danh vọng? Phải tỉnh lại thôi Song bản thân tác giả cũng thấy bất lực trong tiếng khóc dồn nén cuối bài thơ Biết là vậy mà không làm khác được
3 Khi hiểu được bản ngã, cái tôi muốn truy vấn cả cuộc sống Cái tôi trong thơ Hữu Thỉnh cũng vậy Nó luôn muốn truy tìm ý nghĩa và bản chất của đời sống và các vấn đề nhân sinh thế sự để rút ra triết lí
Chất triết lí này rõ rệt nhất ở những tác phẩm sau 1986 Công cuộc đổi mới được khởi xướng vào năm 1986 là một sự kiện trọng đại làm thay đổi cuộc sống nước ta vốn đã có lúc rơi vào khủng hoảng sâu sắc Văn nghệ, trong tình hình mới đã dám
“nói thẳng”, “nói thật” về nhiều vấn đề khúc mắc, nhiều sự thật đau lòng Thơ của
Trang 7Hữu Thỉnh cũng nằm trong trào lưu đó Không thể phủ nhận một thực tế là cơ chế kinh tế thị trường đã làm cho cuộc sống khởi sắc hơn, nhưng mặt khác, con người dường như sống với nhau lạnh lùng hơn, mối quan hệ giữa các cá nhân trong xã hội lỏng lẻo hơn Bối cảnh lịch sử và văn hóa mới, cả mặt phải và mặt trái của nó khiến nhà thơ không thể nhìn cuộc sống như trước đây mà buộc nhà thơ phải thích ứng với những thay đổi nhiều khi chóng mặt của cuộc sống Ý thức nhìn cuộc đời bằng cái nhìn tỉnh táo và thơ ca hiện ra như một hình thức tra vấn không ngừng về đời sống
Hữu Thỉnh đã sẵn sàng chỉ ra hiện thực cuộc sống thời hậu chiến khi niềm vui chiến thắng đã lắng lại, hiện thực đất nước khó khăn lại đặt ra những nghiệt ngã Thơ Hữu Thỉnh cũng dần dần đi vào những ưu tư, thức ngộ mới về thời cuộc:
Anh cứ tưởng sau chiến tranh thì toàn là hạnh phúc
Chúng ta đã từng vò võ đợi nhau
Nhưng không phải em ơi, cuốc kêu không phải thế
…
Tôi cứ tưởng không còn ai xấu nữa
Tôi cứ tưởng tốt với nhau bao nhiêu cũng còn chưa đủ
Nhưng không phải, trời ơi, cuốc kêu không phải thế
Trang 8(Nghe tiếng cuốc kêu)
Sự đau đớn ấy cho thấy một triết lí: có những mảng đen sau màu hồng, có những điều xấu trong xã hội vẫn tồn tại như một tất yếu, chỉ có ta là mộng tưởng thôi
Đó còn là triết lí đau đớn về cách ứng xử lật lọng tráo trở của con người với nhau trong xã hội:
Có gì bền? Nhân nghĩa có còn đây?
(Nghẹn)
Cõi thiện xa xăm câu kinh vượt dốc
Mây vừa đi vừa ngoái lại trông người
(Ngẫu cảm)
Kẻ phản phúc vừa lau tay sạch sẽ
Cười súng sính
Trang 9Trong bộ cánh thớ lợ
…
Luật nhân quả
Ngủ gật trên bậc cửa
(Bất hạnh)
Vừa trong mơ cùng tôi
Cây ra đường đã bụi
Vừa dào dạt cùng tôi
Biển đã thành sương khói
(Vừa trong mơ cùng tôi)
Ta đâu có đề phòng từ phía những người yêu
Cây đổ về nơi không có vết rìu
Trang 10Ôi hoa tặng, chiều nay ai giẫm nát
Mưa dập vỡ trên đường em trở gót
(Tự thú)
Lời thơ đã thể hiện bi kịch khi con người chợt nhận ra giữa thực tế và lý tưởng một thời là một khoảng cách xa tắp đến mù mịt; khát vọng về sự tốt đẹp, lương thiện không ngăn nổi cái nghịch lý, trớ trêu, cái xấu cái ác hoành hành Nhạc thơ chậm
và buồn, tứ thơ sâu thẳm nhằm diễn tả cái hư vô của cuộc đời
Trong cuộc sống ấy, tác giả lại càng ý thức về phẩm giá con người Trong Gửi người bộ hành lặng lẽ, nhà thơ đã cúi đầu trước cuộc đời nhà thơ Chính Hữu, người suốt đời là quân nhân, một con người sống và ra đi lặng lẽ như sự giác ngộ cho một triết lí sống siêu thoát, bình yên:
Anh mang theo những tiếng chuông xưa
Gõ trai tịnh dưới những vòm lá cổ
Cảm quan triết lí còn đi theo Hữu Thỉnh tới cả thơ tình Thơ tình ông không ngọt ngào mà ẩn chứa những triết lí sâu xa qua hình tượng thơ gợi cảm Đây là triết lí về
sự mềm yếu của phái mạnh trước người con gái họ yêu:
Trang 11Biển vẫn cậy mình dài rộng thế
Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn
(Thơ viết ở biển)
Đặc biệt, cái tôi triết lí ấy được nhiều người chú ý hơn cả là trong bài thơ Hỏi:
Tôi hỏi đất:
– Đất sống với đất như thế nào?
– Chúng tôi tôn cao nhau
Tôi hỏi nước:
– Nước sống với nước như thế nào?
– Chúng tôi làm đầy nhau
Tôi hỏi cỏ:
– Cỏ sống với cỏ như thế nào?
Trang 12– Chúng tôi đan vào nhau
Làm nên những chân trời
Tôi hỏi người:
– Người sống với người như thế nào?
Tôi hỏi người:
– Người sống với người như thế nào?
Tôi hỏi người:
– Người sống với người như thế nào?
Các sự vật khách quan giờ mang tính biểu tượng cao cho một triết lí sống: tầng đất tôn nhau lên, nước làm đầy nhau, cỏ đan vào nhau mở ra bát ngát chân trời Tất cả tượng trưng cho cuộc sống nương tựa, tương hỗ Một lối sống lí tưởng mà nhà thơ mong chờ Một lối sống, một cách ứng xử văn hoá: “tôn cao”, “làm đầy”, “đan vào” (để ) “làm nên” Nhưng có câu hỏi đã được ấp ủ, thôi thúc, day dứt từ lâu mà tác giả không trả lời được Đó là câu hỏi người “Nếu ba khổ đầu tâm trạng nhà thơ dừng lại ở thế cân bằng, cái nhìn hoà đồng, cảm thông cùng vạn vật giúp chủ thể
có được cảm giác an nhiên tự tại bằng sự hoà nhập tiểu ngã và đại ngã, thì ở đoạn
Trang 13thơ sau, mạch thơ trở thành khắc khoải” (Nguyễn Thị Thúy Hạnh) Hơn bao giờ hết, ý nghĩa của câu nói này đặt ra vấn đề muôn thủơ của nó Phải sống thế nào cho đúng? Sống với chính bản thân mình ra sao? Sống với mọi người xung quanh, sống với tiền nhân và hậu thế thế nào? Người làm thơ và những ai có nhân cách đều lo lắng gìn giữ cái phần “bản thiện” nguyên sơ và vĩnh cửu trong tâm hồn mỗi người, những vẻ đẹp làm chốn nương náu cho cuộc đời Bài thơ là triết lí về lương tâm mỗi con người: đó là thứ khó nhìn thấy, khó đoán nhưng tác giả vẫn mong con người sẽ đẹp hơn, tốt hơn lên Những thói đời gian manh, phàm tục, biển lậu, trưởng giả, đạo đức giả, vô học…sẽ bị lui đi “Bài thơ “Hỏi” đã đạt đến tính hàm súc cổ điển, với lối hành văn trí tuệ và chất cảm xúc đằm thắm, nhuần nhị Hồn cốt dân gian, nếp cảm nếp nghĩ gắn bó với truyền thống ai đọc cũng thấy thân quen như tự những câu thơ đã nằm trong trí nhớ từ lâu” [4]
4 Nói tới cái tôi triết lí trong thơ Hữu Thỉnh, ta không thể không nói đến biểu tượng trong thơ ông Dường như ở đâu, tác giả cũng muốn xây dựng các biểu tượng như sự khái quát cuộc sống, từ đó đưa ra những phân tích lí giải
TrongThương lượng với thời gian, ông xây dựng hàng cây như biểu tượng cho chính tác giả nói riêng và con người nói chung Tác giả đã nhìn rõ vào bản thân, thấy cả một đời người quay cuồng trong trí khôn, tiền bạc và công danh mà quên đi bản thân Bài thơ cất lên nỗi buồn chua chát và bất lực của một đời người, không được là mình, chưa thực sự là mình sau biết bao năm tháng, dù “buổi tối” của cuộc đời đã buông xuống Hữu Thỉnh viết bài thơ này khi đã qua tuổi 60, đã có sự chiêm nghiệm, từng trải cuộc đời Những câu thơ đầy “ý tại ngôn ngoại” còn có thể hiểu:
“buổi sáng”, “buổi chiều”, “buổi tối” là những khoảng thời gian của đời người Trẻ
lo kiếm sống, trung niên tìm công danh, già thì “mài rũa trí khôn” Nhan đề bài thơ cũng là điều đặc biệt Nhiều bài khác, nhan đề chỉ là sự tóm gọn ý toàn bài
nhưng“Thương lượng với thời gian”, tự bản thân nó là một cá thể vừa độc lập với bài thơ vừa soi rõ ý thơ, vừa bắt người đọc suy nghĩ, đặt câu hỏi: làm sao có thể thương lượng được với thời gian?
Cái tôi khái quát ấy ta còn được gặp trong bài Sang thu Một bài thơ tưởng chỉ tả thiên nhiên song hóa ra nó hàm chứa ý nghĩa triết lí sâu sắc Trong khổ cuối, tác
Trang 14giả đã xây dựng hình ảnh hàng cây đứng tuổi như biểu tượng cho những người đã trưởng thành, chín chắn, từng trải Lại một lần nữa ta thấy hình ảnh hàng cây với biểu tượng cho con người trong thơ ông:
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi”
Nắng ấy, mưa ấy, sấm ấy là vất vả lo toan của của cuộc đời, là những biến động bất thường của ngoại cảnh nhưng với con người từng trải thì họ đón nhận những thử thách ấy một cách bình tĩnh, vững vàng Hai dòng thơ vẫn tả cái bước đi êm nhẹ của thiên nhiên, nhưng lại gợi suy nghĩ về con người Đó là một khúc sang thu vừa thơ mộng, vừa bâng khuâng gợi vẻ triết lí
Cái tôi khái quát không chỉ thể hiện ở hình ảnh hàng cây mà còn xuất hiện trong nhiều hình ảnh khác, như con đường, dòng nước, ngọn cỏ,…Trong đó tiêu biểu là hình ảnh con đường Con đường cũng mang ý nghĩa biểu tượng TrongThư mùa đông, đó là đường đời của một cá nhân đi tìm tri âm tri kỉ, tìm cái đẹp và cái thiện như mơ ước Con đường ấy mang tính ước lệ rõ rệt
Về cấu tứ thơ, Hữu Thỉnh thường chọn ý thơ từ những sự vật rất đơn giản, cụ thể nhưng là sự vật được chọn lọc, có ý nghĩa biểu tượng như cái cây, ngọn cỏ, dòng nước Từ đấy, tác giả khái quát hóa thành những triết lí sâu xa Kết thúc bài thơ bao