1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tứ thơ và cái tôi trữ tình trong thơ hữu thỉnh

103 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 118,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những trường ca, những tác phẩm thơ của ông sáng tác về đề tài chiếntranh đã thể hiện được hiện thực với một quy mô đáng kể, đặc biệt là thôngqua hình ảnh người lính.. Bên cạnh đó còn có

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự

hướng dẫn khoa học của PGS TS Đoàn Đức Phương Các nội dung nghiên

cứu và các kết quả trong đề tài này là hoàn toàn trung thực và chưa công bốdưới bất cứ hình thức nào trước đây Những dẫn chứng phục vụ cho việc sosánh, phân tích được chính tác giả luận văn thu thập từ các nguồn khác nhau

có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá của các nhànghiên cứu đi trước đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc

Nếu có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nộidung luận văn của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 201

Tác giả luận văn

Phạm Thị Thanh Mai

Trang 4

LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới PGS TS Đoàn Đức Phương,

người thầy đã hướng dẫn tận tình, đưa ra những định hướng, góp ý, nhận xéttrong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Văn học, trườngĐại học Khoa học xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc Gia Hà Nội tham giagiảng dạy các môn học trong chương trình đào tạo Thạc sĩ Văn học đã cungcấp kiến thức nền tảng cho luận văn

Xin cảm ơn sự khích lệ, động viên của đồng nghiệp đã giúp tôi hoànthiện quá trình học tập và thực hiện đề tài

Xin gửi lời cảm ơn đến các bạn học viên lớp cao học Văn học K58- 2013

đã cùng tôi trao đổi, chia sẻ các kiến thức trong quá trình cùng học tập và làmluận văn

Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình đã luônđộng viên, hỗ trợ và tạo động lực cho tôi trong quá trình tham gia chươngtrình học

Dù có nhiều cố gắng, song chắc chắn luận văn đề tài Tứ thơ và cái tôi trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi

mong muốn nhận được sự góp ý chân thành của thầy cô và các bạn Tôi hivọng những nghiên cứu đặt ra trong luận văn sẽ trở thành nguồn tư liệu có giátrị đối với việc dạy học tác phẩm văn chương của Hữu Thỉnh trong nhà trườngphổ thông

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng năm 201

Tác giả luận văn

Phạm Thị Thanh Mai

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Cấu trúc luận văn 8

NỘI DUNG 9

Chương 1: SÁNG TÁC THƠ VÀ QUAN ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA HỮU THỈNH

1.1 Hành trình sáng tạo

1.2 Quan điểm nghệ thuật

Chương 2: TỨ THƠ VÀ CẤU TỨ TRONG THƠ HỮU THỈNH

2.1 Khái lược về tứ thơ và cấu tứ trong thơ

2.1.1 Tứ thơ

2.1.2 Cấu tứ

2.2 Loại hình tứ thơ trong thơ Hữu Thỉnh

2.2.1 Tứ thơ về tình cảm gia đình

2.2.2 Tứ thơ về tình yêu

2.2.3 Tứ thơ về nỗi cô đơn

2.3 Nghệ thuật tổ chức tứ thơ trong thơ Hữu Thỉnh

2.3.1 Cấu tứ liên tưởng

2.3.2 Cấu tứ gợi mở

2.3.3 Cấu tứ kết chuỗi

Chương 3: CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ HỮU THỈNH

3.1 Khái lược về cái tôi trữ tình

3.2 Biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh

Trang 6

3.2.1 Cái tôi trách nhiệm với Tổ quốc 63

3.2.2 Cái tôi nhạy cảm, tinh tế 67

3.2.3 Cái tôi đầy trăn trở suy tư giữa cuộc đời 71

3.3 Phương thức biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh 77

3.3.1 Ngôn ngữ thơ 77

3.3.2 Giọng điệu 81

3.3.3 Biểu tượng thơ 83

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 7

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc với chiến thắng vào ngày 4-1975 đã đánh dấu một kỉ nguyên mới, lật một trang mới trong lịch sử dântộc Hòa chung với khí thế chống giặc ngoại xâm, văn học đã có đóng gópkhông nhỏ trong việc khích lệ, cổ động tinh thần cho cuộc kháng chiến Đồngthời chính cuộc đấu tranh giành độc lập này đã thúc đẩy sự phát triển mạnh

30-mẽ của nền thơ ca Việt Nam với sự lớn mạnh về đội ngũ sáng tác Chưa baogiờ lực lượng sáng tác thơ lại tập hợp được nhiều thế hệ và nhiều phong cách,vừa thống nhất vừa bổ sung cho nhau như thời kì này Từ những nhà thơ xuấthiện từ trước những năm 1975 như Tố Hữu, Tế Hanh, Xuân Diệu, … đến cácnhà thơ thời kì kháng chiến chống Pháp như Chính Hữu, Nguyễn Đình Thi,Hoàng Trung Thông, … tất cả đều có những sáng tác nổi bật và gặt hái đượcnhiều thành công Cùng với đó, thời kì này đã xuất hiện rất nhiều các nhà thơtrẻ với sự sáng tạo độc đáo, mang lại luồng gió mới và đã sớm khẳng định têntuổi của chính mình như: Thanh Thảo, Lê Anh Xuân, Nguyễn Khoa Điềm,Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh …

Cùng với sự phát triển đông đảo của số lượng các tác giả, diện mạo vàkhuynh hướng văn học cũng có một sự phát triển tương đối rõ ràng Các tácphẩm viết về hiện thực đặc biệt là hiện thực chiến tranh đã không còn là hiệnthực “nhìn thấy” nữa mà thay vào đó là được hồi tưởng lại trong kí ức của tácgiả Có lẽ bởi vậy, chiến tranh không đơn giản là được nhìn nhận bởi những gìđang diễn ra, sự khốc liệt của cuộc kháng chiến dân tộc, tinh thần đấu tranhquật cường của nhân dân, … mà còn là những nỗi đau trĩu nặng với những vếtthương nhức nhối khó lành Và với sự thay đổi về nhu cầu sáng tác, thể loạitrường ca đã được xuất hiện rất nhiều gắn với những tên tuổi lớn như Thanh

Trang 8

Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Phạm Tiến Duật … Những trường ca rađời thể hiện nhu cầu tổng kết về chiến tranh với cái nhìn tổng quát nhất, kéodài trong cả một cuộc kháng chiến từ những giây phút ban đầu cho tới khi đếnthời bình Đó là một cuộc chiến đầy đau thương mất mát và cũng có nhiều hisinh.

Bên cạnh việc viết về chiến tranh, giai đoạn văn học này còn viết nhiều

về cái tôi cá nhân, những âu lo trong cuộc sống đời thường của mỗi conngười Những nỗi buồn nhân sinh, sự ưu tư trước cuộc đời dần dần được bày

tỏ qua cái tôi cá nhân Các nhà thơ ý thức được đã đến lúc tách rời cái tachung để đi tìm hiểu chiều sâu tâm hồn con người Những nỗi buồn trong thời

kì này không giống như trong Thơ mới, muốn thoát ly hiện thực mà gắn liềnvới hiện thực, bộc lộ những cảm xúc cá nhân trước cuộc đời, con người,những thay đổi làm nên bi kịch mới của con người Đất nước kết thúc chiếntranh, con người không còn có một mục tiêu chung để ra sức chiến đấu, họ trở

về cuộc sống bình thường với muôn mặt phải âu lo Điều đó tạo nên sự bất an,

sự khủng hoảng về niềm tin trước cuộc đời Đồng thời, nó còn là thái độ củacon người trước hiện thực cuộc sống với những gian dối, lọc lừa, sự vô tâm

vô tình giữa con người và đặc biệt là ở đó có một nỗi niềm cô độc không còn

ai để có thể bày tỏ sẻ chia Thơ ca lúc này cũng mang một diện mạo mới vớinhững tác phẩm đã để lại dấu ấn riêng cho người đọc

Hữu Thỉnh là một trong những nhà thơ tiên phong trong phong trào thơ

ca cách mạng kháng chiến chống Mỹ Con đường thơ ca của ông cũng nằmtrong mạch chảy và xu hướng chung của thơ ca cách mạng sau những năm

1975 Những trường ca, những tác phẩm thơ của ông sáng tác về đề tài chiếntranh đã thể hiện được hiện thực với một quy mô đáng kể, đặc biệt là thôngqua hình ảnh người lính Ta không chỉ quan sát được con đường hành quânđầy gian khổ của người lính trẻ mà còn thấy được những suy tư, trải nghiệm,

Trang 9

những tình cảm đồng đội, gia đình, những cảm xúc trước cuộc đời của họ :

“Chúng tôi có những kỉ niệm riêng, những bài học những điều để nghĩ”.Chiến tranh đã qua đi nhưng nó chưa bao giờ trở thành quá khứ trong cuộcđời của mỗi người lính khi tham gia trận mạc Nó vẫn tồn tại, đầy kỉ niệm vàgieo những ấn tượng khó quên trong lòng mỗi người

Kết thúc chiến tranh, Hữu Thỉnh cũng như bao người chiến sĩ khác, cởi

bỏ chiếc áo lính để trở về cuộc sống đời thường với những suy tư, trăn trở,những cô đơn giữa cuộc đời bộn bề Con người không còn là con người chungcủa Tổ quốc, của những chiến tích hào hùng mà là con người của những mảngkhối đa chiều, đa cực Điều đó thôi thúc nhà thơ viết nên những vần thơ xót

xa, cô độc :

Càng viết càng thấy mình yếu đuối Đường nhân nghĩa chừng nào còn lắm bụi Anh hiểu vì sao tôi ít lời

(Chạm cốc với Xa-in)

Trong những sự cô đơn, xót xa trước sự thay đổi của thời cuộc ấy, vẫnánh lên những khao khát, những ước mơ của con người về vẻ đẹp tâm hồn củacon người, hướng con người về những chuẩn mực đạo đức chứ không phải lànhững ước mơ tiêu cực, muốn thoát khỏi hiện thực Nguyễn Nguyên Tản -một cây bút nghiên cứu phê bình văn học đã viết về Hữu Thỉnh: "Thơ HữuThỉnh có một vẻ đẹp riêng: sắc sảo, tinh tế mà vẫn bình dị, chân thật màkhông kém phần hư ảo, hồn nhiên mà bay bổng, tự nhiên mà không nông cạn"[16, 176] Cả sự nghiệp thơ của ông đã để lại nhiều tác phẩm đi vào tronglòng người đọc và để lại dấu ấn khó phai về sự chân tình, giản dị của một conngười hết lòng suy tư về cuộc đời, con người

Trong thơ, cấu tứ có một vai trò vô cùng quan trọng Nó tạo nên hồnthơ, cái tôi riêng ấn tượng và đặc sắc cho mỗi nhà thơ Chúng ta có thể bắt

Trang 10

gặp cùng một đề tài, một chủ đề ở vô số các tác phẩm của các tác giả khácnhau nhưng chính tứ thơ khác biệt đã làm nên thành công cho mỗi tác phẩm,giúp ta nhận ra chân dung của mỗi hồn thơ Hữu Thỉnh là một nhà thơ cónhững tứ thơ độc đáo với những dấu ấn riêng Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa

có nhiều đề tài nghiên cứu tập trung đi sâu vào để tìm hiểu và chỉ ra được mộtcách cụ thể về đặc điểm cấu tứ của thơ ông Bởi vậy, chúng tôi quyết định lựachọn đề tài “Cấu tứ và cái tôi trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh” để làm đề tài luậnvăn của mình

Tác giả Vũ Nho đã có một bài nghiên cứu Thơ Hữu Thỉnh in trong cuốn

Đi giữa miền thơ năm 2001 với quy mô tương đối lớn Tuy bài viết đã đưa ra

những nhận định thống nhất, khái quát về phong cách thơ Hữu Thỉnh nhưngtác giả vẫn chưa khái quát được toàn bộ hệ thống các tác phẩm của nhà thơ

đặc biệt là trường ca Sức bền của đất.

Nhà nghiên cứu Trần Mạnh Hảo đã dành cho tập thơ Thư mùa đông

bài viết Thư mùa đông của Hữu Thỉnh in trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội số

4, năm 1996 Ông đã phát hiện và khẳng định những nét đặc sắc và sự sángtạo trong lời thơ Hữu Thỉnh đồng thời phát hiện ra chất dân dã, sự đan xen

Trang 11

giữa những nét hồn nhiên với những suy ngẫm đầy tính triết lý cùng nỗi côđơn, đau buồn trong tập thơ.

Năm 2005, nhà nghiên cứu Lưu Khánh Thơ đã có bài viết Hữu Thỉnh,

một phong cách thơ sáng tạo đăng trên Tạp chí Văn học và sau này đã được

đưa lại vào trong cuốn Thơ và một số gương mặt thơ hiện đại Trong bài viết

của mình, Lưu Khánh Thơ không những nhấn mạnh khả năng tiếp thu truyềnthống dân tộc một cách khéo léo qua cách ví von, cách tư duy, liên tưởng độcđáo của nhà thơ mà còn chỉ ra “sự đằm thắm, đôn hậu” và “chìm lắng yêuthương” trong hồn thơ Hữu Thỉnh

Tác giả Lý Hoài Thu là người có nhiều bài viết nghiên cứu về thơ ca

Hữu Thỉnh nhất Trong tạp chí Văn học số 12 năm 1999, tác giả có bài Thơ

Hữu Thỉnh, một hướng tìm tòi và sáng tạo từ dân tộc đến hiện đại Nhà

nghiên cứu đã chỉ ra những điều tạo nên sự hấp dẫn trong thơ Hữu Thỉnhchính là bắt nguồn từ sự kết hợp giữa yếu tố truyền thống và hiện đại, thể hiện

rõ ý thức luôn biết chủ động “khai thác cái hay cái đẹp của dân gian, của dântộc” và linh hoạt để tạo nên những điều mới Chính điều này đã làm nên cátính và dấu ấn đặc biệt trong thơ ông

Tác giả Nguyễn Trọng Tạo cũng đã có sự đánh giá khá sắc bén và chính

xác về thơ Hữu Thỉnh trong bài viết Hữu Thỉnh, thành phố hồn quê in trong cuốn Văn chương cảm và luận in năm 1998 Ông viết “Hồn thơ Hữu Thỉnh là

sự sum suê của cây cối từ đất mà lên” ; “Hữu Thỉnh viết về đời sống bằng mộtthứ văn hóa nhà quê thật đẹp và thật ngộ” Ông đã đưa ra những luận chứng

để người đọc thấy rằng thơ Hữu Thỉnh dung dị, mộc mạc nhưng lại không bịnhầm lẫn với các nhà thơ khác

Năm 2003, Nguyễn Đăng Điệp có bài viết Hữu Thỉnh và quá trình tự

đổi mới thơ trên tạp chí Văn học số 9 Bài viết đã đưa ra những nét đổi mới

trong thơ ca của Hữu Thỉnh Đó là việc đào sâu vào sự triết lý, suy tư để tạo

Trang 12

nên một kiểu kết tinh mới đồng thời đi sâu vào khám phá bí ẩm thẳm sâutrong tâm hồn con người bằng những suy tư chân thật tận đáy lòng mình.

Xuân Diệu : Những suy nghĩ nhân đọc Đường tới thành phố – Báo

Văn nghệ số 19, ngày 9/5/1981

Phan Cung Việt : Nhân đọc Trường ca biển của Hữu Thỉnh – Tạp chí

Văn nghệ quân đội số ra T4/1995.

Hoài Anh : Hữu Thỉnh – nhà thơ và phía khuất lấp cuộc đời – Tạp chí

Văn hóa văn nghệ Công an, số 4 – 1999.

Bên cạnh đó còn có rất nhiều các bài viết, các nhận định về thơ Hữu

Thỉnh : Hữu Thỉnh gửi Thư mùa đông tới mùa … (Thanh Thảo), Mấy ghi

nhận về thơ người lính của Hữu Thỉnh (Phạm Quang Trung), Hữu Thỉnh – những kỉ niệm nhỏ về đời và thơ (Nguyễn Thanh Kim), … Tất cả những

nghiên cứu đó đã góp phần hoàn thiện và xây dựng được hệ thống đánh giámột cách toàn diện về con đường thơ của tác giả Hữu Thỉnh

Ngoài những bài viết của các nhà nghiên cứu phê bình về Hữu Thỉnh, tacòn có một số chuyên luận, khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ cũng nghiên

cứu về thơ ca của ông Năm 2003, chuyên luận Thi pháp thơ Hữu Thỉnh của Nguyễn Nguyên Tản được ra mắt và đã đưa ra một cái nhìn tổng thể về những

chặng đường sáng tác của Hữu Thỉnh, chỉ ra những thành công về mặt thipháp để thấy được Hữu Thỉnh là một người luôn tìm tòi và sáng tạo trên conđường sáng tạo nghệ thuật thông qua việc tìm hiểu : quan niệm về con người,không gian, thời gian nghệ thuật và phương thức thể hiện Đồng thời, ta cònmột số khóa luận, luận văn nghiên cứu về thơ ông : Nguyễn Thị Ngọc Linh

với Thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh (qua 2 tập thơ Thư mùa đông và

Thương lượng với thời gian) ; Đào Thị Mơ với Tính triết lý trong thơ Hữu

Thỉnh (qua tập thơ Thương lượng với thời gian) ; Nguyễn Minh Phương với

Những chặng đường thơ Hữu Thỉnh; Đỗ Thị Hạt với Đặc điểm trường ca Hữu Thỉnh dưới góc nhìn thi pháp…

Trang 13

Mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứu về thơ ông nhưng tất cả vẫntập trung đi vào những vấn đề chung về tư duy nghệ thuật chứ chưa có côngtrình khoa học nào nghiên cứu riêng biệt về cấu tứ trong thơ ông Chính vìvậy, việc nghiên cứu về cấu tứ trong thơ Hữu Thỉnh sẽ giúp chúng ta tìm hiểusâu hơn về tài năng, sự thành công trong việc hình thành tứ thơ để tạo nên dấu

ấn cho tác phẩm Đồng thời cũng phần nào giúp chúng ta hiểu sâu hơn về cáitôi trữ tình của nhà thơ

3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu loại hình tứ thơ và nghệ thuật tổ chức tứ thơ Hữu Thỉnh

- Nghiên cứu biểu hiện cái tôi trữ tình và nghệ thuật thể hiện cái tôi trữ tìnhtrong thơ Hữu Thỉnh

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Ở đề tài luận văn này, chúng tôi tập trung đi khai thác cách thể hiện củacái tôi cá nhân và đặc điểm các loại hình tứ thơ cũng như nghệ thuật tổ chức

tứ thơ thông qua sự nghiệp sáng tác của ông, góp phần làm sáng tỏ nhữngđóng góp của Hữu Thỉnh trong sự nghiệp thơ ca

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Sự nghiệp thơ ca của Hữu Thỉnh tuy khá dài nhưng những tác phẩmđược xuất bản không quá nhiều Với đề tài luận văn này, chúng tôi tập trungnghiên cứu tất cả những tập thơ đã được xuất bản của Hữu Thỉnh (không baogồm trường ca)

4. Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi vận dụng một cách thích hợpnhững kiến thức về lý luận văn học, văn học sử và một số phương pháp chủ yếu sau:

Trang 14

Phương pháp lịch sử - xã hội và phương pháp loại hình

Đặt đối tượng nghiên cứu trong tiến trình lịch sử và chú ý đặc trưng củathể loại nghiên cứu để xem xét quá trình sáng tác qua các thời kì khác nhaucủa Hữu Thỉnh, chỉ ra sự vận động, chuyển đổi tư tưởng cũng như quan niệm

và phương thức biểu hiện, từ đó tìm hiểu những đóng góp riêng của HữuThỉnh trong việc thể hiện cái tôi cũng như thể hiện nghệ thuật tổ chức tứ thơcủa ông

Phương pháp so sánh, đối chiếu

Để tìm ra những nét chung giữa tư duy thơ của các tác giả và nét đặcsắc riêng biệt, độc đáo trong cấu tứ thơ của Hữu Thỉnh, luận văn có sự vậndụng so sánh, đối chiếu giữa các tập thơ của Hữu Thỉnh với một số nhà thơcùng thời

Phương pháp phân tích, tổng hợp

Để chỉ ra những đặc trưng và những yếu tố để làm nên thành công vềmặt nghệ thuật, góp phần làm rõ cái tôi cá nhân của Hữu Thỉnh, chúng tôi tiếnhành khảo sát 5 tập thơ của ông và dựa trên kết quả đó để phân tích và kháiquát nên đặc điểm tiêu biểu trong cái tôi của ông

Phương pháp tiếp cận thi pháp học

Luận văn vận dụng các khái niệm thi pháp học để tìm hiểu cách thứctiếp cận, khám phá hiện thực của nhà văn để tìm ra đặc sắc nghệ thuật trongcấu tứ, cách xây dựng tứ thơ, ngôn ngữ, biểu tượng thơ trong thơ Hữu Thỉnh

5. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Sáng tác thơ và quan điểm nghệ thuật của Hữu Thỉnh

Chương 2: Tứ thơ và cấu tứ trong thơ Hữu Thỉnh Chương 3: Cái

tôi trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1 SÁNG TÁC THƠ VÀ QUAN ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA

HỮU THỈNH1.1 Hành trình sáng tạo

Hữu Thỉnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của các nhà thơtrưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước Tiếp bước nhữngnhà thơ lớn cùng thời kì như Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, … Hữu Thỉnh đãgây được nhiều tiếng vang lớn với những đặc trưng thơ rất riêng Cuộc sốngchiến đấu đầy gian khổ đã tạo cho Hữu Thỉnh những chất liệu riêng để ônglàm thơ ghi lại chính cuộc đời của mình - một chân dung người lính

Hữu Thỉnh, tên thật là Nguyễn Hữu Thỉnh, bút danh Vũ Hữu Ông sinhnăm 1942 trong một gia đình nông dân có truyền thống Nho học ở Tam Đảo,Vĩnh Phúc Tuy nhiên quá trình lớn lên của ông cũng không hề bằng phẳng : 6năm ở với bác ruột, 10 tuổi phải đi phu, làm đủ mọi thứ lao dịch cho các đồnbinh Pháp: Vân Tập, chợ Vàng, Thanh Vân Từ sau hòa bình lập lại năm 1954,ông mới được đến trường

Năm 1963, ông tốt nghiệp phổ thông và nhập ngũ bộ đội tăng - thiếtgiáp, trở thành một người lính thuộc Trung đoàn 202 Từ đó, ông đã trực tiếptham gia chiến đấu chống Mỹ ở nhiều chiến trường và Chiến dịch Hồ ChíMinh

Sau khi đất nước thống nhất, Hữu Thỉnh quay trở lại học Đại học Vănhóa và là một trong số những sinh viên khóa đầu tiên của Trường viết vănNguyễn Du khoá 1

Năm 1982, ông làm cán bộ biên tập, Trưởng ban Thơ, Phó tổng biêntập Tạp chí Văn nghệ Quân đội

Trang 16

Từ 1990 đến nay, ông chuyển sang công tác tại Hội Nhà văn Việt Nam,làm Tổng Biên tập Tuần báo Văn nghệ, tham gia Ban Chấp hành Hội các khoá

3, 4, 5, Uỷ viên Ban Thư ký khoá 3, Phó tổng thư ký Thường trực khoá 5,Tổng Thư ký - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khoá 6-7-8, Chủ tịch Uỷ bantoàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam

Đồng thời, nhà thơ Hữu Thỉnh còn kiêm nhiệm Uỷ viên Thường vụĐảng uỷ Khối Tư tưởng văn hoá Trung ương, Bí thư Đảng uỷ Đảng bộ Cơquan Hội Nhà văn Việt Nam, Bí thư Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam, Bíthư Đảng đoàn Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam; Đạibiểu Quốc hội khoá X

Trên lĩnh vực thi ca, Hữu Thỉnh là một trong những tài năng nổi bật Từnhững biến chuyển trong cuộc đời, Hữu Thỉnh đã cho ra đời nhiều tập thơđược rất nhiều bạn đọc đón nhận Các tác phẩm của ông chủ yếu được chialàm hai mảng lớn : mảng viết về chiến tranh và mảng thơ viết về cuộc sốnghòa bình

Mảng thơ viết về đề tài chiến tranh được bắt đầu với tập thơ đầu tiêncủa ông gồm những bài thơ được sáng tác từ những năm 1968 đến 1982 với

nhan đề Tiếng hát trong rừng Đây là tập thơ viết về những năm tháng kháng chiến của ông tại Trường Sơn và đã đạt được nhiều giải thưởng lớn Tiếng hát

trong rừng chủ yếu ghi lại những cảm xúc của nhà thơ khi chiến đấu ở

Trường Sơn Đây là những bài thơ ngắn như chuẩn bị cho sự phát triển của

thể loại trường ca sau này Tiếp đó phải kể đến là giải Ba cuộc thi thơ của Báo

Văn nghệ vào các năm 1972 – 1973 với bài thơ Mùa xuân đi đón, tiếp đó là

giải A cuộc thi thơ 1975 – 1976 với các sáng tác Chuyến đò đêm giáp ranh

và trường ca Sức bền của đất Sức bền của đất cũng là tập trường ca đầu tiên

mở đường cho Đường tới thành phố - trường ca thể hiện sự hoàn thiện, tài

năng và sự trưởng thành trong nghệ thuật thơ ca của Hữu Thỉnh Đây cũng là

Trang 17

tác phẩm đạt giải thưởng Hội Nhà văn năm 1980 Cảm hứng chủ đạo củanhững tác phẩm này là cảm hứng về đất nước, nhân dân, về cuộc chiến đấu

chống kẻ thù Mỹ ngụy Sức bền của đất có thể coi là bước trung chuyển,

bước đệm tạo đà trên con đường hoàn thiện phong cách thơ Đó là bướcchuyển từ những cảm xúc ngắn sang thể loại dài hơi và hoành tráng, bao quát

một phạm vi rộng lớn đời sống và tâm hồn con người – trường ca Đường tới

thành phố Đây là cột mốc đánh dấu sự chín muồi trong ý thức về thể loại,

tập trung đầy đủ, hoàn thiện nhất những đòi hỏi mà thể loại trường ca cần phải

có của hồn thơ Hữu Thỉnh Trường ca của ông là một bản tổng hợp của biếtbao cảnh ngộ, những hi sinh chịu đựng và suy tư trăn trở của nhân dân vĩ đại.Tất cả mọi mảng, khối của hiện thực rộng lớn đó được liên kết với nhau gắnliền theo một mạch liên tưởng, suy nghĩ nhịp nhàng giữa các chương, cáckhúc, kéo theo đó là sự phát triển của các hình tượng Tác giả như một ngườichỉ huy tài ba điều khiển một dàn nhạc giao hưởng thơ với nhiều giọng, nhiều

bè mà vẫn mạch lạc, trôi chảy

Mảng thơ viết về chiến tranh của Hữu Thỉnh thấm nhuần tính chất sửthi cao cả, thể hiện cái tôi sử thi của thơ ca cách mạng hiện đại Mang đặcđiểm của một hồn thơ hồn hậu, ham giãi bày, giàu suy tư, thơ viết về chiếntranh của Hữu Thỉnh có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa giọng thơ chính luận

và giọng trữ tình đằm thắm

Mảng thơ thứ hai đó là mảng thơ viết về cuộc sống trong thời bình Ởgiai đoạn trước năm 1980, tâm thức cộng đồng chiếm ưu thế, con người toàntâm toàn ý vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, số phận cá nhân luôn đặt trong sốphận của đất nước, cá nhân không có ý nghĩa độc lập tự thân mà có ý nghĩatrong sự hi sinh cống hiến cho dân tộc Từ đầu năm 80 trở lại đây, những biếnđổi to lớn trong đời sống xã hội đã đi đến sự đổi thay các chuẩn mực khi đánhgiá về các giá trị của cuộc sống và cả văn học nghệ thuật Sự thức tỉnh về ý

Trang 18

thức cá nhân, sự quan tâm nhiều hơn đến con người trong tính cụ thể, cá biệt,với nhu cầu trong thời bình là bước chuyển tất yếu của xã hội Con ngườiđược miêu tả trong tất cả tính đa dạng của nó đã tạo thành nét chính trong sựđịnh hướng về giá trị văn học của công chúng hôm nay Nói khác đi, tinh thầndân chủ và cảm hứng nhân bản là đặc điểm nổi bật của thời kỳ đổi mới Sựthay đổi này dĩ nhiên sẽ dẫn đến những thay đổi về đề tài, chủ đề, nhân vật vàthể loại, phương thức trần thuật và cách biểu hiện trữ tình.

Sự nghiệp thơ ca của ông được tiếp tục gặt hái được thành công sau khiđất nước quay lại thời kì hòa bình với giải Nhất trong cuộc thi thơ viết về Nhàtrường, thầy cô do Bộ ĐH&THCN cùng Trung ương Đoàn TNCSHCM tổ

chức với bài thơ Thưa thầy Năm 1995, tập thơ Thư mùa đông đã mang lại

cho ông giải A của Hội Nhà văn Việt Nam và giải thơ ASEAN năm 1999 Mộttrường ca nữa lại tiếp tục ra đời và khẳng định chỗ đứng vững chắc của Hữu

Thỉnh trong thể loại trường ca: Trường ca biển Tập thơ này được viết vào

giai đoạn cuối thời kì bao cấp và giai đoạn đầu của thời “mở cửa”, đổi mới vàphát triển đất nước Trường ca biển vẫn còn là tia hồi quang quá khứ vinhquang của người lính khi được tái hiện trong hành trình “đi tới biển” Trường

ca này được Bộ Quốc phòng tặng thưởng giải xuất sắc Tuy nhiên, số phận cánhân của người lính cách mạng trong tác phẩm này đã có sự khác biệt Khônggiống như trong thời kì kháng chiến chống Mĩ, giờ đây họ sống gian lao, vất

vả và cuộc sống không hề thanh thản Họ phải gồng mình lên để cố lấp đi cáikhoảng trống trong tâm hồn, nỗi đắn đo giữa được và mất, cống hiến hay

hưởng thụ Điều này ta có thể gặp trong tác phẩm văn xuôi khá nổi tiếng : Nỗi

buồn chiến tranh (Bảo Ninh) Và gần đây nhất, tập thơ Thương lượng với thời gian đã thể hiện một màu sắc khác trong các tác phẩm thơ của ông, đậm

chất triết lý, suy tư, rung cảm với cuộc đời Đây là tập thơ bao gồm

Trang 19

56 bài thơ đa số là ngắn – tập hợp những sáng tác trong khoảng 10 năm trở lạiđây của nhà thơ Một tập thơ với những gom nhặt của tác giả trong gần mườinăm với những bài thơ mang tính thế sự, trong một hành trình đi “tìm người”.

Và sự tìm kiếm đó là sự đan xen giữa thất vọng và hi vọng trước hiện thựccuộc sống, của xã hội ngập tràn tiêu cực và xô bồ đang đem lại Tập thơ đã

giành giải thưởng của Hội nhà văn năm 2006, cùng với tác phẩm Cánh đồng

bất tận của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.

Cảm hứng chính của mảng thơ viết về thời bình là cảm hứng đời tư thế

sự mang theo cay đắng, niềm bâng khuâng trước sự thay đổi, nỗi cô đơn, trăntrở trước số phận con người mà chưa tìm thấy tri âm tri kỉ Giọng điệu chủđạo là buồn, mang sự suy tư, triết lý

Đây là các tập thơ được viết trong thời kì đất nước đang trên đà đổimới Sau chiến tranh, cả đất nước đang đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, cơchế bao cấp kéo dài làm hạn chế nhiều mặt về kinh tế, chính trị, xã hội Cũngbởi điều đó mà xuất hiện những luồng tư tưởng mới, cách suy nghĩ mới chưa

hề có trong thời kì kháng chiến chống Mỹ Những biến động trong đời sốngchính trị (sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991) cùng những bức xúc chungquanh việc quản lý lãnh đạo xã hội và văn nghệ, sự mở cửa về mặt kinh tế chophép người dân có những cách làm ăn mới, suy nghĩ mới làm thay đổi nhiềuquan niệm về những giá trị cũ được hình thành trong suốt thời kì kháng chiếnchống Pháp và chống Mỹ đã tác động mạnh mẽ đến tư tưởng của văn nghệ sĩ

Các sáng tác của Hữu Thỉnh tương đối liền mạch và tiêu biểu cho quátrình vận động của thơ ca cách mạng Việt Nam trong khoảng 25 năm cuối thế

kỉ XX Nó cũng là hành trình của người chiến sĩ trên con đường đấu tranhchống ngoại xâm cho đến đấu tranh cho lẽ phải, cho đạo đức, những phẩmchất cao cả của thời đại

Trang 20

1.2 Quan điểm nghệ thuật

Sau chiến thắng vĩ đại của lịch sử, nền văn học Việt Nam vẫn tiếp nốimạch chảy của văn học dân tộc là miêu tả cuộc chiến tranh giành độc lập, tự

do cũng như công cuộc xây dựng đất nước trong thời bình Thơ trữ tình thời

kì này có sự phát triển mạnh, phong phú và đa dạng với nhiều cung bậc, từlòng yêu nước, tinh thần cách mạng, ý chí dũng cảm chiến đấu hi sinh cho tớinhững vui buồn, trăn trở, lo toan trong cuộc sống hàng ngày, thể hiện tình yêutrong quan hệ của con người với cộng đồng, con người với con người Nếunhư trước đây trong những năm kháng chiến của dân tộc, các nhà văn, nhà thơđược coi là chiến sĩ trên mặt trận, dùng vũ khí là nghệ thuật để hoàn thảnhnhiệm vụ của mình thì sau những năm tháng hòa bình, quan niệm đó đã cóphần thay đổi “Văn học, nghệ thuật là bộ phận đặc biệt nhạy cảm của vănhóa, thể hiện khát vọng của con người về chân, thiện, mĩ, có tác dụng bồidưỡng tình cảm tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế hệ công dân, xâydựng môi trường đạo đức trong xã hội, xây dựng con người mới xã hội chủnghĩa” [9,72] Ở giai đoạn này, hiện thực đời sống lịch sử xã hội và tâm hồn

tư tưởng con người được hiện lên một cách đầy đủ, nhiều mặt và phong phúhơn giai đoạn trước Chiến tranh được phản ánh trong thơ không chỉ hùngtráng, ca ngợi những chiến công mang đầy tính sử thi mà nó còn nêu lên baotổn thất, đau đớn, những bi kịch của cuộc đời Thậm chí đến Tố Hữu, ngườivốn luôn gắn cuộc đời mình với cách mạng, với sự nhiệt huyết và tâm hồn củaĐảng cũng có lúc viết lên những vần thơ đầy tâm trạng về nỗi cô đơn trong

Một tiếng đờn buồn: “Mới bình minh đó đã hoàng hôn… Khuấy động lòng ta

biết mấy buồn” và “Trái tim tự xát muối cô đơn”

Trong sự nghiệp của mình, Hữu Thỉnh không phải một nhà thơ có nhiềutuyên ngôn về nghệ thuật Thế nhưng với vai trò vừa là một nhà thơ, vừa thamgia giảng dạy ở các trường viết văn, trường đại học, ông đã phần

Trang 21

nào bộc lộ được quan điểm sáng tác của mình thông qua những chia sẻ rấtchân thành, những bài giảng với các thế hệ học trò Qua những gì ông đã thểhiện qua sự nghiệp văn chương của mình, ta có thể thấy, với ông, thơ ca chính

là nơi để ghi lại hiện thực cuộc sống Theo tiếng gọi của Tổ quốc, đã có rấtnhiều các nhà thơ hăm hở lên đường, mang theo nhiệt huyết mạnh mẽ với mộtniềm tin lớn lao về cuộc kháng chiến thắng lợi của dân tộc như Phạm TiếnDuật, Thanh Thảo, … Họ đều là những người lính trực tiếp tham gia vào cuộckháng chiến đầy máu lửa của dân tộc, có cùng một chí hướng và đồng thờicũng gần gũi với nhau về quan niệm sáng tác Với Hữu Thỉnh, thơ ca làphương tiện giúp ông ghi lại cuộc đời mình, ghi lại những âm thanh, màu sắc,những gì tươi đẹp, thậm chí là khốc liệt của cuộc đời Cũng chính vì vậy,người đọc có thể dễ dàng nhận ra thơ ông là tấm gương phản ánh chân thựccuộc đời, là cuốn sách sử bằng thơ, là người họa sĩ chân dung ghi lại cuộckháng chiến chống Mỹ cứu nước, là những chân dung của những người dânbình dị quen thuộc:

Mưa choang choang như đá đập trên đầu Đất đẫm ướt gian nan không định trước

Rừng cảm thấy điều gì không nói ra không được Ta nóng lòng ôm súng ngóng ngày lên

(Đêm chuẩn bị)

Ở Hữu Thỉnh, thơ chính là chân dung chân thực về cuộc đời, đây chính

là hệ tư tưởng lúc trước giai đoạn 1980 Đọc thơ Hữu Thỉnh, người ta nhận ra

ở Hữu Thỉnh một hồn thơ khỏe khoắn, chân thành, miêu tả một cuộc sống rấtchân thực về chiến trường Trường Sơn khốc liệt nhưng không hề bi lụy ở

trường ca Đường tới thành phố:

Núi cao cho thác đổ hồi Trường Sơn dài rộng cho tôi mặn mà

Trang 22

Xe thồ vành hỏng tháo ra Còn lăn theo suốt đời ta đời mình

Trực tiếp tham gia kháng chiến, trực tiếp quan sát và trải nghiệm cuộcsống gian khổ nơi đầu bom mũi đạn, các nhà thơ này thấm thía hơn ai hết vàhiểu hơn ai hết về chiến tranh Hữu Thỉnh cũng như vậy, và ông đã nhận ra đểgóp phần làm nên sức mạnh của cả quân đội, của cả dân tộc bấy giờ, không gìhơn là thơ ca Thơ ca chia sẻ những nỗi mất mát hi sinh, thơ ca nâng bước, cổđộng tinh thần cho những người chiến sĩ đang trên đường hành quân Nhữngvần thơ của ông mang một sức mạnh khỏe khoắn, đầy nhiệt huyết nhưng cũngrất tình cảm:

Thơ hãy đến góp một vài que củi Cho em nhận ra anh, đồng đội nhận ra mình

Đó là “que củi nhỏ nhoi” nhưng lại tỏa sáng giữa đêm tối mịt mù, giữanhững hi sinh mất mát nơi chiến trường u ám Thơ ca với ông chính là sứcmạnh, ông miêu tả lại hiện thực không đơn giản chỉ là miêu tả một cuộc chiếntranh tàn khốc mà gửi vào đó những ước mơ, tình yêu thương mạnh mẽ.Giống như Phạm Tiến Duật, hiện thực chiến tranh có thể là “những chiếc xekhông kính”, có thể là “bụi phun tóc trắng như người già”, thế nhưng họ sẵnsàng bắt tay nhau qua cửa kính vỡ, nở nụ cười lạc quan “nhìn nhau mặt lấmcười ha ha” Hữu Thỉnh cũng đã đưa tinh thần lạc quan và những khao khátsay mê rất đời thường của những người lính trẻ vào trong thơ ca Ở đó có biếtbao chàng trai đang độ tuổi thanh xuân, đang say sưa trên con đường học tập,

và họ thèm “sách vở”, nỗi thèm khát đơn giản nhưng lại khó khăn

Không có sách chúng tôi làm ra sách Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình

Nhà thơ đã làm sáng lên những phẩm chất, tinh thần lạc quan yêu đời, niềm tin chiến thắng của những người chiến sĩ Họ ra đi không tiếc đời mình

Trang 23

và cũng lưu lại trong tim những gì đơn giản mà lãng mạn nhất Thế nhưng,thực tế vẫn luôn không cho phép những người lính có nhiều thời gian để dànhcho sự lãng mạn Họ sống trong hiện thực và phải chọn lựa những điều cầnnhất cho chiến tranh:

Mỗi quyển sách nặng bằng năm viên đạn Chúng tôi đành mang đạn trước tiên

….

Chúng tôi còn biết xoay xở ra sao Gạo chỉ mang đủ mười ngày còn dành mang súng Còn mang thuốc

Còn mang nhau

Trong những cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, những nhà văn luônđóng vai trò vừa là người chiến sĩ mô tả lại hiện thực khốc liệt của cuộc khángchiến vừa phải viết những vần thơ hô hào, cổ vũ tinh thần chiến đấu củanhững người lính ngoài mặt trận Nhà thơ lấy nghệ thuật phục vụ trực tiếp cho

sự nghiệp cách mạng của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ðảng:

Xin cám ơn câu thơ các anh đã đến cùng ngọn lửa Mấy đứa nhớ nhà ngắt ngọn tàu bay

Đường chẳng còn dài như nó vốn từng dài Suối cứ đổ trong bình minh nõn chuối

Đó là hiện thực nơi chiến trường xa xôi, nơi điều kiện của con người vô

cùng thiếu thốn trong Thư mùa đông:

Thư viết cho em nhòe nét mực Phên thưa sương muối cứ bay vào Núi rét đêm qua chừng mất ngủ Sáng ra thêm bạc một nhành lau.

Trang 24

Thế nhưng trong hoàn cảnh khó khăn ấy, người lính vẫn mang một tâmhồn lãng mạn Mơ về người con gái nơi xa, những bóng hồng nơi lưu giữ tìnhcảm của anh nơi quê nhà Viết về cảm xúc của người lính, ông không hề có sự

ủy mị, ướt át mà thay vào đó là sự ấm áp, những cảm xúc làm tan đi cái giálạnh mùa đông, sưởi ấm con người Có lẽ, ở nơi xa, người con gái ấy chính làđộng lực cho người chiến sĩ chiến đấu quên đêm ngày:

Bao năm không thấy màu con gái

Vó ngựa nghe nhầm tiếng guốc em

Mây đến thường rủ anh mơ mộng Biết vậy, khuya em đỏ ánh đèn

Cũng như bao nhà thơ yêu nước khác, viết về chiến tranh, ông viết vềđất nước về nhân dân với hình ảnh của người lính, người mẹ, người vợ, nhữnggốc cây cằn, …Điều đó tưởng chừng như đơn giản nhưng lại chính là nhữngyếu tố góp phần nên những chiến thắng vĩ đại của dân tộc Đất nước trong thơông là một đất nước kiên cường bất khuất, nhân dân là những con người thầmlặng và biết hi sinh

Hữu Thỉnh đã đưa ra một quan niệm trong thơ của mình“ Nhưng đừngviết về chúng tôi như cốc chén đứng trên bàn/ xin hãy viết như dòng sôngchảy xiết” Viết về cuộc đời người lính, người ta không chỉ mô tả đơn thuầnnhư tô vẽ một bức tranh, mà hơn thế nữa, bức tranh ấy phải làm nổi bật rõtừng chân dung con người Đó là chân dung con người với cảm xúc, có sựthay đổi với sức mạnh lan tỏa Hữu Thỉnh đã xây dựng nên những chân dungngười lính không hề khô khan, lúc nào cũng hướng đến cuộc chiến tranh, luôn

hô hào về niềm tin, chiến thắng mà còn đan xen sự mộc mạc, dịu dàng củanhững cái gì đó rất người, rất lãng mạn trong tâm hồn mỗi người Thơ đếntrong lòng người, trong cảm xúc xuyến sang của một buổi chiều mưa “Thơ cứ

đến và mưa chiều mau ngớt” (Đường tới thành phố)

Trang 25

Người lính ghi lại chân thực cuộc chiến khốc liệt, sự tàn khốc nơi chiếntrường Sự vất vả gian lao của người lính, sự chân tình của những mẹ, nhữngchị, những con người hậu phương, sự biến chuyển của nhân dân đất nước.Nghệ thuật trong thời kì này có vai trò như những người bạn đồng hành củangười lính, nó thôi thúc, giục giã, là sức mạnh tinh thần cho những ngườichiến sĩ thêm mạnh mẽ, vững vàng cầm cây súng để bảo vệ Tổ quốc Đó làniềm lạc quan, vất vả gian lao nhưng tràn ngập mục tiêu, vì lý tưởng cáchmạng Ở đó có hình ảnh của biết bao con người, những cô gái thanh niên xung

phong vô danh nhưng lại làm nên chiến thắng được tái hiện trong Đường tới

Ba đứa con có mặt trong này Mấy cuộc chiến tranh mẹ gánh một lúc Chiến tranh chưa bao giờ chấm dứt Nếu một đứa con của mẹ không về

Miêu tả hiện thực chiến tranh còn đồng thời là miêu tả về cuộc đời conngười Đó là những người chị sống cuộc sống tảo tần vất vả, hi sinh cho giađình:

Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền Chị vẫn nhớ anh và mong anh như thế

Trang 26

Và chị buồn như bông điệp xé đôi Bằng tuổi trẻ không bao giờ trở lại

Đó là chân dung của biết bao người phụ nữ, những con người sốngcuộc sống bơ vơ đơn độc, hi sinh hạnh phúc gia đình nhỏ bé để người chồngyên tâm chiến đấu nơi tiền tuyến Số phận bất hạnh của con người trong chiếntranh đã được Hữu Thỉnh nhìn nhận và nói lên Người con gái ấy xinh đẹp,duyên dáng, vẫn còn đang còn tuổi trẻ, vẫn còn nét duyên ngầm nơi má lúmđồng tiền nhưng dường như đôi má lúm ấy lại để chứa đựng những nỗi buồn.Còn gì buồn đau hơn nỗi buồn xa cách mà người ở nơi xa không biết có ngàynào hẹn trở lại

Cảm hứng về những năm tháng bom rơi lửa đạn dữ dội kia đặc biệt làtrên tuyến đường Trường Sơn lịch sử đã là cảm hứng không chỉ cho riêngHữu Thỉnh mà cho hàng loạt các nhà thơ cùng thời Phạm Tiến Duật, NguyễnKhoa Điềm, Chính Hữu,…

Anh vịn vào tiếng hát vượt gian lao Những năm Trường Sơn bạn bè trong trẻo quá Tiếng hát đi rồi căn hầm còn đó

Thành chiếc hộp đàn giữa lòng đất âm sâu

(Tiếng hát trong rừng)

Có một quan niệm nghệ thuật chung và đẹp đẽ của các nhà văn ViệtNam trong thời kỳ kháng chiến, trong đó có Hữu Thỉnh, coi người nghệ sĩ làchiến sĩ, lấy nghệ thuật phục vụ trực tiếp cho sự nghiệp cách mạng của nhândân dưới sự lãnh đạo của Ðảng Nếu những ngày trước, trong chiến tranh, vănchương dùng để hô hào, tuyên truyền các chủ trương và trực tiếp cổ vũ tinhthần chiến đấu của chiến sĩ với tinh thần “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước /

Mà lòng phơi phới dậy tương lai” … Họ cổ vũ cho sự nghiệp chiến đấu củanước nhà, tạo niềm tin cho nhân dân, đồng thời cũng thể hiện tình yêu, ý chí

Trang 27

quyết tâm đánh giặc của chính tác giả Thế nhưng khi xã hội thay đổi, nhà văncũng có sự thay đổi Trước đây, nhà văn luôn để bản thân làm khách thể, làngười quan sát, mô tả lại cuộc chiến, những diễn biến của đời người Nhưngbây giờ, nhà thơ phải đối thoại, tự bộc lộc và khai thác chính kinh nghiệmsống của chính mình Từ đó đã tạo ra một sự thay đổi lớn Nếu trước đây, thơHữu Thỉnh được viết trực tiếp từ một đêm trước chiến dịch, một trưa PhanThiết, một chiều ở biển thì bây giờ đề tài bộc phát từ bên trong Nếu trướcđây, thơ Hữu Thỉnh đầy những hoa sim cằn, bậc đá bến sông, tiếng cuốc,…một hiện thực sinh động nhưng bề bộn làm nặng thơ thì bây giờ ông ưu tiêncho những kết quả của sự suy lý.

Nhà thơ viết về những năm tháng đã qua với cái nhìn hồi tưởng lại quákhứ, bởi vậy nó vẫn có rất nhiều bài học giá trị Đó là sự kết tinh của nhân dânvào đất nước, nhân dân với từng cá thể đã hòa quyện để tạo nên hình ảnh của

cả một cộng đồng dân tộc

Cùng với sự thay đổi về quan điểm sáng tác, viết về chiến tranh khôngchỉ là những sự ca ngợi nữa mà nó còn là nỗi niềm đau xót khôn nguôi, tiếngthét đầy uất ước trước chiến tranh:

Hãy vạch mặt những thằng bắn lén Sóng đang gầm ngoài vịnh Văn Phong Hãy vạch mặt những thằng bắn lén Cánh cò bay sấp ngửa trên đồng

(Đường tới thành phố)

Đó còn là hiện thực của cuộc đời người lính khi chiến tranh đã qua đi,người lính đáng lẽ phải được trở về với vinh quang, được trả những điều mìnhxứng đáng Thế nhưng không, họ lại phải gánh chịu bao thiệt thòi, mất mát

Chưa kịp đặt ba lô Chúng tôi cùng nhau bới cát

Trang 28

Dọn một chỗ nằm cho đồng chí hi sinh Hôm đó đảo có thêm gạo mới

Chúng tôi đều bỏ cơm Hôm đó đất liền ra thư Chúng tôi bỏ thư ôm nhau khóc Gạo chiều nay thành cơm cúng đưa tang Thư chiều nay viết thêm vào lời điếu

(Trường ca biển)

Những số phận con người, đó là chân dung chiến tranh được vẽ nên qua

kí ức toàn vẹn của tác giả Cuộc chiến ấy có những vinh quang, chiến thắngnhưng bên cạnh đó là những thương đau mất mát không kể xiết Chúng làmcho những gia đình mất đi người thân, những người lính mất đi bạn bè –những người đã sát cánh bên nhau vào sinh ra tử

Hữu Thỉnh luôn quan niệm làm thơ không chỉ để “ghi lại cuộc đời mình”

mà đó còn là quá trình không ngừng sáng tạo, không ngừng đổi mới vì sự pháttriển của xã hội

Với ông, thơ chính là kinh nghiệm sống Ông luôn đưa những cảm xúc,những cái nhìn, sự trải nghiệm của mình vào trong những tác phẩm thơ để tựrút ra những bài học, để người đọc cùng cảm nhận và chia sẻ

Đất nước về với thời kì hòa bình, những người lính trút bỏ tấm áo xanh,thay vào đó là cảm nhận cuộc sống đời thường với những bôn ba, suy tính.Những con người vào sinh ra tử ấy trở nên lạc lõng giữa cuộc đời, cô đơn giữacuộc sống bon chen Đôi khi, ở nhà thơ còn là sự bình thản trước cuộc đời, sựchấp nhận cuộc sống với những xuôi ngược nhưng cũng có lúc, cái tôi trữ tìnhlại chính là nhà đạo đức, tự cảm thán, soi tỏ thế giới để rồi khuyên con ngườinhững bài học về cách sống

Trang 29

Kinh nghiệm sống của ông được thể hiện qua những thành công vànhững thất bại của cuộc đời Đó là lời khuyên của người mẹ đối với con traigiữa cuộc đời:

Hãy yêu lấy con người

Dù trăm nghìn cay đắng Đến với ai gặp nạn Xong rồi chơi với cây

(Lời mẹ)

Sự trải nghiệm của nhà thơ trước cuộc đời đó chính là sự yêu thương, vịtha Con người cho dù trải qua muôn nghìn cay đắng nhưng vẫn giữ trongmình những phẩm chất tốt đẹp Đó cũng là tuyên ngôn về lẽ sống, tinh thầncủa con người, đặc biệt là người lính năm xưa khi đi vào cuộc đời mới:

Lấy khoan dung làm chiếc phao bơi Khiến cay đắng cũng nhuốm màu tha thứ

(Gửi người bộ hành lặng lẽ)

Người lính với những lý tưởng, phẩm chất tốt đẹp muốn bước vào cuộcđời thế nhưng hiện thực lại hoàn toàn không cho phép Nó khiến cho họ hụthẫng, cô đơn, lạc lõng giữa cuộc đời Thế nhưng, họ vẫn mang một sự quyếttâm, khẳng định chân lý

Ngày nào cũng là ngày đầu tiên, lần nào cũng là lần đầu tiên Lòng kiên nhẫn cho người thêm mắt lưới

(Chiếc vó bè)

Có lẽ, những bài học, những chiêm nghiệm lớn nhất của ông đó chính lànhững bài học về lẽ sống, về cách cư xử, cách sống của con người giữa cuộcđời, có mất mát, có đắng cay,… Đó là kinh nghiệm của một người lính nhưbao người lính khác sau cuộc chiến tranh, họ về lại sâu trong tâm hồn, đối mặt

với nỗi cô độc, lạc lõng Có thể nói, “Những cung bậc tình cảm của nhà thơ

Trang 30

dù là một niềm vui hồ hởi hay một nỗi buồn sâu lắng thiết tha, dù kéo dàitriền miên trĩu nặng tâm hồn hay thoáng qua trong giây lát đều gắn liền vớimột cái gì của đời sống bên ngoài, nhưng sâu xa hơn là tiếng nói thầm kín củatrái tim và tâm hồn của người nghệ sĩ”[7,75].

Trang 31

Tiểu kết chương 1

Cuộc đời Hữu Thỉnh đã trải qua những năm tháng chiến tranh Với mộttâm hồn đa cảm, mỗi ngày sống là lại thêm bao thương nhớ ngổn ngang, và nótrở thành thơ anh Nhìn nhận về Hữu Thỉnh trong cuộc đời như thế, mới hiểurằng, chính con đường số phận anh đã làm cái việc đưa anh dấn bước trên conđường thơ của mình PGS.TS Lý Hoài Thu đã từng nhận xét “Hữu Thỉnh làmột hồn thơ rất khỏe khoắn và rất giàu nội tâm”, ông luôn “tìm tòi và sáng tạo

từ truyền thống tới hiện đại” Bắt đầu sự nghiệp thơ văn từ những con đườngTrường Sơn bom đạn, tất cả đã vun đắp cho nhà thơ cảm hứng về Tổ quốc,nhân dân anh hùng với ý chí khát vọng về nền độc lập Dù viết về đề tài Tổquốc hay những số phận con người trong cõi trần thế thì thơ Hữu Thỉnh vẫnthấm đẫm sắc vị dân gian và tạo nên những vần thơ mang màu sắc của riêngmình

Trang 32

Chương 2

TỨ THƠ VÀ CẤU TỨ TRONG THƠ HỮU THỈNH

2.1 Khái lược về tứ thơ và cấu tứ trong thơ

Theo Xuân Diệu, đầu tiên, ta phải có sự phân biệt giữa ý thơ và tứ thơ.Xuân Diệu đã từng viết “ý là khái niệm và suy nghĩ từ cuộc sống mà toát ra ý,

ý ấy muốn trở về tác động trở lại vào cuộc sống mà tác động bằng phươngthức thơ thì ý ấy nên “đầu thai” thành xúc cảm, ý ấy nên trở thành tứ … ý làcủa chung mọi người, tứ mới là của riêng mỗi một thi sĩ”

Theo Chế Lan Viên: “gọi nó là tứ để phân biệt với ý Chữ Tứ chẳng qua

là ý lớn toàn bài vậy” Ngược lại, theo Nguyễn Xuân Nam: “tứ trong toàn bài

là hình tượng xuyên suốt cả bài thơ.”

Nguyễn Hưng Quốc lại cho rằng : Tứ là những suy nghĩ của trái timtrước cuộc đời.Tứ là cái gì rất riêng tây ở mỗi nhà thơ, ở mỗi bài thơ Tứ làthế giới tinh khôi lần đầu tiên được nhà thơ tạo dựng trong cơn say ngây ngất

Trang 33

của cái người ta quen gọi là cảm hứng Tìm tứ cũng là một quá trình tổng hợp:nhà thơ phải vận động cùng lúc ba khả năng: suy nghĩ, tưởng tượng và cảmxúc Tìm tứ là quá trình phát hiện cái bất bình thường từ những cái vẫn rấtmực bình thường Tìm tứ là quá trình khôi phục sự hồn nhiên bỡ ngỡ cho đôimắt và cho trái tim Tứ thơ có thể bắt nguồn từ những điều bình thường giản

dị xảy ra hằng ngày đến mức chúng ta không ngờ đến Nhưng rồi bỗng mộtngày, khi những cảm xúc và suy nghĩ của chúng ta đã ngập tràn, chúng ta gặpđược những cảnh vật quen thuộc đó, những ý tưởng, cảm hứng bất chợt ùa ra

để từ đó tứ thơ được hình thành

Theo Mã Giang Lân, tứ thơ là hình dạng của ý thơ Khi nhà thơ có ýrồi, nhà thơ phải lựa chọn cách thể hiện các ý ấy sao cho truyền cảm và làmnổi bật lên ý thơ bằng các yếu tố hình ảnh, ngôn ngữ, thể thơ “Tứ thơ khôngphải là hình tượng thơ, nhưng tứ thơ chỉ đạo trực tiếp và tạo nên sự vận độngcủa hình tượng thơ Nó dẫn dắt cảm xúc, suy nghĩ để đưa đến chiều cao kháiquát Nó làm cho ý lộ ra dáng vẻ riêng cụ thể, nó làm cho ý tránh được sự khôkhan trừu tượng” [20,116] Tứ thơ vốn không ở trạng thái tĩnh mà nó luôn ởthể động Nó chi phối cả bài, quy định những điểm mở đầu và kết thúc củamỗi bài thơ, định hình cho bài thơ để các câu thơ được phát triển theo đúngmục đích sáng tác của tác giả Một chủ đề, một ý có thể được lặp đi lặp lại rấtnhiều lần nhưng điều quan trọng và làm nên thành công của nhà thơ đó là việcthể hiện cái chủ đề đó bằng hình dáng mới, một cấu tứ mới đẹp đẽ, khác lạ

Theo Phạm Quốc Ca: tứ thơ là cách liên kết, cấu trúc các ý thơ và sắpxếp mọi yếu tố cấu thành của bài thơ nhằm tập trung thể hiện có hiệu quả nhấtchủ đề trữ tình Tứ thơ có thể xem như một cái khung kết cấu trong đó mạchthơ vận động: có khởi đầu, phát triển và kết thúc Khởi đầu giống như khơiđúng mạch ngầm để lời thơ tuôn chảy Tứ thơ sẽ dẫn dắt mạch trữ tình nhắmđến chủ đích nghệ thuật Nếu không có tứ thơ chỉ đạo, dẫn dắt, ý thơ sẽ tản

Trang 34

mạn Kết thúc các bài thơ hay thường bất ngờ, nâng bài thơ lên một tầm caomới về ý nghĩa khái quát cũng như hiệu quả thẩm mỹ.

Theo Từ điển thuật ngữ văn học “Tứ thơ hay chính là cảm xúc của thơ

hoặc ý nghĩa hình ảnh thơ Thơ là cảm xúc thẩm mĩ, thi vị, không giống vớicảm xúc sinh hoạt thực dụng hàng ngày Làm thơ phải bắt đầu từ cảm xúc thơ,tức là thi tứ, phải có “tứ thơ” Tìm “tứ” là xác định cảm xúc và hình ảnh thơ

“Cấu tứ” là tạo được hình tượng có khả năng khơi gợi được cảm xúc nhân văncủa tâm hồn con người Đó là sự kết hợp giữa hình ảnh sống động và ý nghĩathơ, sao cho sự sống của hình ảnh càng triển khai ra, càng khơi sâu thêmnhiều ý nghĩa của bài thơ.”

Rất nhiều vấn đề chung quanh tứ thơ đã được đề cập và được lý giảithấu đáo Đặc biệt, nhiều người đã quan tâm phân biệt khái niệm tứ với kháiniệm ý để thấy rằng từ cái ý trừu tượng, khái quát và phần nào phi cá tính đếncái tứ thơ mang đậm bản sắc sáng tạo cá nhân và có sự hòa quyện máu thịtgiữa suy nghĩ và cảm xúc, giữa yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan

Qua các ý kiến của các nhà nghiên cứu, ta có thể thấy hiện nay vấn đề

về tứ thơ vẫn còn có rất nhiều tranh cãi Và người viết với sự nghiên cứu củamình đồng quan điểm với nhà nghiên cứu Mã Giang Lân Ta có thể khẳngđịnh, tứ thơ là hình dạng của ý thơ Tứ thơ là ý chính, ý lớn bao quát toàn bộbài thơ Đó không phải là ý tưởng trừu tượng mà là những gì cụ thể của đờisống : một hình ảnh, một suy nghĩ, một tâm trạng, … làm điểm tựa vận độngcho cả bài thơ Tứ thơ là hiện thực hóa của những suy nghĩ, những ý niệmtrong suy nghĩ của tác giả Tứ thơ được xây dựng từ các ý và tứ thơ thể hiệncái tôi của chính nhà thơ, thể hiện được cái riêng biệt so với những nhà thơkhác

Tứ thơ chính là hạt nhân kết cấu hình tượng thơ trữ tình Nó đứng ở vịtrí trung tâm của quá trình sáng tạo thơ ca, chi phối sự liên kết tất cả các yếu

Trang 35

tố của bài thơ lại thành một chỉnh thể thống nhất Nó cấp cho cái “hỗn mang”của những rung động hay những “nỗi niềm tình vận” (chữ dùng của Huy Cận)một trật tự, khiến chúng hoàn toàn có thể được phô bày bằng các phương tiệnngôn từ diễn ra trong thời gian, để thực sự trở thành những rung động thơ, nỗiniềm thơ Tứ thơ quy định tính sáng tạo của hình tượng thơ, phân biệt hìnhtượng thơ mang tính cô đọng, khái quát, thấm đẫm cảm xúc và dồn nén suynghĩ với những hình ảnh rời rạc, cá biệt của hiện thực khách quan Ngoài ra tứthơ cũng giống như hình tượng thơ, cũng tồn tại ở nhiều cấp độ, tương ứngvới các cấp độ hình tượng Có tứ lớn ở toàn bài, có tứ nhỏ ở từng đoạn, từngkhổ Và thông qua việc sáng tạo tứ thơ, tài năng của nhà thơ được bộc lộ rõnét nhất “Thông qua tứ thơ có thể thấy quá trình sáng tạo của thơ ca, cáchkhám phá hiện thực, chiếm lĩnh hiện thực của chủ thể sáng tạo, khả năng kháiquát, quan điểm chính trị, đặc biệt là quan điểm thị hiếu của nhà thơ”[20,110].

2.1.2 Cấu tứ

Nhà nghiên cứu Hà Minh Đức đã nhận xét “Thơ phải có tình Tình cảm

là đơn vị cấu tạo chủ yếu của hình tượng thơ Nhưng nếu không có tứ thì tìnhcảm không được tổ chức lại một cách chặt chẽ và không phục vụ được chochủ đề chung của bài thơ, tình cảm sẽ bị phân tán, những ý tưởng cũng khôngđược liên kết lại trong một cấu tạo chung chặt chẽ và phát triển của hìnhtượng thơ”[7,162] Từ cái tứ ban đầu cho tới việc lập ý, phát triển cảm xúc,xây dựng hình ảnh cụ thể là một quá trình phức tạp “Cấu tứ là một vấn đềthuộc về suy tưởng và xúc động của tâm hồn thơ” Tứ thơ chỉ đạo trực tiếphướng vận động, phát triển của cảm xúc, suy nghĩ và xây dựng hình ảnh “Tứthơ là ý tưởng của bài thơ trong vóc dáng cụ thể của nó” Tứ thơ là một ý trừutượng khái quát nhưng được thể hiện bởi một dáng hình cụ thể

Trang 36

Có thể nói, tứ thơ là những suy nghĩ đầu tiên xuất hiện trong đầu, gợinên cảm hứng cho nhà thơ và sau đó định hướng cho hình tượng thơ pháttriển Còn cấu tứ là việc chọn lựa một hình thức sao cho phù hợp để thể hiệncái ý đó “Các tứ thơ thường xuất hiện từ một ấn tượng, từ một cảm giác thựcrút ra từ cuộc sống được bồi đắp bằng những hình ảnh cụ thể, những suy nghĩchân thành, những nhận thức đúng đắn vươn lên theo hướng lý tưởng thẩm

mỹ của thời đại” [20,124]

“Xây dựng tứ thơ là một quá trình định hình định dạng cho ý thơ Nóthể hiện trực tiếp tầm suy nghĩ và tài năng của nhà thơ Nhưng những suynghĩ và tài năng ấy được hình thành và phụ thuộc rất nhiều vào bản thân cuộcsống, vào thái độ sống của nhà thơ Cuộc sống phong phú và luôn phát triểnvới bao nhiêu con người, cảnh ngộ,… đã gợi ý cho sự hình thành tứ thơ”[20,123]

Tứ đóng một vai trò quan trọng trong việc sáng tạo thơ, tuy hầu hết tất

cả các bài thơ đều có tứ, đòi hỏi ta phải tìm hiểu và nhận dạng được thì bêncạnh đó cũng có những bài không rõ tứ hoặc không có tứ Việc tìm tứ cho thơhầu như được trải qua ba giai đoạn Trước hết, phải có một cảnh vật, một sựkiện cụ thể có khả năng gây ấn tượng mạnh và sắc Thứ hai, ấn tượng ấy cứ

âm vang mãi trong hồn người, tạo nên những niềm cảm xúc sâu đậm Và thứ

ba, từ ấn tượng và cảm xúc ấy, nhà thơ phải vận dụng khả năng liên tưởng,tưởng tượng, tư duy để tìm ý, tìm chất liệu để khai triển thành một bài thơhoàn chỉnh

Do tính chất phát hiện, tứ thơ đóng vai trò quy định âm hưởng, màu sắc

cụ thể, độ dài của bài thơ và đôi khi cả thể thơ được tác giả lựa chọn Sự pháttriển của tứ thơ bao giờ cũng được nảy sinh trên một nền tảng cảm xúc nhấtđịnh và nó có chức năng làm sáng tỏ trở lại nền tảng cảm xúc ấy Do vậy, nómang đầy tính chủ quan, có khi quy về trong một mối những hình ảnh, sự vật

Trang 37

không có liên hệ tất yếu với nhau Chẳng hạn như giữa hình ảnh rặng liễu vàothu với hình ảnh cô gái xõa mái tóc buồn chẳng hề có một mối liên hệ nào với

nhau, nhưng trong bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu, với tứ thơ về sự

chuyển vần đáng giật mình của thời gian qua bước chân mùa thu đẹp, mối liên

hệ ấy lại trở nên tất yếu, và chính nó làm cho âm hưởng của bài thơ trở nênxôn xao buồn bã, hay là buồn bã trong nỗi xôn xao Rõ ràng lúc này, tứ thơ đãquy định chiều hướng cảm xúc, âm hưởng, màu sắc của bài thơ

Nghệ thuật tổ chức tứ thơ được coi là một phương tiện nữa hỗ trợ đắclực và gắn liền với tứ thơ Nó giống như một cái khung vững chắc cho mộtcăn nhà, giúp cho nhà thơ truyền tải được cái tứ của mình

Hữu Thỉnh là một nhà thơ có nhiều tứ thơ hay, có nhiều tứ thơ cũng rấtchung, nhưng ông đã có sự sáng tạo khác nhau về phương diện tứ để từ đómỗi bài thơ sẽ mang một sắc thái tình cảm khác nhau, phù hợp với từng hoàncảnh cụ thể

2.2 Loại hình tứ thơ trong thơ Hữu Thỉnh

2.2.1 Tứ thơ về tình cảm gia đình

Hữu Thỉnh là nhà thơ viết nhiều về chiến tranh, về cuộc sống nhưng ở

đó luôn nổi bật hình ảnh những con người gần gũi và thân yêu Nếu với XuânQuỳnh, Bằng Việt, ta bắt gặp hình ảnh của người bà quen thuộc với “ổ rơmhồng những trứng”, với mùi khói bếp lam lũ, thì với Hữu Thỉnh, ta lại gặpđược hình ảnh của người mẹ Hình tượng người mẹ là một trong nhưng biểutrưng đẹp nhất, sáng chói nhất, tượng trưng sâu sắc nhất về hình tượng Tổquốc Người mẹ, một hình tượng có khả năng khái quát được tầm vóc, phẩmchất của Tổ quốc Việt Nam thầm lặng mà mãnh liệt, dịu dàng, thủy chung màanh dũng, kiên trung, giản dị, đau thương, vất vả mà đôn hậu, hào hùng vàtươi thắm vô ngần

Trang 38

Người mẹ hiện lên trong thơ là những người mẹ quê hiền lành tảo tầnnhư hàng ngàn bà mẹ khác trên khắp miền đất nước:

Mẹ tôi dòng dõi nhà quê trầu cau từ thuở chưa về làm dâu

áo sồi nâu, mấn bùn nâu trắng trong dải yếm bắc cầu nên duyên

(Con đường của những vì sao - Nguyễn Trọng Tạo)

Trong thơ Hữu Thỉnh, người mẹ là người phụ nữ chịu đầy vất vả lam lũ

và khổ cực “Mẹ một mình đi cấy cánh đồng xa/ Mẹ đã đi hết con đường củamẹ” , “Mẹ nhờ khói bếp/ Trời ngắt khói đem đi”, “Ai chèo đò như dáng mẹ takhom” “Đồng quang bóng mẹ nắng nôi một mình ” Những người mẹ tuylam lũ, khổ cực như vậy nhưng lại mang một sức mạng tinh thần vô cùng lớn

Đó là những người mẹ anh hùng, khi đất nước cần, sẵn sàng để cho nhữngngười con của mình ra trận Họ nuốt nước mắt vào trong mong con ra trậnđánh giành được bình yên của Tổ quốc Đó là một hình ảnh vô cùng tuyệt vờicủa những người mẹ Việt Nam

Khắp ngả đường của những người chiến sĩ đi qua đều có hình bóng của

mẹ Nơi tiền phương, phía trước mặt biết bao chông gai thử thách nhưngngười chiến sĩ đã có một niềm tin vô bờ bởi trong trái tim họ, có người mẹnhư ngọn lửa cháy mãi luôn soi sáng, dẫn đường Tình yêu thương của người

mẹ đã hòa vào tình dân tộc, tình quê hương Mẹ đã trở thành người mẹ Đấtnước, người mẹ Dân tộc che chở và đùm bọc cho những đứa con đang ngàyđêm đối diện với giặc thù Phía sau lưng, nơi quê nhà yêu dấu, mẹ là hậuphương vững chắc nâng bước chân cho người chiến sĩ vượt qua mọi gian lao

Có sức mạnh nào lớn hơn lòng mẹ, có tình yêu thương nào trải khắp các vùngđạn bom như tình yêu thương của mẹ Người chiến sĩ trong những lúc giannguy nhất, đau đớn nhất lại tìm được điểm tựa vững chắc về tinh thần Họ

Trang 39

như quên đi những thương tích trên cơ thể khi nhớ về mẹ, nhớ về ngôi nhàxưa của mẹ, về dáng hình người mẹ già đang ngày đêm ngồi dõi theo mỗibước đi của những đứa con:

Mẹ là người chúng con nhớ nhất Đất nước ngày có giặc

và chứa chan Trong bài thơ Ngôi nhà của mẹ, tứ thơ được chọn làm điểm tựa

cho sự vận động của cả bài đó là hình ảnh ngôi nhà Ngôi nhà là hình ảnh gợicảm hứng, điểm bắt đầu cho toàn bộ tác phẩm Người lính trên đường hànhquân xa luôn mang trong mình nỗi nhớ thương không nguôi về mẹ, về quêhương Nỗi nhớ ấy luôn đau đáu trong lòng và cuối cùng đã vỡ òa, trở thànhcám hứng để sáng tác khi nhà thơ quay trở lại với ngôi nhà thân thuộc củamình, nơi đầy ắp bóng hình của mẹ :

Xin mẹ lại cho con bắt đầu đi gánh nước gánh bao nhiêu trong mát để dành

xin mẹ lại cho con nấu bữa cơm mà không cần giấu khói để con được cảm ơn ngọn lửa nhà ta ngọn lửa biết thay con tìm lời an ủi mẹ.

Người mẹ là “chiếc hầm trú ẩn”, là “bến đỗ yên bình” cho những ngườicon xa quê hương Sống trong chiến tranh, đến bữa cơm cũng phải nấu trong

sự giấu giếm, phải dùng bếp Hoàng Cầm để che giấu làn khói trước quânđịch, người con lúc này lại cảm thấy hạnh phúc làm sao khi được về với mẹ,

về với ngọn lửa của gia đình, của sự bình yên Và chính những điều hạnh

Trang 40

phúc ấy, những mơ ước mong mỏi khi được về đoàn tụ với gia đình đã làmcho người con cầm vững tay súng chiến đấu, để tới một ngày hòa bình lập lại,người con sẽ trở về với cuộc sống bình yên bên gia đình:

Nhưng với một người lính như con Muốn gặp mẹ phải vượt lên phía trước Phải lách qua từng bước hiểm nghèo

……

Ngôi nhà mẹ là chiếc ga bé nhỏ Chúng con đến và đi trong suốt cuộc đời mình.

Ngôi nhà hay chính là người mẹ nơi bình yên và vững chắc nhất, là nơisân ga yên bình luôn chờ đón những người con trong suốt cuộc đời Đó là một

sự hi sinh cao cả của cuộc đời mẹ, dành tuổi xuân để chăm sóc những ngườicon, dành những năm tháng mòn mỏi nửa đời còn lại để mong ngóng nhữngđứa con bình an trở về qua mỗi chuyến đi xa

Một tứ thơ nổi bật khác của Hữu Thỉnh khi viết về mẹ là bài thơ Ngọn

khói Đây là một cách viết quen thuộc ta đã gặp trong bài Tiếng gà trưa, âm

thanh tiếng gà chính là tứ thơ vang vọng sắp cả bài, gợi lên cả thời quá khứbình yên đẹp đẽ, tình yêu thương của người bà dành cho cháu đầy giản dị,

chân thành Ở bài thơ Ngọn khói, hình ảnh trở đi trở lại và xuyên suốt tác

phẩm, gợi cảm hứng cho sáng tác của nhà thơ chính là những ngọn khói Đó

là khói của bữa cơm chiều tỏa lên từ những mái nhà tranh, đó là mùi khói củarơm rạ đặc trưng cho những làng quê, của mỗi căn bếp rơm do những người

mẹ người bà đốt lên đầy mùi bùn đất cỏ cháy:

Sao tôi cứ lan man cùng khói ấy

Mẹ nhóm lên nghi ngút mé đồi Bùn đất, cỏ khô ngùn ngụt cháy

Cả mùa đông tìm đến sưởi cùng tôi

Ngày đăng: 27/10/2020, 20:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w