Quản trị kinh doanh quốc tế là quá trình lập kế hoạch, tổ chức lãnh đạo vàkiểm soát những con người làm việc trong một tổ chức hoạt động trên phạm viquốc tế nhằm đạt được các mục tiêu củ
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ QUỐC TẾ 4
1.1 Khái niệm: 4
1.2 Bản chất QTQT: 4
1.3 Chức năng QTQT: 5
1.3.1 Hoạch định: 5
1.3.2 Tổ chức: 5
1.3.3 Lãnh đạo: 5
1.3.4 Kiểm soát: 5
1.4 Các tổ chức tham gia QTQT: 6
CHƯƠNG 2: MÔI TRƯỜNG QUỐC TẾ 8
2.1 Các yếu tố môi trường: 8
2.1.1 Môi trường kinh tế: 8
2.1.2 Môi trường chính trị - pháp luật: 9
2.1.3 Môi trường văn hóa – xã hội: 12
2.1.4 Môi trường công nghệ: 20
2.2 Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia 21
2.3 Yêu cầu của việc phân tích môi trường quốc tế: 26
CHƯƠNG 3: HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH QUỐC TẾ .28 3.1 Định nghĩa về hoạch định chiến lược kinh doanh: 28
3.2 Thế nào là Hoạch định chiến lược kinh doanh quốc tế: 28
3.3 Các bước hoạch định chiến lược kinh doanh quốc tế: 28
3.3.1 Thiết lập mục tiêu của công ty 28
3.3.2 Đánh giá vị trí hiện tại. 28
3.3.3 Xây dựng chiến lược 29
3.3.4 Chuẩn bị và thực hiện một kế hoạch chiến lược. 29
3.3.5 Đánh giá và kiểm soát kế hoạch 29
3.4 Một số chiến lược kinh doanh 29
3.4.1 Chiến lược chung: 29
3.4.2 Chiến lược cạnh tranh: 29
3.5 Những bí quyết lập kế hoạch hành động hiệu quả trong hoạch định chiến lược 30
3.6 Những nguyên nhân thất bại thường gặp khi thực hiện chiến lược 31
Trang 2CHƯƠNG 4: TỔ CHỨC KINH DOANH QUỐC TẾ 33
4.1 Những cấu trúc tổ chức đầu tiên khi công ty gia nhập thị trường quốc tế: 33
4.2 Cấu trúc tổ chức toàn cầu: 35
4.2.1 Cấu trúc sản phẩm toàn cầu 35
4.2.2 Cấu trúc chức năng toàn cầu 36
4.2.3 Cấu trúc khu vực toàn cầu 37
4.2.4 Cấu trúc hỗn hợp 38
4.2.5 Cấu trúc ma trận 39
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc tổ chức của công ty đa quốc gia: 40
CHƯƠNG 5: THÍCH ỨNG SỰ KHÁC BIỆT VĂN HOÁ 41
5.1 Nhận thức về sự khác biệt văn hóa 41
5.2 Phân nhóm văn hóa 42
5.3 Văn hoá và quản trị chiến lược (Culture and Strategic Management) 43
5.3.1 Thái độ làm việc (Work Attitudes) 43
5.3.2 Sự ham muốn thành đạt (Acheivement Motivation) 46
5.3.3 Thời gian 47
5.4 Đào tạo về văn hoá 48
CHƯƠNG 6: TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VÀ CÁC VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC 50
6.1 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: 50
6.1.1 Khái niệm: 50
6.1.2 Các khía cạnh của trách nhiệm xã hội: 50
6.1.3 Xây dựng bộ công cụ về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: 52
6.2 Đạo đức trong kinh doanh: 52
6.2.1 Khái niệm về đạo đức: 52
6.2.2 Vấn đề đạo đức trong kinh doanh: 52
6.2.3 Bản chất của vấn đề đạo đức 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 31 DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 8
01 Nguyễn Thị Phương Trâm
02 Hoàng Thọ Mẫn Trinh
03 Đinh Phan Toàn Trung
04 Ngô Quốc Tuấn
05 Phạm Anh Tuấn
06 Nguyễn Văn Tuấn
08 Lê Phạm Nhật Tuyên
09 Đỗ Thị Kim Tuyến
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ QUỐC TẾ
1.1 Khái niệm
Quản trị quốc tế (QTQT) là những hoạt động nhằm đạt được mục tiêu kinh
doanh quốc tế của doanh nghiệp thông qua nỗ lực của các thành viên trong doanhnghiệp
Quản trị kinh doanh quốc tế là quá trình lập kế hoạch, tổ chức lãnh đạo vàkiểm soát những con người làm việc trong một tổ chức hoạt động trên phạm viquốc tế nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức
Kinh doanh quốc tế ( KDQT) là những hoạt động kinh doanh được thực hiệnvới sự tham gia của các bên thuộc các nước khác nhau
Kinh doanh quốc tế bao gồm các giao dịch diễn ra giữa các nước nhằm đểthỏa mãn mục tiêu cá nhân công ty hay tổ chức (Michael R.Czinkota)
KDQT được tiến hành trên cơ sở quốc tế hoá các hoạt động kinh doanh.Khi quyết định tham gia vào kinh doanh quốc tế thì một doanh nghiệp phảiđối mặt với nhiều thách thức Khi đó, các yếu tố nội tại của công ty phải đươngđầu với các yếu tố mới bên ngoài về văn hóa, chính trị, pháp luật, kinh tế và cạnhtranh Các yếu tố nội tại của công ty là những nhân tố công ty có thể kiểm soátđược Các yếu tố này bao gồm:
- Chính sách phân bổ nguồn nhân lực, chương trình đào tạo và phát triểnnhân lực
- Xây dựng văn hóa tổ chức
- Tìm kiếm và phân bổ nguồn tài chính
- Xác định phương pháp và xây dựng kế hoạch sản xuất
- Đưa ra các quyết định marketing
- Đưa ra các chính sách đánh giá nhà quản trị và hoạt động của công ty
1.2 Bản chất quản trị quốc tế
Trang 5QTQT là sự phối hợp các nguồn lực (con người, tiền vốn và nguồn lực vậtchất) sao cho chúng được sử dụng có hiệu quả nhất trong hoạt động kinh doanhquốc tế của doanh nghiệp.
Đặc điểm của quản trị kinh doanh quốc tế:
- Liên quan đến nhiều quốc gia và chính phủ với những luật lệ khác biệt nhau
- Sự khác biệt về đơn vị tiền tệ, chịu tác động bởi tỷ giá hối đoái
- Sự khác biệt về văn hóa giữa các quốc gia
- Sự khác biệt trong cạnh tranh
1.3 Chức năng quản trị quốc tế
1.3.1 Hoạch định
Chức năng hoạch định là quá trình xác định mục tiêu, xây dựng một chiếnlược để thực hiện các mục tiêu đó và phát triển các kế hoạch để kết hợp và phốihợp các hoạt động với nhau
họ làm việc, lựa chọn kênh thông tin hiệu quả nhất hay giải quyết các vấn đề liênquan đến hành vi của nhân viên thì các nhà quản trị đang thực hiện chức nănglãnh đạo
Trang 61.3.4 Kiểm soát
Sau khi các mục tiêu được xác lập, các kế hoạch được hoạch định, cơ cấu
tổ chức được xác định và nhân viên được tuyển dụng, đào tạo và khuyến khíchlàm việc thì sai sót vẫn có thể xảy ra Để đảm bảo cho mọi việc đi đúng hướng,nhà quản trị phải giám sát và đánh giá kết quả công việc Kết quả thực tế phảiđược so sánh với những mục tiêu đã xác lập trước đó để nhà quản trị có thể đưa
ra những hoạt động cần thiết, đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức điđúng quỹ đạo Quá trình giám sát, so sánh, và hiệu chỉnh là nội dung của chứcnăng kiểm soát
1.4 Các tổ chức tham gia quản trị quốc tế
- Doanh nghiệp nội địa
- Doanh nghiệp quốc tế
Công ty quốc tế là một công ty tham gia trực tiếp vào bất kỳ hình thức nào của hoạt động kinh doanh quốc tế Vì vậy sự khác nhau của các công ty
là ở phạm vi và mức độ tham gia vào kinh doanh quốc tế Chẳng hạn, mặc dùmột công ty nhập khẩu chỉ mua hàng từ các nhà nhập khẩu nước ngoài,nhưng nó vẫn được coi là một công ty quốc tế
Tương tự, một công ty lớn có các nhà máy phân bổ trên khắp thế giớicũng được gọi là công ty quốc tế, hay còn gọi là công ty đa quốc gia (MNC)-một công ty tiến hành đầu tư trực tiếp (dưới hình thức các chi nhánh sản xuấthoặc marketing) ra nước ngoài ở một vài hay nhiều quốc gia Như vậy, mặc
dù tất cả các công ty có liên quan đến một hay một vài khía cạnh nào đó của
thương mại hay của đầu tư quốc tế đều được coi là công ty quốc tế, nhưng
chỉ có các công ty đầu tư trực tiếp ra nước ngoài mới được gọi là công ty
đa quốc gia.
- Doanh nghiệp đa quốc gia
Công ty đa quốc gia, thường viết tắt là MNC (Multinational corporation)hoặc MNE (Multinational enterprises), là khái niệm để chỉ các công ty sảnxuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhất hai quốc gia Các công ty đa quốc gia lớn
có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia Công ty đa quốc gia cóthể có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và các nền kinh tế của các
Trang 7quốc gia Các công ty đa quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong quátrình toàn cầu hóa.
Cấu trúc công ty đa quốc gia: Các công ty đa quốc gia có thể xếp vào ba
nhóm lớn theo cấu trúc các phương tiện sản xuất:
Công ty đa quốc gia “theo chiều ngang” sản xuất các sản phẩm cùngloại hoặc tương tự ở các quốc gia khác nhau (ví dụ: McDonalds)
Công ty đa quốc gia “theo chiều dọc” có các cơ sở sản xuất ở một sốnước nào đó, sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ởmột số nước khác (ví dụ: Adidas)
Công ty đa quốc gia “nhiều chiều” có các cơ sở sản xuất ở các nướckhác nhau mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc (ví dụ:Microsoft)
- Doanh nghiệp toàn cầu
Công ty toàn cầu (Global Company - GC) – là công ty tiêu chuẩn hóa cáchoat động toàn cầu trên mọi lĩnh vực
Trang 8CHƯƠNG 2 MÔI TRƯỜNG QUỐC TẾ
2.1 Các yếu tố môi trường
2.1.1 Môi trường kinh tế
2.1.1.1 Cơ sở hạ tầng
Quyết định tiến hành kinh doanh ở một lãnh thổ cũng phụ thuộc vào cơ sở
hạ tầng Cơ sở hạ tầng liên quan đến đường cao tốc, đường sắt, sân bay, cơ sở vậtchất nước thải, nhà ở, cơ sở giáo dục, mạng thông tin liên lạc, các cơ sở vui chơigiải trí, và các tiện nghi kinh tế và xã hội khác là những dấu hiệu về sự phát triểnkinh tế ở vùng đó
Do tầm quan trọng của việc phát triển hệ thống công nghệ thông tin, nên hạtầng truyền thông thông tin là quan trọng nhất Theo nghiên cứu ngân hàng pháttriển Châu Á, các nước trong khu vực cần đầu tư mạnh để nâng cấp cơ sở hạ tầngviễn thông Ngoài ra cũng cần thiết chi đầu tư cho việc vận chuyển trong khu vực,
hệ thống nước và năng lượng Do đó, xây dựng cơ sở hạ tầng để hỗ trợ phát triểnkinh tế là rất tốn kém Nhưng nếu một quốc gia nào đó muốn kêu gọi các nhà đầu tưđầu tư sang nước mình thì việc xây dựng cơ sở hạ tầng là thật sự cần thiết
2.1.1.2 Cán cân thanh toán và cán cân thương mại
Một nhân tố kinh tế khác là cán cân thanh toán của quốc gia, tài khoản ghichép hàng hóa và dịch vụ, vốn vay, vàng và các khoản mục khác đi vào và đi rakhỏi quốc gia đó Cán cân thương mại, tài khoản theo dõi giữa xuất khẩu và nhậpkhẩu của một quốc gia, là một yếu tố quan trọng quyết định cán cân thanh toánquốc gia đó Nếu một quốc gia có kim nghạch xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu tức
là quốc gia đó đã thặng dư được cán cân thương mại, điều này dẫn đến lượng dựtrữ ngoại hối ở quốc gia đó được dư thừa giúp cải thiện cán cân thanh toán
2.1.1.3 Tỷ giá hối đoái
Nhắc đến môi trường kinh doanh quốc tế là nhắc đến tỷ giá hối đoái, là giátrị mà tại đó một đơn vị tiền tệ của một quốc gia có thể đổi được bao nhiêu tiềncủa quốc gia khác Bởi vì tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến giá cả hàng hoá từ cácnước khác nhau, nên việc thay đổi tỷ giá ảnh hưởng đến khả năng của một công
ty tham gia vào kinh doanh quốc tế
Trang 92.1.2 Môi trường chính trị - pháp luật
2.1.2.1 Rủi ro chính trị
Tất cả các công ty thực hiện kinh doanh vượt ra khỏi phạm vi một quốc giađều phải đối mặt với rủi ro chính trị - cụ thể sự thay đổi về chính trị có ảnh hưởngxấu đến công việc kinh doanh Rủi ro chính trị ảnh hưởng đến nhiều nước khácnhau theo nhiều cách khác nhau Nó có thể đe dọa đến thị trường xuất khẩu, điềukiện sản xuất hoặc gây khó khăn cho nhà đầu tư chuyển lợi nhuận về trong nước
Rủi ro chính trị phát sinh là do những nguyên nhân sau:
- Sự lãnh đạo của chính trị yếu kém;
- Chính quyền bị thay đổi thường xuyên;
- Sự dính líu đến chính trị của các nhà lãnh đạo tôn giáo và quân đội;
- Hệ thống chính trị không ổn định;
- Những vụ xung đột về chủng tộc, tôn giáo và các dân tộc thiểu số;
- Sự liên kết kém chặt chẽ giữa các quốc gia
Phân loại rủi ro chính trị:
Rủi ro chính trị có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.Trước hết theo các doanh nghiệp, rủi ro chính trị được chia làm hai loại:
- Rủi ro vĩ mô: đe dọa đến tất cả các doanh nghiệp không trừ một ngànhnào Rủi ro vĩ mô ảnh hưởng đến hầu hết các công ty – cả doanh nghiệptrong và ngoài nước
- Rủi ro vi mô: tác động đến những công ty thuộc một ngành nào đó.
Hậu quả mà rủi ro chính trị gây ra:
- Xung đột và bạo lực: Xung đột địa phương có thể gây cản trở mạnh
mẽ đến đầu tư của các công ty quốc tế Bạo lực làm suy yếu khả năngsản xuất và phân phối sản phẩm, gây khó khăn cho việc nhận nguyênliệu và thiết bị gây cản trở việc tuyển dụng những nhân công giỏi.Xung đột nổ ra cũng đe dọa cả tài sản (văn phòng, nhà máy và thiết bịsản xuất) và cuộc sống của nhân công
- Khủng bố và bắt cóc: Khủng bố có mục đích tạo ra sự lo sợ và ép buộc
sự thay đổi thông qua việc gây ra những cái chết và tàn phá tài sản mộtcách bất ngờ và không lường trước được Bắt cóc thường được sử dụngnhằm tài trợ tài chính cho các hoạt động khủng bố Các hãng kinhdoanh nước ngoài lớn là mục tiêu chính bởi vì những người làm việc ởđây khá “nặng túi” và có thể trả những khoản chuộc khá hậu hĩnh
Trang 10- Sự thay đổi các chính sách: Sự thay đổi chính sách của chính phủcũng có thể là do nguyên nhân mất ổn định xã hội hoặc là do có sựtham gia của các chính đảng mới.
2.1.2.2 Sự công hữu hóa:
Đôi khi một số chính quyền chiếm đoạt tài sản của các công ty trên lãnh thổ
của họ Sự chiếm đoạt diễn ra dưới 3 hình thức: Tịch thu, xung công và quốc hữu hóa.
Tịch thu: Là việc chuyển tài sản của công ty vào tay chính phủ mà không
có sự đền bù nào cả Thông thường không có cơ sở pháp lý yêu cầu đền bùhoặc hoàn trả lại tài sản
Xung công: Là việc chuyển tài sản của tư nhân vào tay chính phủ nhưng
Quốc hữu hóa: Quốc hữu hóa phổ biến hơn xung công và tịch thu Trong
khi xung công áp dụng đối với một hoặc một số công ty nhỏ trong mộtngành, thì quốc hữu hóa diễn ra đối với toàn bộ ngành Quốc hữu hóa làviệc Chính phủ đứng ra đảm nhiệm cả một ngành
Quốc hữu hóa cũng có sự khác nhau giữa các quốc gia Trong khi các chínhphủ Cuba, Bắc Triều Tiên kiểm soát mọi ngành, thì Mỹ và Canada chỉ kiếmsoát một số ngành Các nước khác như Pháp, Braxin, Mexico, Ba Lan và
Ấn Độ cố gắng làm cân bằng giữa sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân
2.1.2.3 Các luật đặc thù - Bản xứ
a Các chính sách địa phương
Các nhà quản lý có thể phải xem xét đến những luật lệ và quy định áp dụngtrong kinh doanh ở mỗi quốc gia Hơn nữa, pháp luật ở nhiều quốc gia rất dễ thayđổi và luật mới ra đời tiếp tục tác động đến doanh nghiệp Để những ảnh hưởngcủa địa phương có lợi cho họ, các nhà quản lý đề nghị những định hướng thayđổi có ảnh hưởng tích cực tới họ
Các yêu cầu của địa phương có thể gây bất lợi sự tồn tại của các hãng trongdài hạn Đặc biệt, họ có thể gây ra hai điểm bất lợi đối với các công ty hoạt độngvượt ra ngoài phạm vi một quốc gia bất cứ lúc nào:
Thứ nhất, yêu cầu phải tuyển dụng những nhân công địa phương của họ có
Trang 11thể làm cho các công ty này thiếu những người làm việc có đủ trình độ
Thứ hai, yêu cầu các công ty sử dụng toàn bộ hoặc một phần nguyên,nhiên vật liệu của địa phương dẫn đến chi phí sản xuất cao, chất lượnggiảm sút hoặc cả hai
b Luật mang tính chất tôn giáo
Luật dựa trên nền tảng tôn giáo được gọi là luật thần quyền Có 3 luật thầnquyền nổi lên đó là Luật Đạo Hồi, đạo Hin-đu, luật Do Thái
Các hãng hoạt động ở những nước tồn tại luật thần quyền phải nhạy cảmvới niềm tin và văn hóa địa phương Họ nên đánh giá hết các hoạt động sản xuất,kinh doanh bao gồm những thông lệ và chính sách đầu tư để đảm bảo phù hợpvới không chỉ pháp luật mà còn tôn giáo và văn hóa địa phương
c Luật chống độc quyền
Các đạo luật nhằm chống các công ty ấn định giá cả, chiếm lĩnh thị trường
và tận dụng những lợi thế do độc quyền gọi là đạo luật chống độc quyền Nhữngđạo luật này cố gắng cung cấp cho khách hàng những sản phẩm đa dạng ở mứcgiá hợp lý
Các công ty bị chế tài bởi luật chống độc quyền cho rằng họ bị mất lợi thế
do phải chia sẻ thị phần với các đối thủ cạnh tranh trong nước Vì vậy, nhữnghãng hoạt động ở những nước có đạo luật chống độc quyền thường được miễnthuế trong một số giao dịch quốc tế Một số tiểu thương cho rằng họ có thể cóđiều kiện cạnh tranh tốt hơn đối với các công ty quốc tế lớn nếu không vi phạmluật chống độc quyền
2.1.2.4 Thuế quan
Chính phủ các nước dùng thu nhập từ thuế doanh thu cho nhiều mục đích.Tiền thuế được dùng để trả lương, xây dựng quân đội, điều hòa thu nhập từ ngườigiàu sang người nghèo Chính phủ cũng đánh thuế trực thu, còn gọi là thuế tiêudùng cho 2 mục đích:
- Nó giúp cho việc chi trả cho những hậu quả của việc tiêu dùng 1 sản phẩm
- Làm cho hàng hóa nhập khẩu đắt hơn
Thuế tiêu dùng được đánh trên các hàng hóa như rượu và thuốc lá để điềutrị những bệnh tật sinh ra từ những sản phẩm này Tương tự, thuế đánh trên xăngdầu để xây dựng và sữa chữa cầu cống và đường xá Thuế đánh trên những mặthàng nhập khẩu làm cho những hàng hóa địa phương có lợi thế hơn về mặt giá
cả Xét về tỷ lệ khác, các nước có tỷ lệ thuế suất khác nhau tính trên thu nhập
Trang 12Ví dụ như máy ghi âm của người Nhật đã phải được kiểm tra từng cái mộtbởi Hải quan Pháp tại một cơ sở nhỏ ở Poities Điều này gây ra sự chậm trễ lớn
và làm cho việc nhập khẩu máy ghi âm vào nước Pháp bị trì trệ Kết quả là, cácnhà sản xuất Nhật Bản đã đồng ý động thái “hạn ngạch xuất khẩu tự nguyện” đểhạn chế việc chuyển máy ghi âm sang Pháp
2.1.3 Môi trường văn hóa – xã hội
2.1.3.1 Khoảng cách quyền lực
Miêu tả mức độ của sự bất bình đẳng giữa con người ở các nghề nghiệpkhác nhau Trong nền văn hóa có khoảng cách quyền lực lớn, các nhà lãnh đạo vàcác nhà giám sát thích có sự thừa nhận đặc biệt và nhiều đặc quyền Trong nhữngnền văn hóa có khoảng cách quyền lực ít, uy tín và các phần thưởng là công bằnghơn cho các nhà chức trách và các nhân viên xếp thứ bậc trong công ty
Đối với một số nền văn hóa, phấn đấu lên tầng lớp xã hội cao hơn là dễdàng, nhưng ngược lại, ở một số nền văn hóa khác, điều này rất khó khăn hoặcthậm chí là không thể Khoảng cách quyền lực thể hiện tính linh hoạt của xã hội,
là biểu hiện sự dễ dàng đối với các cá nhân có thể di chuyển lên hay xuống trongthứ bậc xã hội của một nền văn hóa hay không Đối với hầu hết dân tộc trên thếgiới ngày nay, một trong hai hệ thống quyết định tính linh hoạt của xã hội là: hệthống đẳng cấp xã hội và hệ thống giai cấp xã hội
- Hệ thống đẳng cấp:
Hệ thống đẳng cấp là một hệ thống về phân tầng xã hội, trong đó conngười được sinh ra ở một thứ bậc xã hội hay đẳng cấp xã hội, không có cơ hội dichuyển sang đẳng cấp khác
Nhiều cơ hội về việc làm và thăng tiến bị từ chối trong hệ thống, những
Trang 13nghề nghiệp nhất định bị hạn chế đối với thành viên trong mỗi đẳng cấp Vì thế
có nhiều xung đột cá nhân là tất yếu, một thành viên ở đẳng cấp thấp không thểgiám sát một ai đó ở đẳng cấp cao hơn
- Hệ thống giai cấp:
Một hệ thống phân tầng xã hội trong đó khả năng cá nhân và hành động
cá nhân quyết định địa vị xã hội và tính linh hoạt của xã hội được gọi là hệ thốnggiai cấp Đây là hình thức thông dụng trong phân tầng xã hội trên thế giới ngàynay Ý thức về giai cấp của người dân trong một xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽđến tính linh hoạt của xã hội đó Các nền văn hóa có ý thức phân tầng cao thường
ít linh hoạt hơn và nó phải trải qua mâu thuẫn giai cấp cao hơn
Ngược lại, ở mức ý thức giai cấp thấp hơn sẽ khuyến khích tính linh hoạt
xã hội và ít có mâu thuẫn Phần lớn các công dân Mỹ cùng chung niềm tin rằnglàm việc tích cực có thể cải thiện các tiêu chuẩn sống và địa vị xã hội của họ Họcho rằng các địa vị xã hội cao hơn gắn với thu nhập cao hơn và sung túc hơn, ítxem xét đến nguồn gốc gia đình Giàu có về mặt vật chất là quan trọng vì nó khẳngđịnh hay cải thiện địa vị xã hội Khi mọi người cảm thấy vị trí xã hội cao hơn trongtầm tay họ, họ sẽ có xu hướng bộc lộ sự hợp tác nhiều hơn ở nơi làm việc
2.1.3.2 Định hướng khuyến khích - thành tích
Là sự nhấn mạnh vào khả năng cạnh tranh; tính quyết đoán và sự thànhđạt về vật chất hay nhấn mạnh vào các giá trị như sự thụ động, hợp tác và cảmxúc Ở các nước định hướng thành tích như Nhật, Ý, Mexico nhân viên tin rằngcông việc sẽ đem đến sự nhận thức, tăng trưởng và thách thức Ở các nước địnhhướng khuyến khích như Netherland, Thụy Điển, Phần Lan họ chú trọng vàođiều kiện làm việc, an ninh, tình cảm và quyết định theo trực giác
2.1.3.4 Chủ nghĩa cá nhân - Chủ nghĩa tập thể
Xác định liệu trong một nền văn hóa cá nhân hay nhóm có trách nhiệm đốivới phúc lợi của mỗi thành viên Những nhà kinh doanh theo văn hóa chủ nghĩa
Trang 14cá nhân gắn trách nhiệm về các quyết định sai cho cá nhân Trong nền văn hóatập thể, lỗi do quyết định sai được chia sẻ giữa các thành viên nhóm.
a Nền văn hóa định hướng theo cá nhân
Một nền văn hóa trong đó mỗi cá nhân có xu hướng chịu trách nhiệm cho
sự sung túc của anh ta hay cô ta được gọi là văn hóa định hướng theo cá nhân.Hình thức văn hóa này thường thấy ở Úc, Canada, Tây Ban Nha, Anh và Mỹ Sựchú trọng vào chủ nghĩa cá nhân dẫn đến mức độ thay đổi nơi làm việc cao Điềunày là một cân nhắc rất quan trọng
Trong nền văn hóa chủ nghĩa cá nhân, đôi khi khó phát triển một môitrường làm việc hợp tác hoặc “tinh thần đồng đội” giữa những người lao động.Con người đã quen sự thừa nhận cá nhân có hướng liên đới tới các trách nhiệm
cá nhân hơn là cho hoạt động rộng rãi của công ty Các công ty trong nền văn hóađịnh hướng theo cá nhân có thể thấy khó tin vào sự hợp tác giữa các bên Các đốitác rất có thể sẽ rút lui khỏi sự hợp tác khi các mục tiêu của họ được thỏa mãn
b Nền văn hóa định hướng theo nhóm (tập thể)
Một nền văn hóa trong đó một nhóm cùng chung chia sẽ trách nhiệm về
sự sung túc của mỗi thành viên được gọi là nền văn hóa định hướng theo nhóm.
Con người làm việc vì tập thể nhiều hơn các mục tiêu cá nhân và có trách nhiệmtrong nhóm đối với các hành động của họ Toàn thể các thể chế xã hội, chính trị,kinh tế và luật pháp phản ánh vai trò chủ yếu của nhóm Mục tiêu duy trì sự hàihòa nhóm được minh chứng tốt nhất thông qua cấu trúc gia đình
Nhật Bản là một nền văn hóa khuynh hướng nhóm cổ điển Các nhà quản lýNhật Bản ra quyết định chỉ sau khi xem xét ý kiến của tất cả các nhân viên cấp dưới
2.1.3.5 Các khác biệt văn hóa
Sự cần thiết phải am hiểu về văn hóa
Quá trình toàn cầu hóa đòi hỏi mọi người tham gia vào kinh doanh phải cómột mức độ am hiểu nhất định về nền văn hóa, đó là sự hiểu biết về một nền văn
hóa cho phép con người sống và làm việc trong đó Am hiểu văn hóa sẽ giúp cho
việc nâng cao khả năng quản lý nhân công, tiếp thị sản phẩm và đàm phán ở các nước khác Cho dù tạo ra một nhãn hiệu toàn cầu như MTV hay Mc Donald là
đem lại một lợi thế cạnh tranh rất lớn, nhưng sự khác biệt văn hóa vẫn buộc cáchãng phải có các điều chỉnh cho phù hợp với thị trường địa phương Một sảnphẩm cần phải phù hợp với sở thích của người tiêu dùng địa phương, muốn đạtđược điều này không còn cách nào khác là phải tìm hiểu văn hóa địa phương Am
Trang 15hiểu văn hóa địa phương giúp công ty gần gũi hơn với nhu cầu và mong muốncủa khách hàng, do đó sẽ nâng cao sức cạnh tranh của công ty Để am hiểu hơn
về văn hóa địa phương ta cần nghiên cứu những vấn đề sau:
a Thẩm mỹ
Thẩm mỹ là những gì một nền văn hóa cho là đẹp khi xem xét đến các khíacạnh như nghệ thuật (bao gồm âm nhạc, hội họa, nhảy múa, kịch nói và kiến trúc);hình ảnh thể hiện gợi cảm qua các biểu hiện và sự tượng trưng của các màu sắc
Vấn đề thẩm mỹ là quan trọng khi một hãng có ý định kinh doanh ở mộtnền văn hóa khác Nhiều sai lầm có thể xảy ra do việc chọn các màu sắc khôngphù hợp với quảng cáo, bao bì sản phẩm và thậm chí các bộ quần áo đồng phụclàm việc
Ví dụ, màu xanh lá cây là màu được ưa chuộng của đạo Hồi và được trangtrí trên lá cờ của hầu hết các nước Hồi giáo, gồm Jordan, Pakistan và Arập -Xêút Do đó bao bì sản phẩm ở đây thường là màu xanh lá cây để chiếm lợi thế
về cảm xúc này Trong khi đó đối với nhiều nước châu Á, màu xanh lá cây lạitượng trưng cho sự ốm yếu Ở châu Âu, Mexico và Mỹ, màu đen là màu tang tóc
và sầu muộn nhưng ở Nhật và phần nhiều các nước châu Á đó lại là màu trắng.Chính vì vậy, các công ty cần phải nghiên cứu thận trọng màu sắc và tên gọi sảnphẩm để chắc chắn rằng nó không gợi lên bất kỳ phản ứng không trù bị nào
Âm nhạc cũng khắc sâu trong văn hóa và phải được cân nhắc khi sử dụng
nó làm tăng cảm xúc Âm nhạc có thể được sử dụng theo nhiều cách rất thôngminh và sáng tạo nhưng nhiều khi cũng có thể gây khó chịu đối với người nghe.Tương tự vậy, kiến trúc của các tòa nhà và các công trình kiến trúc khác nhaucũng cần được nghiên cứu để tránh những sai lầm ngớ ngẩn về sự tượng trưngcủa những hình dáng và hình thức cụ thể
b Giá trị và thái độ
Giá trị:
Giá trị là những gì thuộc về quan niệm, niềm tin và tập quán gắn với tìnhcảm của con người Các giá trị bao gồm những vấn đề như trung thực, chungthủy, tự do và trách nhiệm
Các giá trị là quan trọng đối với kinh doanh vì nó ảnh hưởng đến ướcmuốn vật chất và đạo đức nghề nghiệp của con người
Chẳng hạn như ở Singapore giá trị là làm việc tích cực và thành đạt về vậtchất, ở Hy Lạp giá trị là nghỉ ngơi và lối sống văn minh Ở Mỹ giá trị là tự do cánhân, người Mỹ có thể làm theo sở thích hoặc thay đổi lối sống của mình cho dù
Trang 16có phải từ bỏ mọi cam kết với gia đình, với cộng đồng Ở Nhật Bản, giá trị là sựđồng lòng trong nhóm, mọi người đều tin cậy lẫn nhau và họ có quyền ý kiếntrong các cuộc thảo luận liên quan đến công việc, các nhà quản lý và nhữngngười cấp dưới đều mong muốn tham gia các quyết định chính thức Trong khi đó
ở nhiều nền văn hóa khác trên thế giới hầu như các giao dịch kinh doanh giữa các
cá nhân đều phải được thanh toán bằng tiền mặt, họ không nhận séc hoặc giấybảo đảm vì những thứ đó họ không tin tưởng rằng có thể kiểm soát được
Sự am hiểu văn hóa địa phương có thể cho các nhà kinh doanh biết rõkhi nào sản phẩm hoặc hoạt động xúc tiến phải được điều chỉnh theo sở thíchđịa phương theo cách thức phản ánh các giá trị và thái độ của họ Trong cáckhía cạnh quan trọng của cuộc sống có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạtđộng kinh doanh, con người thường có những thái độ khác nhau đối với cácvấn đề như thời gian, công việc, sự thành công và sự thay đổi văn hóa
* Thái độ đối với thời gian:
Người dân ở nhiều nước Mỹ- Latinh và khu vực Địa Trung Hải thườngkhông coi trọng vấn đề thời gian Các kế hoạch của họ đều khá linh hoạt, họthích hưởng thụ thời gian hơn là tiêu tốn nó cho những kế hoạch cứng nhắc.Ngược lại, đối với người Mỹ và Nhật Bản thời gian chính là nguồn củacải quý giá Chính vì thế họ luôn luôn coi trọng sự đúng giờ và biết quý trọngthời gian của người khác
* Thái độ đối với công việc và sự thành công:
Có nhiều người cho rằng công việc là một thói quen, nếu như thiếu nó họ
sẽ cảm thấy khó chịu Theo quan điểm của những người này công việc đốivới họ không nằm ngoài mục đích tránh sự chán chường trong nhàn rỗi, họkhông mong ước tới sự thành công trong công việc mà chỉ mong muốn cómột công việc nào đó để làm
Ngược lại, có những người mong muốn, hăm hở làm việc là để nhằm đạtđược một sự thành công nào đó, ước vọng tới sự thành công là kích thích làm
Trang 17việc lớn nhất đối với họ Những người này thường ít nổ lực nếu như họ biếtrằng một trong hai khả năng thành công hay thất bại là chắc chắn Để kích thích
họ làm việc thì khả năng thành công của công việc phải là không chắc chắn
c Tập quán và phong tục
Khi tiến hành kinh doanh ở một nền văn hóa khác, điều quan trọng đối vớimỗi doanh nhân là phải hiểu phong tục, tập quán của người dân nơi đó Ở mứctối thiểu, hiểu phong tục tập quán sẽ giúp nhà quản lý tránh được các sai lầm ngớngẩn hoặc gây nên sự chống đối từ những người khác Nếu bạn có kiến thức sâuhơn thì sẽ có cơ hội nâng cao khả năng giao tiếp trong các nền văn hóa khác, bánsản phẩm hiệu quả hơn và quản lý được các hoạt động quốc tế Chúng ta hãy tìmhiểu sự khác biệt quan trọng về phong tục, tập quán trên thế giới
Tập quán:
Các cách cư xử, nói năng và ăn mặc thích hợp trong một nền văn hóađược gọi là tập quán Trong nền văn hóa Arập từ Trung Đông đến Tây BắcPhi, bạn không được chìa tay ra khi chào mời một người nhiều tuổi hơnngoại trừ người này đưa tay ra trước Nếu người trẻ hơn đưa tay ra trước, đó
là một cách cư xử không thích hợp Thêm vào đó, văn hóa Arập xem tay trái
là “bàn tay không trong sạch” nên nếu dùng bàn tay này để rót trà và phục vụcơm nước thì bị coi là cách cư xử không lịch sự
Kết hợp bàn bạc công việc kinh doanh trong bữa ăn là thông lệ bìnhthường ở Mỹ Tuy nhiên, ở Mexico thì đó lại là điều không tốt ngoại trừngười sở tại nêu vấn đề trước, và cuộc thương thảo kinh doanh sẽ bắt đầu lạikhi uống cà phê hoặc rượu Ở Mỹ, nâng cốc chúc mừng có xu hướng rất tựnhiên và từng người thường chúc nhau với tâm trạng vui vẻ, nhưng một sựnâng cốc tương tự như vậy ở Mexico sẽ bị phản đối vì theo họ đây là hànhđộng hàm chứa đầy cảm xúc nên không thể thực hiện một cách quá tự nhiên
và dễ dãi như vậy được
Phong tục:
Khi thói quen hoặc cách cư xử trong những trường hợp cụ thể đượctruyền bá qua nhiều thế hệ, nó trở thành phong tục Phong tục khác tập quán
ở chỗ nó xác định những thói quen và hành vi hợp lý trong những trường hợp
cụ thể Có hai loại phong tục khác nhau đó là phong tục phổ thông và phong
tục dân gian.
Phong tục dân gian: thường là cách cư xử bắt đầu từ nhiều thế hệ trước,
đã tạo thành thông lệ trong một nhóm người đồng nhất Việc đội khăn xếp ở
Trang 18người đạo Hồi ở Nam Á và nghệ thuật múa bụng ở Thổ Nhĩ Kỳ là phong tụcdân gian.
Phong tục phổ thông: là cách cư xử chung của nhóm không đồng nhất
hoặc nhiều nhóm Phong tục phổ thông có thể tồn tại trong một nền văn hóahoặc hai hay nhiều nền văn hóa cùng một lúc
Tôn giáo không giới hạn theo biên giới quốc gia và nó có thể tồn tại ởnhiều vùng khác nhau trên thế giới đồng thời cùng một lúc Các tôn giáo khácnhau có thể thống trị trong nhiều vùng khác nhau ở các quốc gia đơn lẻ Quan hệgiữa tôn giáo và xã hội là phức tạp, nhạy cảm và sâu sắc Một số các tôn giáochính như:
- Phật giáo
e Giao tiếp cá nhân
Con người trong mỗi nền văn hóa có một hệ thống giao tiếp để truyền đạt
ý nghĩ, tình cảm, kiến thức, thông tin qua lời nói, hành động và chữ viết Hiểu
ngôn ngữ thông thường của một nền văn hóa cho phép chúng ta biết được tại sao
người dân nơi đó lại suy nghĩ và hành động như vậy Hiểu các hình thức ngônngữ khác nhau (ngoài ngôn ngữ thông thường) của một nền văn hóa giúp chúng
ta tránh đưa ra những thông tin gây ngượng ngùng hoặc ngớ ngẩn
Ngôn ngữ thông thường
Ngôn ngữ thông thường là một bộ phận trong hệ thống truyền đạt thôngtin của một nền văn hóa được thể hiện thông qua lời nói hoặc chữ viết Sựkhác nhau dễ thấy nhất khi chúng ta đến một quốc gia khác là ngôn ngữ
Trang 19thông thường Chúng ta sẽ phải lắng nghe và tham gia vào các cuộc đàmthoại, đọc các văn bản liên quan để tìm đường Chỉ có thể hiểu thực sự mộtnền văn hóa khi biết ngôn ngữ của nền văn hóa đó, do vậy ngôn ngữ là quantrọng đối với tất cả các hoạt động kinh doanh quốc tế.
Ngôn ngữ chung (ngôn ngữ quốc tế)
Ngôn ngữ chung là ngôn ngữ thứ 3 hoặc là ngôn ngữ liên kết được haibên cùng nhau hiểu mà cả hai bên này đều nói những thứ ngôn ngữ bản địakhác nhau Mặc dù chỉ 5% dân số thế giới nói tiếng Anh như là ngôn ngữ thứnhất, nhưng đó là ngôn ngữ chung phổ biến nhất trong kinh doanh quốc tế,theo sau là tiếng Pháp và Tây Ban Nha Tiếng thổ ngữ Quảng Đông củaTrung Quốc được sử dụng ở Hồng Kông, tiếng Quan Thoại được sử dụng ởĐài Loan, các vùng ở Trung Quốc cũng có những ngôn ngữ chung khác nhautùy theo sở thích của từng vùng Mặc dù ngôn ngữ chính thức của Ấn Độ làtiếng Hindu, nhưng ngôn ngữ chung của nó là tiếng Anh vì nước này trướcđây là thuộc địa của Anh
Vì hoạt động ở nhiều quốc gia, mỗi nước có ngôn ngữ riêng, nên cáccông ty đa quốc gia phải chọn một ngôn ngữ chung thống nhất dùng cho giaotiếp trong nội bộ Chẳng hạn như công ty Sony và công ty Matshushita củaNhật cùng dùng tiếng Anh cho tất cả các thư từ và giao dịch nội bộ Việc dịchđúng tất cả thông tin là hết sức quan trọng trong kinh doanh quốc tế
Ngôn ngữ cử chỉ
Sự truyền tin qua ám hiệu không âm thanh, bao gồm điệu bộ tay chân, thểhiện nét mặt, ánh mắt trong phạm vi cá nhân được coi là ngôn ngữ cử chỉ.Giống như ngôn ngữ thông thường, truyền tin theo ngôn ngữ cử chỉ sẽ baogồm cả thông tin lẫn tình cảm và nhiều điều khác của một nền văn hóa này vớimột nền văn hóa khác
Phần lớn ngôn ngữ cử chỉ là rất tinh tế và thường phải mất thời gian đểhiểu ý nghĩa của nó Những điệu bộ cơ thể thường truyền tải nhiều nghĩakhác nhau trong những nền văn hóa khác nhau Ví dụ, ám hiệu ngón cái làthô bỉ ở Italia và Hy Lạp nhưng có nghĩa “mọi thứ được đấy” hoặc thậm chí
Trang 20đào tạo công nhân thường thu lại được sự gia tăng năng suất và tăng thunhập Một thực tế hiển nhiên là các quốc gia với lực lượng lao động đượcgiáo dục tốt, có kỹ năng sẽ thu hút các công việc có thu nhập cao, các quốcgia có giáo dục thấp thu hút các việc làm có thu nhập thấp Qua việc đầu tưvào giáo dục, một quốc gia có thể thu hút (thậm chí có thể tạo ra) nhưng loạingành công nghiệp có thu nhập cao thường gọi là các ngành công nghiệp có
“nhiều chất xám”
Các nền kinh tế công nghiệp mới ở châu Á có được sự phát triển kinh tếnhanh chóng là nhờ vào hệ thống giáo dục có chất lượng Hồng Kông, HànQuốc, Singapore và Đài Loan tập trung vào đào tạo toán ở cấp cơ sở và trunghọc Giáo dục đại học tập trung vào các khoa học khó và mục đích đào tạonhiều kỹ sư, nhà khoa học và nhà quản lý
Hiện tượng “chảy máu chất xám”
Chất lượng giáo dục của một quốc gia ảnh hưởng đến phát triển kinh tế,ngược lại mức độ và nhịp độ phát triển kinh tế cũng ảnh hưởng đến hệ thốnggiáo dục Chảy máu chất xám là việc ra đi của những người có trình độ giáodục cao từ một nghề nghiệp, một khu vực hay một quốc gia này đến một nghềnghiệp, một khu vực hay một quốc gia khác Nó sẽ chuyển giao bí quyết từmột nghề này sang một nghề khác vì con người có thể áp dụng giáo dục và kỹnăng để thay đổi nghề nghiệp Trung Quốc có truyền thống học tập và nghiêncứu trong các khoa học cơ bản và toán Nhưng đổi mới kinh tế đã cuốn hút cácgiáo sư đang làm việc tại các trường đại học có thu nhập thấp chuyển sang làmviệc cho các công ty tư nhân hoặc thậm chí bắt đầu tự kinh doanh
2.1.4 Môi trường công nghệ
Các yếu tố công nghệ là rất quan trọng trong môi trường quốc tế, trình độcông nghệ ở các quốc gia khác nhau ảnh hưởng đến bản chất thị trường và khảnăng của các công ty để kinh doanh Trên thực tế, có rất nhiều việc chuyển giaocông nghệ xảy ra trong quá trình kinh doanh quốc tế Chuyển giao công nghệ đượcchuyển giao công nghệ từ những người sở hữu nó đển những người không Côngnghệ có thể là hàng hoá, quá trình xử lý hay là công nghệ xây dựng tiên tiến
Ví dụ, sau khi xây dựng Tungsram, một hãng sản xuất bóng đèn nhà nướctại Budapest, Hungary, để tăng cường vị trí sang châu Âu của nó, GeneralElectric đại tu các công nghệ của các nhà máy Tungsram và hệ thống máy tínhcủa nó
Trang 21Khoa học kỹ thuật, công nghệ sản xuất ngày càng phát triển dẫn đến quátrình chuyên môn hóa ngày càng sâu Sản xuất sản phẩm của nhiều ngành đãmang tính toàn cầu, mỗi quốc gia chỉ sản xuất một cụm chi tiết hoặc thậm chí làmột chi tiết của sản phẩm Điều này làm cho việc sản xuất giữa các quốc gia gắnchặt với nhau hơn.
2.2 Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia
Sự thịnh vượng của một quốc gia được tạo ra chứ không phải kế thừa Nókhông phát triển từ sự sẵn có tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, lãi suất,hay giá trị tiền tệ của một quốc gia giống như điều mà kinh tế học cổ điển khăngkhăng khẳng định
Khả năng cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc và năng lực của các ngànhtrong việc đổi mới và nâng cấp của quốc gia đó Các công ty tạo ra được lợi thế
so với các đối thủ cạnh tranh giỏi nhất trên thế giới là do áp lực và thách thức.Các công ty này hưởng lợi từ việc có những đối thủ cạnh tranh mạnh ở trongnước, các nhà cung ứng nội địa năng động, và những khách hàng trong nước cónhu cầu
Trên khắp thế giới, các công ty mà đã đạt được sự dẫn đầu quốc tế áp dụng cácchiến lược mà khác biệt với những công ty khác về mọi khía cạnh Nhưng trongkhi mọi công ty thành công sẽ sử dụng chiến lược cụ thể của riêng mình, thì cáchthức hoạt động cơ bản - đặc trưng và đường đi của tất cả các công ty thành công -
về cơ bản là giống nhau Các công ty đạt được lợi thế cạnh tranh thông qua nhữnghành động đổi mới Các công ty này tiếp cận sự đổi mới theo nghĩa rộng nhất của
nó, bao gồm cả các công nghệ mới lẫn những cách thức mới để làm việc Các công
ty này nhận thức được một cơ sở mới cho việc cạnh tranh hay tìm ra các phươngthức tốt hơn trong việc cạnh tranh theo cách cũ Sự đổi mới có thể được bộc lộtrong một thiết kế sản phẩm mới, một qui trình sản xuất mới, một phương pháptiếp thị mới, hay một cách thức mới để thực hiện việc đào tạo Phần lớn sự đổi mới
là bình thường và tăng dần từng chút, phụ thuộc nhiều hơn vào sự tích lũy củanhững hiểu biết sâu sắc và tiến bộ nhỏ hơn là một sự đột phá duy nhất và quantrọng về công nghệ
Sự đổi mới thường liên quan đến các ý tưởng mà thậm chí không phải là
“mới” – các ý tưởng mà đã quanh quẩn đâu đó nhưng chưa bao giờ được theo đuổimột cách mạnh mẽ Sự đổi mới luôn luôn liên quan đến các khoản đầu tư vào kỹnăng và kiến thức, cũng như vào tài sản vật chất và danh tiếng của nhãn hiệu
Trang 22Một số sự đổi mới tạo ra lợi thế cạnh tranh qua việc nhận thức được một cơhội thị trường hoàn toàn mới hay qua việc phục vụ cho một phân khúc thị trường
mà những đối thủ khác đã bỏ qua Khi các đối thủ cạnh tranh chậm chân trong việcphản ứng, thì sự đổi mới như vậy tạo ra lợi thế cạnh tranh Ví dụ, trong nhữngngành như xe hơi hay điện tử gia dụng, các công ty Nhật Bản đã tạo được lợi thếban đầu bằng cách tập trung vào các mẫu sản phẩm nhỏ hơn, gọn hơn, công suấtthấp hơn mà các đối thủ cạnh tranh nước ngoài không thèm để ý đến và xem như
là ít có khả năng tạo lợi nhuận hơn, ít quan trọng hơn và kém hấp dẫn hơn
Trên các thị trường quốc tế, những sự đổi mới mà tạo ra lợi thế cạnh tranh dựđoán trước được các nhu cầu trong nước và nước ngoài Ví dụ, khi sự quan ngạiquốc tế về sự an toàn của sản phẩm đã tăng lên, các công ty Thụy Điển nhưVolvo, Atlas Copco và AGA đã thành công bằng cách dự đoán trước được nhucầu thị trường trong lĩnh vực này Mặt khác, những sự đổi mới mà đáp ứng đượccác quan ngại hay những tình huống cụ thể của thị trường nước chủ nhà thật sự
có thể làm chậm lại sự thành công trong cạnh tranh trên trường quốc tế Ví dụ, sựhấp dẫn của thị trường quốc phòng khổng lồ của Hoa Kỳ đã làm chuyển hướng
sự tập trung các các công ty sản xuất vật liệu và công cụ máy móc của Hoa Kỳ rakhỏi những thị trường thương mại hấp dẫn và mang tính toàn cầu
Thông tin đóng một vai trò to lớn trong quá trình đổi mới và cải thiện –thông tin mà hoặc là không sẵn có đối với các đối thủ cạnh tranh hoặc là các đốithủ này không tìm kiếm Đôi khi thông tin đến từ khoản đầu tư đơn giản vàonghiên cứu và phát triển hay nghiên cứu thị trường; và thường xảy ra hơn làthông tin đến từ nổ lực, từ sự cởi mở và từ việc xem xét đúng nơi mà không bịlàm trở ngại bởi những giả định che khuất hay sự hiểu biết thông thường
Đây là lý do tại sao các nhà cách tân thường là những người ngoài cuộc từmột ngành khác hay một quốc gia khác Sự đổi mới có thể đến từ một công tymới, mà người sáng lập ra công ty đó có một nền tảng không truyền thống hayđơn giản là không được đánh giá cao tại một công ty lâu đời hơn và đã định hình.Hoặc năng lực đổi mới có thể đi vào một công ty hiện hữu thông qua các nhàquản lý cấp cao mà là mới đối với một ngành cụ thể và vì vậy có nhiều khả nănghơn trong việc nhận thức các cơ hội và có khả năng hơn trong việc theo đuổi các
cơ hội này Hay sự đổi mới có thể xảy ra khi một công ty đa dạng hóa, qua đómang đến các nguồn lực, kỹ năng hay viễn cảnh mới cho một ngành khác Haynhững sự đổi mới có thể đến từ một quốc gia khác có những hoàn cảnh khác biệthay cách thức cạnh tranh khác nhau Với một ít ngoại lệ, sự đổi mới là kết quả
Trang 23của một nổ lực bất thường Công ty mà thực thi thành công một cách thức mớihay tốt hơn trong việc cạnh tranh theo đuổi cách tiếp cận của mình với một sựquyết định bền bỉ, thường phải đối mặt với sự phê phán gay gắt và những trởngại khắc nghiệt Thật vậy, để thành công thì sự đổi mới thường yêu cầu áp lực,
sự cần thiết, và thậm chí sự bất lợi: nỗi lo sợ mất mát thường tỏ ra lớn hơn so với
hy vọng về sự hưởng lợi
Một khi một công ty đạt được lợi thế cạnh tranh thông qua một sự đổi mới,công ty đó có thể duy trì lợi thế đó chỉ bằng cách thông qua sự cải thiện khôngngừng Hầu như bất cứ lợi thế nào cũng có thể bị mô phỏng Các công ty HànQuốc đã bắt kịp khả năng của các đối thủ Nhật Bản trong việc sản xuất hàng loạtcác tivi và máy quay video màu tiêu chuẩn; các công ty Braxin đã lắp ráp côngnghệ và các thiết kế có khả năng so sánh được với các đối thủ cạnh tranh của Ýtrong các đôi giày da bình thường
Các đối thủ cạnh tranh cuối cùng và chắc chắn sẽ bắt kịp và vượt qua bất cứcông ty nào mà ngừng việc cải thiện và đổi mới Đôi khi những lợi thế của người
đi trước ví dụ như các mối quan hệ khách hàng, hiệu quả kinh tế tăng theo qui
mô trong những công nghệ hiện hữu, hay sự trung thành đối với các kênh phânphối là đủ để cho phép một công ty trì trệ có thể giữ được vị thế cố hữu của mìnhtrong nhiều năm thậm chí là nhiều thập niên Nhưng sớm hay muộn thì các đốithủ năng động hơn sẽ tìm ra một cách để đổi mới xung quanh những lợi thế nàyhay tạo ra một cách thức sản xuất rẻ hơn hay tốt hơn Những nhà sản xuất đồdùng của Ý, mà đã cạnh tranh một cách thành công trên nền tảng chi phí trongviệc bán các vật dụng có qui mô vừa và gọn thông qua các chuỗi cửa hàng bán lẻlớn, đã trụ lại được rất lâu trên lợi thế ban đầu này Qua việc phát triển các sảnphẩm khác biệt hơn và tạo ra các cửa hàng nhượng quyền thương hiệu vữngmạnh, thì các công ty cạnh tranh của Đức cũng đã bắt đầu tạo được ưu thế
Cuối cùng, cách thức duy nhất để duy trì lợi thế cạnh tranh là nâng cấp lợi
thế này - chuyển sang các loại hình tinh tế, phức tạp hơn Đây chính xác là điều
mà các nhà sản xuất xe hơi của Nhật Bản đã thực hiện Những công ty này banđầu thâm nhập các thị trường nước ngoài bằng các chiếc xe nhỏ gọn và rẻ tiền cóchất lượng tương xứng và cạnh tranh trên cơ sở chi phí lao động thấp hơn Tuynhiên, thậm chí khi lợi thế chi phí lao động rẻ của họ vẫn còn tồn tại thì các công
ty Nhật Bản đã và đang nâng cấp Họ tích cực đầu tư vào việc xây dựng các nhàmáy lớn, hiện đại nhằm khai thác hiệu quả kinh tế tăng theo qui mô Sau đó cáccông ty này trở thành những nhà cách tân trong công nghệ về qui trình, qua việc
Trang 24đi tiên phong trong sản xuất đúng lúc và là chủ nhân của các thông lệ chất lượng
và năng suất khác Những sự cải tiến về qui trình này đã tạo ra chất lượng sảnphẩm tốt hơn, hồ sơ sửa chữa tốt hơn, và xếp hạng mức độ thỏa mãn của kháchhàng cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh nước ngoài Gần đây hơn, các nhà sảnxuất xe hơi của Nhật Bản đã tiến đến việc đi tiên phong trong công nghệ sảnphẩm và đang giới thiệu các thương hiệu mới, cao cấp nhằm cạnh tranh với các
xe hơi chở khách có danh tiếng và uy tín nhất của thế giới
Ví dụ về các nhà sản xuất xe hơi Nhật Bản cũng minh họa cho hai điều kiệntiên quyết bổ sung cho việc duy trì lợi thế cạnh tranh Thứ nhất, một công ty phải
áp dụng một cách tiếp cận toàn cầu đối với chiến lược Công ty đó phải bán sảnphẩm của mình trên toàn thế giới, dưới tên thương hiệu riêng của mình, thôngqua các kênh tiếp thị quốc tế mà công ty đó kiểm soát Một cách tiếp cận toàncầu thực sự thậm chí có thể yêu cầu một công ty phải đặt các cơ sở sản xuất haynghiên cứu và phát triển tại các nước khác nhằm tận dụng các mức tiền công thấphơn, giành được hay cải thiện khả năng tiếp cận thị trường, hay tận dụng côngnghệ nước ngoài Thứ hai, việc tạo ra nhiều lợi thế bền vững hơn thường cónghĩa là một công ty phải làm cho lợi thế hiện hữu của mình trở nên lỗi thời -thậm chí trong khi đây vẫn còn là một lợi thế Các công ty xe hơi Nhật Bản đãnhận ra điều này, hoặc họ làm cho lợi thế của mình trở nên lỗi thời, hoặc một đốithủ cạnh tranh sẽ làm việc này giúp họ
Như ví dụ này gợi ý thì sự đổi mới và thay đổi thường được gắn kết chặt chẽvới nhau Nhưng sự thay đổi là một hành động không bình thường, đặc biệt là tạicác công ty thành công; những lực mạnh mẽ đang hoạt động nhằm tránh và đánhbại sự thay đổi Những cách tiếp cận trong quá khứ đã trở nên được thể chế hóatrong các thủ tục hoạt động tiêu chuẩn và những sự kiểm soát về quản lý Việcđào tạo nhấn mạnh đến một cách thức đúng đắn để làm bất cứ việc gì; sự xâydựng các cơ sở vật chất chuyên môn hóa và chuyên dụng làm vững chắc thêmthực tiễn trong quá khứ thành “gạch và vữa” đắt tiền; chiến lược hiện hữu tạo ramột cảm nhận về tính không thể bị đánh bại và trở nên bén rễ trong văn hóa củacông ty đó
Các công ty thành công có xu hướng phát triển một xu hướng cho khả năng
có thể tiên đoán và tính ổn định; các công ty này tiếp tục thực hiện việc bảo vệđiều mà mình có Sự thay đổi bị làm dịu lại bởi nỗi lo sợ rằng có nhiều thứ phảimất mát Tổ chức ở mọi cấp độ đã lọc bỏ các thông tin mà ắt sẽ đề xuất các cáchtiếp cận mới, những sự điều chỉnh, hay những sự chệch hướng so với định chuẩn
Trang 25Môi trường bên trong hoạt động như là một hệ thống miễn dịch nhằm cô lập hayloại trừ những cá nhân “thù địch”, người mà thách thức phương hướng hiện hànhhay lối suy nghĩ đã được định hình Sự đổi mới chấm dứt, công ty trở nên trì trệ;đây chỉ là vấn đề thời gian trước khi các đối thủ cạnh tranh tích cực bắt kịp vàvượt qua công ty đó.
Hình Thoi của Lợi thế Quốc gia
Tại sao một số công ty nhất định tại một số quốc gia cụ thể lại có khả năngđổi mới nhất quán? Tại sao các công ty này không ngừng theo đuổi những sự cảithiện, qua đó tìm kiếm một nguồn ngày càng tinh vi hơn của lợi thế cạnh tranh?Tại sao một số công ty có khả năng vượt qua được những rào cản đáng kể đối với
sự thay đổi và đổi mới mà rất thường đi kèm với sự thành công?
Câu trả lời nằm trong bốn thuộc tính lớn của một quốc gia, các thuộc tính
mà đứng riêng hay như một hệ thống tạo ra hình thoi của lợi thế quốc gia, sânchơi mà mỗi quốc gia thiết lập và hoạt động cho các ngành của mình Nhữngthuộc tính này là:
1 Các điều kiện nhân tố Vị thế của quốc gia đó trong các nhân tố sản
xuất, ví dụ như lao động có kỹ năng hay cơ sở hạ tầng, cần thiết để cạnh tranhtrong một ngành đã biết
2 Các điều kiện nhu cầu Bản chất của nhu cầu thị trường nội địa cho sản
phẩm hay dịch vụ của một ngành
3 Các ngành công nghiệp có liên quan và hỗ trợ Sự hiện diện hay vắng
mặt trong một quốc gia của các ngành cung ứng và các ngành có liên quan khác
mà có khả năng cạnh tranh quốc tế
4 Chiến lược, cơ cấu và sự cạnh tranh của công ty Các điều kiện trong
một quốc gia mà quản trị cách thức các công ty được tạo ra, tổ chức và quản lý,cũng như bản chất của sự ganh đua trong nước
Những định tố này tạo ra môi trường quốc gia mà trong đó các công tyđược sinh ra và học hỏi cách thức cạnh tranh Mỗi điểm trên hình thoi – và hìnhthoi nhưlà một hệ thống - ảnh hưởng đến các thành phần cơ bản cho việc đạtđược sự thành công trong cạnh tranh trên trường quốc tế: sự sẵn có của cácnguồn lực và kỹ năng cần thiết cho lợi thế cạnh tranh trong một ngành; thông tin
mà định hình các cơ hội mà những công ty nhận thức được và các phương hướng
mà qua đó các công ty này sử dụng những nguồn lực và kỹ năng của mình; mụctiêu của những người sở hữu, nhà quản lý, và các cá nhân trong công ty; và quantrọng nhất, những áp lực đối với các công ty trong việc đầu tư và đổi mới
Trang 26Khi một môi trường quốc gia cho phép và hỗ trợ sự tích lũy nhanh nhấtcủa các tài sản và kỹ năng chuyên môn hóa – đôi khi đơn giản bởi vì nổ lực và sựcam kết lớn hơn – các công ty tạo được một lợi thế cạnh tranh Khi một môitrường quốc gia cho phép thông tin đang xảy ra và sự hiểu biết sâu sắc tốt hơn vềnhu cầu sản phẩm và các qui trình, thì các công ty tạo được một lợi thế cạnhtranh Cuối cùng, khi một môi trường quốc gia tạo áp lực buộc các công ty phảiđổi mới và đầu tư, thì các công ty vừa tạo được lợi thế cạnh tranh vừa nâng cấpđược những lợi thế đó theo thời gian.
2.3 Yêu cầu của việc phân tích môi trường quốc tế
Để đạt được thành công khi tham gia vào môi trường kinh doanh quốc tế, doanhnghiệp phải luôn điều chỉnh các hoạt động của mình cho phù hợp với các yêu cầu và
cơ hội ở nước ngoài Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp không thể can thiệp vào môitrường để làm thay đổi nó, trái lại doanh nghiệp phải tự điều chỉnh cho phù hợp vớimôi trường mới Ở đây các phương thức kinh doanh hoàn toàn mới mẻ
Về cơ bản, doanh nghiệp phải chấp nhận môi trường nước ngoài, nếu nhưmuốn tham gia vào hoạt động kinh doanh ở đó Tuy nhiên, cần phải tìm hiểu việcchấp nhận môi trường bên ngoài trong kinh doanh không có nghĩa là doanhnghiệp hoàn toàn thụ động với nó Trái lại, tùy theo hiện trạng của từng môitrường, doanh nghiệp tìm ra các cách thức hội nhập thích ứng, nhằm tạo thời cơmới cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp đượcthực hiện những hình thức kinh doanh nào, hình thức nào là chủ yếu…
Để thực hiện các hoạt động kinh doanh có hiệu quả trong môi trường có hệthống kinh tế, chính trị, luật pháp, văn hóa… khác nhau, trước hết là các doanhnghiệp phải đưa ra những giải thích hữu hiệu cho các vấn đề cơ bản dưới đây:
1 Ở các quốc gia mà công ty sẽ hoạt động kinh doanh, cơ cấu chính trị cónhững đặc điểm gì, ảnh hưởng của nó đến doanh nghiệp ra sao
2 Quốc gia đó (nước sở tại) hoạt động theo hệ thống kinh tế nào
3 Ngành công nghiệp của nước sở tại thuộc khu vực tư nhân hay thuộc khuvực công
4 Nếu ngành công nghiệp đó thuộc khu vực công thì chính phủ có cho phép cạnh tranh ở khu vực đó không? Hoặc nếu có ở khu vực tư nhân thì xuhướng có chuyển sang khu vực công không?
5 Chính phủ nước sở tại có cho pháp nước ngoài tham gia cạnh tranh hay kết hợp với doanh nghiệp nhà nước hoặc tư nhân không?
Trang 276 Nhà nước điều hành quản lý các doanh nghiệp tư nhân như thế nào?
7 Các doanh nghiệp tư nhân phải đóng góp bao nhiêu cho chính phủ để thựchiện mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế chung
Việc trả lời các vấn đề trên không đơn giản mà khá phức tạp vì sự biến đổicủa hệ thống chính trị, kinh tế, luật pháp… đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, tìnhhình kinh tế chính trị trên thế giới đang có nhiều biến động Tùy thuộc và mụcđích và hoạt động kinh doanh cụ thể của mình mà công ty lựa chọn môi trườngkinh doanh cho phù hợp Dựa vào kết quả nghiên cứu môi trường kinh doanhquốc tế, công ty phải xác định được nên kinh doanh ở quốc gia nào, hình thứckinh doanh nào là chủ yếu
- Nếu là hoạt động xuất nhập khẩu thì mặt hàng kinh doanh là mặt hàng gì, quy cách, chất lượng, phẩm chất, nhãn hiệu, bao bì… như thế nào
- Nếu là hoạt đông kinh doanh đầu tư thì loại hình doanh nghiệp nào là thích hợp, nguồn vốn dự kiến là bao nhiêu, lấy ở đâu
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, phân tích môi trường kinh doanh, cho phépcác nhà quản lý xây dựng chiến lược kinh doanh quốc tế: chiến lược xuất nhậpkhẩu hàng hóa, dịch vụ, chiến lược đầu tư quốc tế, chiến lược tài chính, chiếnlược chuyển giao công nghệ, chiến lược con người, chiến lược cạnh tranh… Cácchiến lược này được thực hiện hiệu quả đến mức nào, điều này hoàn toàn phụthuộc vào khả năng thích ứng và ứng xử linh hoạt của công ty cho phù hợp với
sự thay đổi của môi trường kinh doanh
Muốn vậy, cần đánh giá chính xác và phát hiện kịp thời các cơ hội kinhdoanh ở nước ngoài, thực hiện các hợp đồng kinh doanh đa dạng; lựa chọn thịtrường mục tiêu có hiệu quả; linh hoạt thích ứng với những thay đổi có tính chấttoàn cầu
Trang 28CHƯƠNG 3 HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH QUỐC TẾ
3.1 Định nghĩa về hoạch định chiến lược kinh doanh
Hoạch định chiến lược kinh doanh là một quá trình thiết kế, xây dựng chiếnlược kinh doanh cho doanh nghiệp, cá nhân thông qua quá trình đánh giá các yếu
tố ánh hưởng đến hoạt động kinh doanh và từ đó đưa ra các phương án tốt nhất
3.2 Thế nào là hoạch định chiến lược kinh doanh quốc tế
Là việc phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp trên phạm vi đa quốc gia và vùng địa lý
3.3 Các bước hoạch định chiến lược kinh doanh quốc tế
3.3.1 Thiết lập mục tiêu của công ty
Xây dựng các mục tiêu tổng thể và mục tiêu tại từng khu vực, chi nhánhhoặc là mục đích mà công ty mong muốn đạt được trong tương lai Các mục tiêu
đó phải mang tính thực tế và được lượng hóa thể hiện chính xác những gì công tymuốn thu được Trong quá trình hoạch định chiến lược, các mục tiêu đặc biệt cầnlà: doanh thu, lợi nhuận, thị phần, tái đầu tư
Những yếu tố khác cần cân nhắc khi thiết lập mục tiêu là:
Quan điểm của cổ đông
Khả năng tài chính
Cơ hội
3.3.2 Đánh giá vị trí hiện tại
Có hai yếu tố cần đánh giá là: đánh giá môi trường kinh doanh bên ngoài
và đánh giá nội lực bên trong:
o Đánh giá môi trường kinh doanh bên ngoài: Nghiên cứu môi trường kinhdoanh tại từng khu vực để xác định xem yếu tố nào trong môi trường nào hiện tạiđang là nguy cơ hay cơ hội cho mục tiêu và chiến lược của công ty Đánh giá môitrường kinh doanh quốc tế gồm một số các yếu tố như: kinh tế toàn cầu, các sựkiện chính trị, công nghệ, áp lực thị trường, quan hệ và xã hội
Khi đánh giá môi trường kinh doanh quốc tế bên ngoài cần phải nắm rõ:
Những đặc trưng kinh tế quan trọng của khu vực và thế giới
Những lực lượng tác động có thể làm thay đổi ngành
Những lực lượng cạnh tranh trong ngành và khu vực