1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học: Đặc điểm chức năng của giới từ trong tiếng Việt hiện đại

127 173 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 777,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học: Đặc điểm chức năng của giới từ trong tiếng Việt hiện đại tìm ra những đặc điểm chức năng chung cho cả lớp từ để từ đó làm rõ điểm khác biệt của chúng so với các từ loại khác, giúp cho việc nhận diện, nắm bắt cũng như sử dụng chúng đạt được hiệu quả tốt hơn.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

-

Lê Duy Trinh

ĐẶC ĐIỂM CHỨC NĂNG CỦA GIỚI TỪ

TRONG TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI

Chuyên ngành : Ngôn ngữ học

Mã số : 60 22 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :

TS DƯ NGỌC NGÂN

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2006

Trang 2

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý Thầy Cô giảng dạy lớp Cao học Lí luận ngôn ngữ khóa 14; quý Thầy Cô ở khoa Ngữ văn, Phòng Khoa học công nghệ – Sau đại học Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh; Ban Giám hiệu, quý Thầy Cô giảng dạy tại Khoa Sư phạm trường Đại học Tiền Giang

Đặc biệt, chúng tôi nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của Cô Dư Ngọc Ngân, tiến sĩ Ngôn ngữ học, chủ nhiệm bộ môn Ngôn ngữ học khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh

Chúng tôi trân trọng những sự giúp đỡ đó và xin được nói lời cảm ơn chân thành

Tác giả

Trang 3

QUY ƯỚC TRÌNH BÀY

1 Tài liệu trích dẫn được đặt trong dấu   Chữ số đầu tiên đặt trước dấu (,) biểu thị số thứ tự của tài liệu theo danh mục tài liệu tham khảo Chữ số thứ hai đặt sau dấu phẩy biểu thị

số thứ tự trang của tài liệu được trích dẫn; ví dụ 7,tr 24 là tài liệu thứ 7 trong danh mục tài liệu tham khảo, trang 24 Nếu đoạn trích dẫn nằm ở hai ba trang liên tục thì giữa trang đầu và trang cuối có ghi thêm dấu gạch nối (-), ví dụ 27,tr 240 - 247 Thông tin đầy đủ về tài liệu

trích dẫn được ghi trong mục Tài liệu tham khảo đặt cuối luận văn

2 Ví dụ được in nghiêng và ghi theo thứ tự a, b,c của từng phần

3 Ngoài một vài chữ viết thông dụng như : x (xin xem), vd (ví dụ), luận văn còn sử dụng một số ký hiệu :

- Dấu / : hay, hoặc

- Dấu + : có

- Dấu - : không có

- Dấu  : có thể phát triển, biến đổi thành

4 Những từ trong ngoặc đơn ( ) là những từ có thể lược bỏ mà không làm cho câu thay

đổi về phương diện “có thể” hay “không thể” được người bản ngữ chấp nhận

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Giới từ (preposition) là lớp từ được xác định từ rất sớm trong lịch sử nghiên cứu ngữ pháp nói chung và từ loại nói riêng của thế giới Các công trình nghiên cứu về ngữ pháp của nhiều nước từ trước đến nay, khi miêu tả từ loại hoặc cấu trúc của các đơn vị ngữ pháp, ít nhiều đều có đề cập đến lớp từ này

Ở Việt Nam, kể từ cuốn “Việt Nam văn phạm” (1940) của Trần Trọng Kim, Phạm Duy

Khiêm, Bùi Kỷ cho đến các sách ngữ pháp gần đây, các tác giả, ở những mức độ khác nhau, đều có bàn đến giới từ (có khi được thay bằng thuật ngữ khác như kết từ phụ thuộc, quan hệ

từ phụ thuộc, từ nối chính phụ) Trong những công trình nghiên cứu đó, các tác giả xuất phát

từ nhiều góc nhìn khác nhau đã khảo sát, miêu tả giới từ tiếng Việt ở những bình diện khác nhau và thực tế đã có những đóng góp đáng kể trong việc chỉ ra những đặc điểm chức năng của lớp từ này

Tuy vậy, theo quan sát của chúng tôi, giới từ trong tiếng Việt có một diện mạo phong phú và phức tạp hơn những gì mà các tác giả đi trước đã miêu tả Nói một cách cụ thể hơn, với tư cách là một yếu tố ngôn ngữ có tần số sử dụng rất cao trong giao tiếp, giới từ đảm nhận khá nhiều chức năng và đóng vai trò quan trọng khi tham gia tạo lập phát ngôn Một

số đặc trưng ngữ pháp và thuộc tính ngữ nghĩa của nó không phải chưa từng được nói đến trong các công trình nghiên cứu trước đây Có điều, chưa có một công trình nào khảo sát, miêu tả ở mức độ đủ chi tiết để tổng kết các đặc điểm chức năng (ngữ pháp, ngữ nghĩa) của giới từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt, nhất là gắn việc xem xét giới từ với bản chất tín hiệu học nhằm phát hiện những hoạt động có tính quy luật của nó khi tham gia hành chức Hơn nữa, các công trình nghiên cứu đó đa phần chỉ quan tâm đến chức năng ngữ pháp của

giới từ do quan niệm giới từ là “hư từ” thuần túy; vì vậy, chức năng ngữ nghĩa của lớp từ

này chưa được chú ý

Mặt khác, khả năng phát triển thành ngữ đoạn trong giao tiếp của giới từ là hoàn toàn hiện thực Nhưng kiểu ngữ đoạn như vậy (giới ngữ) hoặc không được thừa nhận hoặc thừa nhận nhưng chưa được quan tâm và khảo sát đúng mức, trong khi ở một số ngôn ngữ khác loại ngữ đoạn này đã được xác định và miêu tả tương đối đầy đủ

Trang 5

Xuất phát từ tình hình trên và từ mong muốn góp phần tường minh hóa các đặc điểm chức năng (ngữ pháp, ngữ nghĩa) của giới từ – giới ngữ trong tiếng Việt, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Việc phân định từ loại nói chung, việc xác định từ loại giới từ nói riêng đã có lịch sử khá lâu đời Trên cơ sở kế thừa và phát triển lí luận về từ loại của các triết gia, học giả Hy Lạp thời cổ đại (Protagoras, Platon, Aristote), học phái Alexandrie đã xác lập hệ thống từ loại tiếng Hy Lạp gồm tám từ loại trong đó có giới từ hay tiền trí từ (các từ loại khác là danh

từ, động từ, tính động từ, thành phần, đại danh từ, phó từ và liên từ) Giới từ được học phái này quan niệm là loại từ có thể đứng trước các loại từ khác và cũng có thể dùng trong kết cấu nội bộ của cụm từ và câu Đến thế kỷ IV sau công nguyên, Donatus và Priscianus, hai nhà ngữ pháp học La tinh chia tiếng La tinh thành tám loại (danh từ, động từ, đại từ, tính động từ, phó từ, liên từ, thán từ và giới từ) Trong đó, giới từ được xác định có đặc điểm là dùng như một từ riêng biệt trước các từ biến cách và kết hợp với cả các từ biến cách và các từ không biến cách Các nhà ngữ pháp học châu Âu đã dựa vào kết quả này để xây dựng một hệ thống

từ loại bao gồm chín loại sau: article (quán từ), substantif (danh từ), adjectif (tính từ) verbe (động từ), adverbe (trạng từ), pronom (đại từ), préposition (giới từ), conjonction (liên từ) và interjection (thán từ)

Về sau, bảng từ loại này mang tính chất truyền thống và được dùng để miêu tả hoạt động ngữ pháp của nhiều ngôn ngữ trên thế giới, nhất là ở châu Âu

Ở Việt Nam, tài liệu cũ nhất bằng tiếng Việt có đề cập đến giới từ có lẽ là bài tựa “Báo

cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông kinh” trong cuốn từ điển thường được gọi là từ điển

Việt–Bồ–La của Alexandre de Rhôdes xuất bản năm 1651 tại Rome Trong phần III của bài tựa này, tác giả đã xem giới từ tiếng Việt là một trong bốn loại thuộc phần không biến hình của lời nói (ba loại kia là phó từ, thán từ, liên từ)

Với những tài liệu thu thập được, chúng tôi nhận thấy: giới từ tiếng Việt đã được các nhà nghiên cứu ở những thời kỳ khác nhau đề cập đến trong các công trình ngữ pháp học của mình

Từ năm 1940, các tác giả (Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm, Bùi Kỷ) của cuốn “Việt

Nam văn phạm” đã xác định và đặt tên cho giới từ tiếng Việt với định nghĩa như sau:

Trang 6

“Giới từ là tiếng dùng để liên lạc một tiếng với tiếng túc từ của nó” 23, tr.131

Sau đó, trên thực tế, các tác giả đã dựa vào ngữ nghĩa để phân loại các giới từ

Trong cuốn “Văn phạm Việt Nam” (1952), Bùi Đức Tịnh không nêu rõ định nghĩa về

giới từ mà xếp luôn các liên từ phụ thuộc (bởi, vì, cho nên, tuy nhưng) vào cùng một loại

với giới từ và gọi chúng là “giới từ và giới ngữ” Theo ông, “giới từ và giới ngữ” là những

tiếng dùng để chỉ sự tương quan giữa ý nghĩa của hai từ ngữ và hai mệnh đề 43, tr.230

Nguyễn Kim Thản trong công trình “Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt” (1963) tách riêng giới từ thành một từ loại như trong “Việt Nam văn phạm” (1940) và quan niệm: Giới từ

là một loại hư từ (trong nhóm quan hệ từ) có tác dụng nối liền từ phụ (hoặc từ tổ phụ) với từ chính (hoặc từ tổ chính), biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa hai đơn vị đó Ví dụ:

– Đi với tôi; viết bằng bút chì; ăn cho no

– Người mà tôi gặp hôm qua là người miền Nam 39, tr.330

Trong công trình nghiên cứu này, ông mới chỉ đặt vấn đề “nghiên cứu qua về một số giới từ chính trong tiếng Việt” và xét một số giới từ như sau: ở, ở trong (Anh bếp ở trong chạy ra), từ (tự), với, đối với, cùng với, cùng, bởi, vì, để, do, tại, cho, bằng (chiếc nhẫn này bằng vàng), rằng (một lúc, ngài dạy rằng )

Có điểm cần lưu ý là Nguyễn Kim Thản cho các từ “trên”, “dưới”, “trong”, “ngoài”,

“trước”, “sau” không thuộc từ loại giới từ mà thuộc phạm trù “thời vị từ”, “đứng trước danh

từ, chúng và danh từ là đồng ngữ, có ý nghĩa ngữ pháp về địa điểm, thời gian hay khối lượng, và làm thành phần của câu (hay của từ tổ)” 39, tr.330-347

Tác giả Nguyễn Tài Cẩn trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt (Tiếng – Từ ghép – Đoản

ngữ)” quan niệm: quan hệ từ (bao gồm giới từ và liên từ) là những từ có khả năng đi kèm với

đoản ngữ với tư cách là những cái dấu nối hai chiều, nối đoản ngữ với một đơn vị nào đấy ở trước để tạo thành một đơn vị lớn hơn Ông viết “những từ này có thể xem như là những dấu hiệu hình thức chứng tỏ rằng đoản ngữ sau chúng đã được đặt vào một thế phân bố nhất định” 7, tr.326

Giáo trình “Ngữ pháp tiếng Việt” (1983) của trường Đại học Sư phạm Hà Nội không

nêu ra định nghĩa quan hệ từ mà chỉ giới thiệu đặc điểm và tác dụng của từ loại này Theo

đó, quan hệ từ “ là loại đơn vị được gọi là giới từ, liên từ hoặc từ định hình cú pháp hoặc từ

Trang 7

nối dùng để nối các thành phần trong nhóm và trong câu hay các thành tố trong cụm từ ”8, tr.162 Các tác giả cũng cho rằng: khác với các lớp từ cơ bản và các phụ từ, lớp từ này không có ý nghĩa phạm trù, chức năng, không có khả năng kết hợp với những lớp từ khác; nó

là một thứ công cụ ngữ pháp, được dùng để góp phần “hiện thực hóa” các quan hệ cú pháp

trong cụm từ, trong câu để xây dựng nên các kết cấu cú pháp

Trong công trình nghiên cứu tập thể “Ngữ pháp tiếng Việt” (UBKHXH, 1983), các tác

giả đã xác định một từ loại gọi là kết từ với cách phân loại hết sức cô đọng như sau:

a Kết từ chính phụ tức là kết từ biểu thị quan hệ chính phụ

Đó là những từ như: do, của, để, bởi, bởi vì, tại, tại vì, mà, đối với, từ

b Kết từ liên hợp tức là kết từ biểu thị quan hệ liên hợp

Đó là những từ như: và, với, hay, hoặc, cùng, nhưng, song và những từ có thể dùng thành cặp như: nếu thế, tuy nhưng, vì cho nên, không những mà còn, càng càng

46, tr.91

Như vậy, tuyệt đại đa số các từ được các tài liệu ngữ pháp trước đó cho là giới từ được các tác giả công trình nghiên cứu nói trên xếp vào loại kết từ chính phụ

Cũng dùng thuật ngữ kết từ, Diệp Quang Ban trong tài liệu “Ngữ pháp tiếng Việt phổ

thông” (1989) cho rằng “Kết từ (còn gọi là quan hệ từ) là những hư từ dùng để liên kết các từ

với nhau hoặc các vế trong câu” Sau đó, mặc dù viết: “Trong nhiều ngôn ngữ, kết từ được

phân biệt rõ thành giới từ và liên từ Cách phân biệt này không thuận lợi đối với tiếng Việt” nhưng tác giả vẫn thừa nhận “ở những chỗ cần thiết người ta vẫn phải nhắc đến tên gọi giới

từ và liên từ” Tiếp đến, trên thực tế, khi tiến hành phân loại, tác giả đã chia kết từ thành hai tiểu loại như sau:

“10.1 Giới từ: dùng để nối định ngữ với danh từ – thành tố chính hoặc bổ ngữ gián

tiếp với động từ – thành tố chính : của, bằng, do, vì, tại, bởi, để, từ, đến

10.2 Liên từ: và, với, cùng, cùng với, cũng, như, còn, mà, hay, hay là, hoặc, hoặc

là, ” 2, tr.143-149.

Năm 1986, trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt (Từ loại)”, Đinh Văn Đức cũng có quan

niệm tương tự như Diệp Quang Ban khi viết rằng “so với các ngôn ngữ châu Âu việc tìm ranh giới triệt để giữa liên từ và giới từ trong tiếng Việt là khó, do tính chất đa chức năng của

Trang 8

các yếu tố” Từ đó, tác giả kết luận: “tất cả các hư từ cú pháp có thể tập hợp trong một phạm trù chung là quan hệ từ”16, tr.186

Khi tiến hành phân loại quan hệ từ, tác giả chia ra các tiểu loại như sau:

a Các liên từ thuần túy

b Các giới từ thuần túy

c Các liên từ – giới từ

Hoàng Văn Thung trong giáo trình “Ngữ pháp tiếng Việt” – tập I (1991) không nói đến

thuật ngữ giới từ, liên từ mà dùng thuật ngữ kết từ chính phụ, kết từ đẳng lập Đây là 2 tiểu loại của từ loại kết từ Loại từ này có đặc trưng như sau:

Về ý nghĩa khái quát, kết từ biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa các khái niệm và đối tượng được phản ánh Kết từ là dấu hiệu biểu thị các quan hệ cú pháp giữa các thực từ (và hư từ) một cách tường minh

Về khả năng kết hợp và chức năng cú pháp, kết từ được dùng nối kết các từ, các kết hợp

từ, các câu và đoạn văn có quan hệ cú pháp

Trong công trình nghiên cứu “Cú pháp tiếng Việt” (1992), Hồ Lê sử dụng bộ thuật ngữ

rất khác với các tác giả đi trước Ông cho rằng kết từ trong tiếng Việt gồm ba tiểu loại Mỗi tiểu loại có chức năng cụ thể như sau:

a Kết từ nối tiếp: dùng để nối những bộ phận ghép, gồm có: và, với, cùng, nhưng ,

song

b Kết từ chính phụ: dùng để nối bộ phận chính với bộ phận phụ trong các từ tổ danh

từ, động từ, tính từ, gồm những từ như: của, về, với, cho, ở, tại, vào, bằng, để, đặng, vì

c Kết từ đề – thuyết : dùng để nối phần đề với phần thuyết, gồm những từ như: thì, là,

mà, nếu thì , hễ thì , tuy nhưng 26, tr.372-403.

Theo đó, kết từ chính phụ chính là giới từ trong quan niệm của nhiều nhà nghiên cứu khác

Trong giáo trình “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” (1997), các tác giả Mai Ngọc Chừ,

Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến cũng sử dụng thuật ngữ kết từ và giải thích ngắn gọn

“kết từ là những từ dùng để chỉ quan hệ bình đẳng, quan hệ chính phụ và làm nhiệm vụ liên kết hai từ hay hai bộ phận từ ngữ với nhau” 13, tr.273

Trang 9

Tương tự như vậy, cuốn “Cơ sở tiếng Việt” (2000) của Hữu Đạt, Trần Trí Dõi, Đào

Thanh Lan cho biết “kết từ dùng để nối kết các từ thực hoặc các vế câu” Và nói thêm “ngoài việc nối kết, chúng còn diễn đạt mối quan hệ giữa các thực từ, các vế câu” Trên cơ sở chia kết từ thành hai tiểu loại là liên từ và giới từ, các tác giả quan niệm “giới từ : diễn đạt quan

hệ chính phụ thường dùng để nối định ngữ với danh từ hoặc bổ ngữ gián tiếp với động từ”

15, tr.160 (trong khi liên từ: diễn đạt quan hệ bình đẳng về ngữ pháp hoặc quan hệ liên hợp qua lại về ngữ pháp và ý nghĩa khi nối các vế câu)

“Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” (1997) đã giải thích giới từ là “từ loại có ý

nghĩa phạm trù, đặc trưng là biểu thị quan hệ của đối tượng với đối tượng, hiện tượng, cảnh huống Ý nghĩa này được biểu hiện không phải bằng ý nghĩa từ vựng chân thực của từ mà

bằng những đặc điểm hoạt động của chúng với tư cách là các từ hư chỉ quan hệ Ví dụ: Sách

của tôi; làm việc ở nhà máy” 49, tr.105.

Trong giáo trình “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” (1997) do Bùi Tất Tươm chủ biên,

các tác giả xem “quan hệ từ là những hư từ dùng để nối từ với từ, hoặc nối đoạn câu, câu với nhau Quan hệ từ cũng được dùng để nối những cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn câu” 44, tr.180 Xét theo quan hệ ngữ pháp do quan hệ từ diễn đạt, các tác giả phân quan hệ từ ra làm hai loại: Quan hệ từ bình đẳng và quan hệ từ phụ thuộc; đồng thời nói rõ : các quan hệ từ bình đẳng có tên gọi truyền thống là liên từ; các quan hệ từ phụ thuộc có tên gọi truyền thống là giới từ

Cũng tập thể tác giả này, đến cuốn “Ngữ pháp chức năng tiếng Việt , quyển 2 –Ngữ

đoạn và Từ loại” (2005), dưới sự chủ biên của Cao Xuân Hạo, đã tách giới từ và liên từ ra

thành hai từ loại riêng biệt Ở đây, giới từ được coi là “những từ được dùng để đánh dấu quan hệ chính phụ, tức là cho biết ngữ đoạn đi sau nó là phụ (phụ của câu thì gọi là trạng ngữ, phụ của ngữ danh từ thì gọi là định ngữ, phụ của ngữ vị từ thì gọi là bổ ngữ)” 21, tr.113

Trước đó, trong cuốn “Từ loại tiếng Việt hiện đại” (1999), Lê Biên đã có suy nghĩ

tương tự như Đinh Văn Đức (1986) khi cho rằng “việc tách ra thành giới từ và liên từ thiếu những căn cứ khách quan, vả lại cũng không có tác dụng lớn lao gì cả về lý thuyết và thực tiễn, cho nên để chung một loại từ” Tác giả gọi đó là quan hệ từ; đồng thời xác định quan hệ

Trang 10

từ là những hư từ cú pháp, không có nghĩa sở chỉ, sở biểu, là “những từ có chức năng diễn đạt các mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy” 6,tr.161

Tác giả Hữu Quỳnh, trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” (2001), xác định “quan hệ từ là

những từ chỉ các quan hệ ngữ pháp dùng để nối các thành phần trong câu hay các thành tố trong cụm từ” 36, tr.161.Kết thúc chương quan hệ từ, tác giả chú thích: Ngữ pháp tiếng Việt trước kia chia quan hệ từ thành giới từ (nối các thành tố trong cụm từ) và liên từ (nối các thành tố trong thành phần câu)

Trái lại, Nguyễn Văn Thành với công trình nghiên cứu “Tiếng Việt hiện đại (Từ pháp

học)” (2003) tách giới từ và liên từ ra thành hai từ loại độc lập Đồng thời, tác giả đưa ra

định nghĩa về giới từ như sau:

“Giới từ là những từ trợ nghĩa ngữ pháp, luôn đi trước danh từ, đại từ, số từ, để giới hạn hành động hay sự kiện về địa điểm cụ thể, thời gian cụ thể hoặc biểu thị nguyên nhân, mục đích, đối tượng, phương tiện và cách thức cụ thể diễn ra hành động trong câu”41, tr.476 Qua việc điểm lại các công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt tiêu biểu có đề cập đến giới từ ở các thời kỳ, chúng tôi sơ bộ nhận thấy:

a Có tác giả xem giới từ nói riêng và quan hệ từ (kết từ, từ nối) nói chung là một loại

“hư từ” thuần túy, là từ công cụ, không có ý nghĩa phạm trù, chức năng và không có khả

năng kết hợp với những lớp từ khác Vai trò của giới từ trong cơ cấu ngữ pháp tiếng Việt

được xác định bằng các chức năng liên kết, “xúc tác”, “môi giới, trung gian” nên nó không

có liên quan gì đến cấu tạo và chức năng của các kết cấu cú pháp

Có tác giả thừa nhận tư cách là phương tiện tổ hợp cú pháp của giới từ và xác định

nó có khả năng đảm nhiệm “vai trò chỉ tố đánh dấu ý nghĩa ngữ pháp” cho các thành tố quan

hệ Khi đảm nhận vai trò này, giới từ (và liên từ) không phải là một yếu tố trung gian mà gắn với thành phần được đánh dấu và có tư cách một thành phần trong quan hệ với một thành phần khác

b Trong khi khảo sát và miêu tả đặc điểm chức năng của giới từ tiếng Việt, hầu hết các công trình đều nghiêng về phương diện ngữ pháp; mà ngay ở phương diện này, các tác giả có khi lại có quan niệm rất khác nhau, thậm chí đối lập nhau Trong khi đó, phương diện ngữ nghĩa của giới từ tiếng Việt hầu như chưa được khảo sát và miêu tả có hệ thống mà thường dừng ở chỗ giải nghĩa và nêu cách sử dụng của từng giới từ riêng lẻ

Trang 11

c Khi tiến hành phân định từ loại, giới từ có khi được xem là một loại từ có cương vị ngang hàng với các từ loại khác trong hệ thống từ loại tiếng Việt; có khi chỉ được coi là một tiểu loại cùng với liên từ hợp thành một loại từ được gọi là quan hệ từ hoặc kết từ, từ nối

d Việc vạch ra biên giới của giới từ và liên từ gặp nhiều khó khăn cho nên có tác giả phải đi đến giải pháp trung gian khi cho rằng bên cạnh giới từ và liên từ còn có một tiểu loại nữa là giới từ – liên từ; hoặc gộp giới từ và liên từ thành một từ loại như đã nói ở mục (c) Những nhận xét bước đầu như trên càng chứng tỏ giới từ tiếng Việt là một lớp từ có

“diện mạo” rất đa dạng và phức tạp trong hệ thống từ loại tiếng Việt

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Theo quan sát của chúng tôi, giới từ tiếng Việt: về ngữ pháp, là phương tiện đánh dấu mối quan hệ chính phụ giữa các thành tố trong một ngữ đoạn cho biết thành tố đi sau nó

là phụ; về ngữ nghĩa, là chỉ tố đánh dấu vai nghĩa của các thành phần chức năng có quan hệ trực tiếp với nó trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu Từ đó, chúng tôi xác định lớp từ có những đặc điểm từ loại nêu trên chính là đối tượng nghiên cứu của đề tài

3.2 Trên cơ sở xác định đối tượng nghiên cứu như vậy, trong khuôn khổ một luận văn cao học, đề tài này tập trung khảo sát và miêu tả đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của giới từ trong tiếng Việt hiện đại

4 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Giới từ thuộc vào số đối tượng chưa được giới Việt ngữ học nghiên cứu thật đầy đủ Ngay cả các công trình nghiên cứu trước đây phần lớn thường mới chỉ dừng lại ở việc xem xét chức năng và miêu tả cách sử dụng của từng giới từ riêng lẻ Việc nghiên cứu này là cần thiết Song, theo chúng tôi, cần phải nhìn nhận lớp từ này một cách toàn diện hơn, cần tìm ra những đặc điểm chức năng chung cho cả lớp từ để từ đó làm rõ điểm khác biệt của chúng so với các từ loại khác, giúp cho việc nhận diện, nắm bắt cũng như sử dụng chúng đạt được hiệu quả tốt hơn Đây chính là mục đích nghiên cứu của đề tài này

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Để đạt được mục đích là tìm ra những đặc điểm chức năng có tính chất khái quát của giới từ tiếng Việt, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính sau đây:

Trang 12

 Thứ nhất: Xác định cương vị của giới từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt

 Thứ hai: Tìm ra những tiêu chí nhận diện giới từ tiếng Việt; trên cơ sở đó, lập danh

sách và đề xuất cách phân loại giới từ tiếng Việt

 Thứ ba: Phân tích những đặc điểm chức năng của giới từ tiếng Việt trên cơ sở thừa

nhận sự hiện diện của giới ngữ trong cơ cấu ngữ pháp tiếng Việt Cụ thể là khảo sát và miêu

tả vai trò xác lập quan hệ ngữ nghĩa – ngữ pháp, khả năng tham gia cấu tạo nghĩa cho ngữ đoạn và chức năng đánh dấu vai nghĩa của giới từ tiếng Việt (Đây là nhiệm vụ trọng tâm) Như vậy, việc nghiên cứu giới từ tiếng Việt theo nhiệm vụ đặt ra sẽ có những đóng góp nhất định cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Về phương pháp luận, chúng tôi tuân thủ quan niệm: coi ngôn ngữ là công cụ giao tiếp đồng thời là công cụ tư duy; ngôn ngữ là một hệ thống, các yếu tố tạo nên nó có quan hệ khắng khít với nhau, hai mặt của ngôn ngữ – ý nghĩa và hình thức – gắn bó với nhau Coi trọng đặc điểm riêng của tiếng Việt và xuất phát từ thực tiễn của tiếng Việt, đồng thời coi trọng tính hệ thống của ngữ pháp tiếng Việt nhằm tránh suy luận không có căn cứ hoặc dựa vào sự kiện rời rạc

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, ngoài những phương pháp nghiên cứu khoa học chung, đề tài này sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích ngôn ngữ để làm rõ những đặc trưng ngữ nghĩa – ngữ pháp của giới từ tiếng Việt Từ kết quả của việc phân tích đó, chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu ngôn ngữ để thấy được đặc điểm chức năng của giới từ so với các từ loại khác trong tiếng Việt Đồng thời, chúng tôi còn sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp thống kê để phục vụ cho việc phân tích và lập danh sách giới từ tiếng Việt

7 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Chúng tôi nghĩ rằng: ngoài những đặc điểm ngữ pháp đã được các công trình nghiên cứu trước đây miêu tả, giới từ tiếng Việt còn có những đặc trưng riêng về ngữ nghĩa Cho

Trang 13

nên, nếu chỉ dừng lại ở những nhận xét từ bình diện ngữ pháp thì rất dễ đi vào mơ tả các đặc điểm phân bố và khĩ vượt ra khỏi việc chỉ tìm vai trị của lớp từ này đối với sự hình thành các kết cấu ngữ pháp Vì thế, để làm rõ bản chất từ loại của giới từ, đề tài này, bên cạnh việc

hệ thống hĩa các đặc điểm ngữ pháp của giới từ tiếng Việt, cịn đặc biệt chú ý đến việc miêu

tả đặc điểm ngữ nghĩa chức năng của nĩ Đây chính là phần đĩng gĩp khiêm tốn của người thực hiện luận văn

8 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Luận văn cĩ 157 trang (Chính văn: 125 trang, Tài liệu tham khảo: 6 trang, Phụ lục: 26 trang)

Ngồi phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung của luận văn gồm 2 chương

Chương 1: Một số vấn đề chung về giới từ tiếng Việt

Ở chương này, chúng tơi trình bày khái niệm giới từ trong Việt ngữ học; đặc điểm

từ loại và tiêu chí nhận diện giới từ tiếng Việt; phân biệt giới từ với từ chỉ hướng, danh từ vị trí Từ đĩ, lập danh sách và đề xuất cách phân loại giới từ tiếng Việt

Nội dung chương này là cơ sở để giải quyết những vấn đề được đặt ra ở chương 2

Chương 2 : Đặc điểm chức năng của giới từ tiếng Việt

Trong chương này, trên cơ sở phân tích chức năng, cách sử dụng của một số giới từ tiêu biểu trong tiếng Việt hiện đại, chúng tơi miêu tả đặc điểm chức năng của giới từ tiếng Việt bằng việc chỉ ra những khả năng mà nĩ cĩ thể thực hiện ở hai bình diện : ngữ pháp và ngữ nghĩa

Nội dung chương này là trọng tâm của luận văn

Trang 14

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIỚI TỪ TIẾNG VIỆT

1.1 Khái niệm giới từ

Thuật ngữ giới từ đã được một số tác giả sử dụng trong nhiều công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt như đã nêu Điều đáng chú ý là thuật ngữ này được dùng theo những nghĩa khác nhau Để tránh nhầm lẫn nội dung khái niệm và để xác định phạm vi khái niệm

trong khi sử dụng, dưới đây chúng tôi tạm thời phân ra các “nghĩa” của thuật ngữ này ở hai

Trang 15

1.1.1.2 Nghĩa thứ hai :

Giới từ là những từ có nhiệm vụ “liên kết các từ với nhau hoặc các vế trong câu”,

“diễn đạt mối quan hệ giữa các thực từ, các vế câu, dùng để nối các từ, các kết hợp từ, các câu và đoạn văn có quan hệ với nhau”; tức là “cũng được dùng để nối những cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn câu”

Tiêu biểu cho quan niệm này là Diệp Quang Ban, Bùi Tất Tươm – Hoàng Xuân Tâm – Nguyễn Văn Bằng, Hoàng Văn Thung Theo nghĩa này, giới từ có thể dùng để nối các thành tố trong một cụm từ, các vế trong một câu, các câu trong một đoạn Như vậy, ở trường hợp này giới từ không được phân biệt với liên từ về mặt chức năng và quan hệ ngữ pháp bởi

vì giới từ cùng với lớp từ thường được ngữ pháp truyền thống gọi là “liên từ phụ thuộc” nhập thành một loại, được gọi chung là quan hệ từ chính phụ, kết từ chính phụ, từ nối chính phụ

1.1.2 Bình diện ngữ nghĩa

1.1.2.1 Nghĩa thứ nhất :

Giới từ là một loại hư từ cú pháp, “không có nghĩa sở chỉ, sở biểu” mà chỉ là những

từ chức năng dùng để “diễn đạt các mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy”, “chỉ sự tương quan giữa ý nghĩa của hai từ ngữ và hai mệnh đề” Đây là quan niệm của Bùi Đức Tịnh, Đinh Văn Đức và Lê Biên Theo nghĩa này, giới từ không có ý nghĩa từ vựng

1.1.2.2 Nghĩa thứ hai :

Giới từ là “những từ trợ nghĩa ngữ pháp để giới hạn hành động hay sự kiện về địa điểm cụ thể, thời gian cụ thể hoặc biểu thị nguyên nhân, mục đích, đối tượng, phương tiện và cách thức cụ thể diễn ra hành động trong câu” Đây là quan niệm của Nguyễn Văn Thành Tác giả đã dẫn ý kiến của nhà ngôn ngữ học người Nga A.A Reformatskij để thừa nhận rằng : các từ trợ nghĩa (trong đó có giới từ) là những từ mà “ý nghĩa từ vựng của chúng trùng với

ý nghĩa ngữ pháp của chúng chức năng ngữ pháp trong các từ trợ nghĩa ngữ pháp đã hàm chứa bản chất từ vựng của chúng” 41, tr.93

Cần nói thêm là, Nguyễn Văn Thành không chấp nhận các khái niệm thực từ, hư từ

mà quan niệm hệ thống từ loại tiếng Việt bao gồm hai mảng lớn là các từ đủ nghĩa và các từ trợ nghĩa

Trang 16

Rõ ràng, quan niệm về nghĩa của thuật ngữ giới từ rất khác nhau Có thể tạm thời rút

ra một số nhận xét như sau:

a Về mặt ngữ pháp:

Các tác giả một cách không tường minh đã cho rằng giới từ không có khả năng đảm nhận bất kỳ chức vụ cú pháp gì ở trong câu, không độc lập hành chức mà chỉ có vai trò

“nối”, “liên kết” các kiểu cấu trúc ngữ pháp Giới từ dùng để biểu thị quan hệ chính phụ giữa

các thành tố hoặc ở bậc cụm từ hoặc ở cả bậc câu Sự khác nhau của từng quan niệm là do các tác giả mở rộng hay thu hẹp chức năng biểu thị quan hệ chính phụ của giới từ Điều này tất yếu đưa đến hệ quả: có tác giả xem giới từ là một loại từ loại độc lập, đối lập với liên từ

về mặt quan hệ ngữ pháp: giới từ biểu thị quan hệ chính phụ, còn liên từ biểu thị quan hệ đẳng lập bất kể kết cấu ngữ pháp mà chúng tham gia là ngữ đoạn (cụm từ) hay câu Có tác giả chỉ coi giới từ là một tiểu loại của quan hệ từ, khác biệt với liên từ về mặt chức năng (giới từ chỉ dùng để nối các thành tố trong một ngữ đoạn còn liên từ có thể dùng để nối các

thành tố trong một ngữ đoạn, các vế trong câu, các câu) và một phần nào đó “đồng chất” với

liên từ về mặt quan hệ ngữ pháp (trong tương quan với liên từ phụ thuộc – là liên từ nhưng biểu thị quan hệ chính phụ)

b Về mặt ngữ nghĩa:

Các nghĩa nêu trên hoàn toàn đối lập nhau: nghĩa thứ nhất khẳng định giới từ không

có ý nghĩa từ vựng Nghĩa thứ hai thừa nhận sự tồn tại (một cách ngầm ẩn) ý nghĩa từ vựng của giới từ, cho ý nghĩa từ vựng của giới từ trùng với ý nghĩa ngữ pháp của nó

Trong đề tài này, thuật ngữ giới từ được hiểu theo nghĩa như sau: Giới từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng, dùng để biểu thị quan hệ chính phụ trong một ngữ đoạn (từ tổ, cụm từ) và / hoặc dẫn nhập thành phần phụ (trạng ngữ) trong cấu trúc cú pháp của câu

Thuật ngữ giới từ (preposition) được dùng theo quan niệm là từ thường đứng trước danh ngữ, động ngữ, đại từ để báo trước một bổ ngữ Cách hiểu này là theo đặc điểm của các ngôn ngữ dùng trật tự S-V-O như tiếng Việt Trong khi đó, ở một số ngôn ngữ khác như tiếng Nhật, tiếng Thổ, vị trí của lớp từ này có chức năng tương tự nhưng thường đứng sau danh từ nên được gọi là hậu trí từ (postposition)

1.2 Cương vị của giới từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt

Trang 17

1.2.1 Nhìn chung, trong các sách viết về ngữ pháp tiếng Việt từ trước đến nay đều có một

phần dành riêng cho vấn đề từ loại tiếng Việt Chẳng hạn, ở giai đoạn đầu, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm [23] phân định vốn từ tiếng Việt thành 13 loại: danh từ, mạo từ, loại từ, chỉ định từ, đại danh từ, tính từ, động từ, trạng từ, giới từ, liên từ, tán thán từ, trợ ngữ

từ, từ đệm Bùi Đức Tịnh 43 phân các “tự ngữ” thành 8 từ loại: danh từ, đại từ, trạng từ,

động từ, phó từ, liên từ, giới từ và giới ngữ, hiệu từ Ở giai đoạn này, tuy các tác giả không đưa ra những cơ sở để phân định từ loại nhưng có thể thấy bình diện ngữ nghĩa của từ đã được sử dụng ở một mức độ nhất định để làm cơ sở phân chia từ loại Trong quan niệm của các tác giả này, giới từ được tách thành một từ loại riêng, phân biệt với các từ loại khác

Ở các công trình về sau, vấn đề phân định từ loại đã được xem xét một cách kỹ lưỡng

và khoa học hơn Các tác giả đã căn cứ cả vào mặt ý nghĩa lẫn mặt ngữ pháp của từ để phân chia từ loại tiếng Việt Nhìn chung, đa số các tác giả trước hết đều phân vốn từ tiếng Việt thành hai loại lớn: thực từ và hư từ Theo cách hiểu phổ biến, thực từ là những từ có nghĩa thực (hoặc nghĩa từ vựng) về sự vật, hiện tượng; là loại nghĩa mà nhờ nó, có thể làm được sự liên hệ giữa từ với sự vật, hiện tượng nhất định; còn hư từ là những từ có nghĩa hư, loại nghĩa mà không thể nhờ nó làm sự liên hệ với sự vật, hiện tượng; cho nên khi nói đến nghĩa

hư là nói đến vai trò ngữ pháp của hư từ

Cần nói thêm rằng, bên cạnh việc phân chia như vậy, một số tác giả còn phân từ vốn

từ tiếng Việt ra một lớp từ khác độc lập so với thực từ và hư từ Đó là lớp từ biểu thị mối quan hệ của người nói với nội dung phát ngôn và quan hệ của phát ngôn với thực tại Lớp từ

đó Nguyễn Kim Thản gọi là ngữ thái từ, Đinh Văn Đức gọi là tình thái từ

Vậy, giới từ – đối tượng khảo sát của đề tài này – nằm ở vị trí nào trong các cách phân loại nói trên ?

1.2.2 Trước hết, nói về cơ sở phân định từ loại: Theo suy nghĩ của chúng tôi, trong số các quan niệm về từ loại như đã nêu ở trên, Đinh Văn Đức là người đã đề ra những tiêu chuẩn để phân định từ loại rõ ràng hơn cả Theo tác giả này, vốn từ tiếng Việt được phân chia thành các từ loại là căn cứ vào một tập hợp các tiêu chuẩn sau :

a Tiêu chuẩn ý nghĩa:

Trong cách xem xét bản chất ý nghĩa của từ loại, Đinh Văn Đức cho rằng ý nghĩa từ loại là ý nghĩa khái quát, trong đó có sự thống nhất giữa các yếu tố từ vựng và yếu tố ngữ

Trang 18

pháp, nói một cách khác, đó là ý nghĩa từ vựng – ngữ pháp Tác giả nói rõ thêm : “Yếu tố từ vựng, có mặt trong ý nghĩa từ loại là do chức năng phản ánh thực tại của các khái niệm Ý nghĩa sự vật của danh từ, ý nghĩa vận động của động từ, ý nghĩa tính chất của tính từ là những ý nghĩa phạm trù vì có tính chất khái quát hóa cao, nhưng đó lại là kết quả của một quá trình trừu tượng hóa hàng loạt cái cụ thể ( ), ý nghĩa khái quát trở thành nòng cốt của ý nghĩa từ loại” 15, tr.34

b Tiêu chuẩn khả năng kết hợp:

Xét đến mối quan hệ của từ với từ trong ngữ lưu, Đinh Văn Đức cho rằng : đối với tiếng Việt, bản chất của khả năng kết hợp từ là sự phân bố các vị trí trong bối cảnh Trong khi áp dụng tiêu chuẩn này, Đinh Văn Đức đã sử dụng khái niệm đoản ngữ do Nguyễn Tài Cẩn đề xuất để mô tả, nhận xét

c Tiêu chuẩn chức vụ cú pháp:

Xét đến chức năng của từ trong câu, theo Đinh Văn Đức, đây là một tiêu chuẩn đã được nhiều tác giả sử dụng đồng thời với khả năng kết hợp của từ để tạo thành một cơ sở

chung cho sự phân định từ loại dưới tên gọi “đặc trưng phân bố”

Căn cứ vào một tập hợp tiêu chuẩn nói trên, Đinh Văn Đức đã vạch ra các đối lập trong nội bộ kho từ vựng tiếng Việt, hình thành nên các tập hợp lớn, các tập hợp nhỏ (các từ loại) và các tập hợp nhỏ hơn (các tiểu loại trong nội bộ một từ loại) Theo đó, vốn từ tiếng Việt được phân thành ba tập hợp lớn:

– Thực từ – Hư từ – Tình thái từ

 Thực từ gồm các từ loại: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ

 Hư từ gồm các từ loại: từ phụ, từ nối

 Tình thái từ gồm các từ loại: tiểu từ, trợ từ 16, tr.42 - 44

Đến phần phân chia các từ loại trong tập hợp hư từ, Đinh Văn Đức xác định hư từ tiếng Việt bao gồm hai tập hợp: Thứ nhất là các hư từ làm từ phụ diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp của thực từ, một số đạt tới khả năng làm công cụ ngữ pháp gần giống các hư từ của dạng thức phân tích tính trong ngôn ngữ Ấn – Âu hoặc các phụ tố Thứ hai là các hư từ với chức năng liên kết có thể tạm gọi là hư từ cú pháp (quan hệ từ) truyền thống vẫn gọi là liên

Trang 19

từ và giới từ Ở phần trình bày cụ thể về quan hệ từ, Đinh Văn Đức cho rằng: so với các ngôn ngữ châu Âu, việc tìm một ranh giới triệt để giữa liên từ và giới từ trong tiếng Việt là khó, do tính chất đa chức năng của các yếu tố Các chỉ tố quan hệ mang tính chất nửa liên từ nửa giới từ khó đạt được một giải pháp thỏa đáng theo hướng liên từ hoặc giới từ Do vậy, tác giả đã xếp tất cả các hư từ cú pháp vào trong một phạm trù chung là quan hệ từ Từ đó, phân chia quan hệ từ thành các tiểu loại:

– Các liên từ thuần túy – Các giới từ thuần túy – Các liên – giới từ

1.2.3 Đối với vấn đề phân định từ loại, chúng tôi có ý kiến như sau:

Về cơ bản, chúng tôi tán thành cách phân loại từ loại của Đinh Văn Đức: chia vốn từ tiếng Việt ra thành ba tập hợp lớn (thực từ, hư từ, tình thái từ)

Riêng việc phân chia các từ loại trong tập hợp hư từ và các tiểu loại trong quan hệ từ, chúng tôi có quan niệm khác Đinh Văn Đức

Việc xem giới từ và liên từ chỉ là tiểu loại của từ loại quan hệ từ là không thỏa đáng

Dù rằng việc vạch ra một đường ranh giới giữa giới từ và liên từ trong tiếng Việt không phải

là đơn giản nhưng gộp chúng vào cùng một phạm trù chung “chỉ là một thủ thuật nhằm gạt

bỏ vấn đề chứ không phải có tác dụng giải quyết vấn đề”  2, tr.149

Theo các nhà nghiên cứu, giới từ và liên từ có những đặc điểm giống nhau: Cả hai đều là loại từ chuyên làm phương tiện tổ hợp cú pháp

Như đã biết, khi thông báo, giao tiếp với nhau, người ta phải dùng từ đặt thành câu Trong câu có nhiều bộ phận, nhiều thành phần khác nhau Mối quan hệ về mặt ngữ pháp giữa các bộ phận, các thành phần được gọi là quan hệ ngữ pháp Theo đó, chức năng của giới

từ và liên từ là nối các bộ phận, các thành phần có quan hệ ngữ pháp với nhau Ví dụ:

Trang 20

Ở ví dụ (a), (c), giới từ “của”, “tại” biểu thị quan hệ chính phụ giữa hai bộ phận

“sách – tôi”, “làm việc – nhà”, còn ở ví dụ (b), (d), liên từ “với”, “và” biểu thị quan hệ đẳng lập (liên hợp, song song) giữa hai bộ phận “sách – vở”, “làm việc - giải trí”

Mặt khác, xu hướng gắn kết với các thành phần, các bộ phận trong tổ hợp của giới từ

và liên từ cũng rất khác nhau Liên từ không có xu hướng gắn chặt với thành phần, bộ phận nào trong tổ hợp có sự hiện diện của nó Còn giới từ lại có xu hướng gắn kết với thành phần,

bộ phận đi liền sau nó tạo thành một đơn vị chức năng Do vậy, trong các công trình nghiên

cứu ngữ pháp tiếng Việt, vấn đề “liên ngữ” hầu như không được đặt ra còn đơn vị chức năng thường gọi là “giới ngữ” đã được hầu hết các nhà nghiên cứu Việt ngữ đề cập đến Liên

quan đến vấn đề này, A.I.Smirnitsky đã có nhận xét khá thú vị : “Thậm chí người ta có thể nói rằng bản thân sự tồn tại một từ loại nhất định là căn cứ vào chỗ những từ trong từ loại này được dùng một cách đều đặn ở chức năng một thành phần nhất định của câu” (dẫn theo

[8, tr.123]) (Diệp Quang Ban (1993) có dùng khái niệm “Liên ngữ” nhưng với một nghĩa

khác Theo ông, liên ngữ thường đứng đầu câu, tuy nhiên cũng có khi liên ngữ đứng sau chủ ngữ, được dùng để nối ý câu chứa nó với ý của câu đứng trước hoặc đứng sau câu ấy, với ý

cả cụm gồm nhiều câu đứng trước hoặc đứng sau câu ấy Đây chính là thành phần chuyển tiếp của câu)

Hơn nữa, về mặt ngữ nghĩa chức năng, liên từ chỉ thuần túy là từ công cụ, không có khả năng chỉ ra vai nghĩa của các thành phần chức năng trong các kết cấu ngữ pháp Còn khả năng này của giới từ lại rất tường minh

Về sự hiện diện của giới ngữ trong cơ cấu ngữ pháp tiếng Việt và vai trò của giới từ trong việc xác định vai nghĩa các thành phần chức năng hữu quan, chúng tôi sẽ bàn kỹ trong chương 2

Từ những lý do cơ bản như trên, trong luận văn này, chúng tôi xem giới từ và liên từ

là từ loại độc lập có cương vị ngang hàng với các từ loại khác trong hệ thống từ loại tiếng Việt

1.3 Tieâu chí nhận diện và danh sách giới từ tiếng Việt

1.3.1 Con đường hình thành giới từ tiếng Việt

Hiện nay, khi bàn về sự hình thành giới từ trong tiếng Việt vẫn chưa có sự thống nhất ý kiến giữa các nhà nghiên cứu Có thể chia thành hai quan điểm như sau :

Trang 21

 Quan ñieåm 1:Quan điểm này cho rằng con đường phổ biến nhất và đặc trưng nhất để tạo nên từ nói chung, giới từ nói riêng là con đường chuyển loại, tức là một từ có thể được sử dụng ở nhiều từ loại khác nhau Lập luận của những người theo quan điểm này là : trong tiếng Việt không có hình thái học của từ như trong các ngôn ngữ châu Âu cho nên việc chuyển một từ vốn mang ý nghĩa của từ loại này sang biểu thị ý nghĩa của một từ loại khác là điều tất yếu

 Quan ñieåm 2 :Quan điểm này cho rằng cơ chế hình thành giới từ tiếng Việt là thông qua quá trình ngữ pháp hóa các thực từ Theo quan điểm này, hầu hết các giới từ tiếng Việt là những thực từ được ngữ pháp hóa mà thành Chúng vốn là những vị từ ngoại động

(đến, tới, ra, vào, lên, xuống, qua, về, ở, cho…) hay danh từ (của, trên, dưới, trong, ngoài,

trước, sau…) được chuyển sang dùng như giới từ mà không hề kèm theo một quá trình

chuyển hẳn từ loại

1.3.2 Tiêu chí nhận diện giới từ tiếng Việt

Tiếp thu thành tựu của các công trình nghiên cứu đi trước, cùng với việc phân tích trên ngữ liệu (thể hiện ở những phần sau), chúng tôi đề xuất một số tiêu chí nhận diện giới từ tiếng Việt như sau :

 Đặc điểm ngữ pháp :

– Không độc lập đảm nhận chức vụ cú pháp trong câu, không có khả năng tạo thành câu độc lập;

– Không sử dụng một mình để trả lời cho câu hỏi;

– Không có khả năng thay thế các từ nghi vấn, không thể dùng từ nghi vấn để thay thế;

– Biểu thị quan hệ chính phụ giữa các thành tố trong một ngữ đoạn;

– Có khả năng dẫn nhập một ngữ đoạn để tạo nên một đơn vị chức năng được gọi là giới ngữ

 Đặc điểm ngữ nghĩa chức năng :

– Không có ý nghĩa từ vựng nhưng có ý nghĩa ngữ pháp

Trang 22

– Đóng vai trò là chỉ tố đánh dấu vai nghĩa của một số thành phần chức năng có quan

hệ trực tiếp với nó

Ví dụ: Xét từ “vì”

+ “Vì” không độc lập đảm nhận bất kỳ chức vụ cú pháp gì trong câu, cũng không một

mình tạo câu dù là câu tỉnh lược hay câu đặc biệt và đương nhiên không được sử dụng để trả lời cho câu hỏi

+ “Vì” không gọi tên sự vật, hành động, tính chất tức là không có nghĩa từ vựng nhưng

“vì” có mang ý nghĩa ngữ pháp Ví dụ :

a Chết vì tai nạn ( vì biểu thị ý nghĩa quan hệ nguyên nhân giữa chết và tai nạn)

b Hy sinh vì tổ quốc ( vì biểu thị ý nghĩa quan hệ mục đích giữa hy sinh và tổ quốc)

+ “Vì” dùng để biểu thị quan hệ chính phụ giữa hai thực từ : “khổ vì con”(khổ là thành

tố chính, con là thành tố phụ); hoặc dẫn nhập một ngữ đoạn thực từ tạo thành một đơn vị

chức năng, đảm nhận một chức vụ cú pháp nhất định trong câu.Ví dụ :

a Vì mưa, nó không thể đến trường ( Vì mưa là trạng ngữ)

b Nó thi rớt là vì anh (vì anh là vị ngữ)

+ “Vì” có khả năng đánh dấu vai nghĩa của danh ngữ hữu quan.Ví dụ:

a Nó nghỉ vì bệnh (bệnh đóng vai Nguyên nhân)

b Chúng ta học tập vì ngày mai (ngày mai đóng vai Mục đích)

c Anh ấy gắng sức vì cô ta (cô ta đóng vai Người hưởng lợi)

“Vì” thỏa mãn những tiêu chí nhận diện giới từ cho nên có thể kết luận “vì” là một giới

từ

1.3.3 Phân biệt giới từ với từ chỉ hướng

Đến đây, chúng tôi nghĩ rằng cần tiếp tục làm rõ đặc điểm của giới từ trên cơ sở phân biệt vai trò, tác dụng của giới từ với những từ thường được gọi là từ chỉ hướng, phó động từ

phương hướng, trạng từ chỉ hướng Cụ thể đó là những từ như : ra, vào, lên, xuống, về

Trong tiếng Việt hiện đại, nhóm từ này là một trong những nhóm từ được nhiều nhà Việt ngữ học quan tâm Tuy nhiên, hiện vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về nhóm từ này và việc phân biệt từ chỉ hướng vận động với giới từ

Trang 23

Lê Văn Lý coi những từ này là những hư từ làm công cụ ngữ pháp của động từ chính, dùng để biểu thị ý nghĩa về phương hướng “Đó là những động từ hao mòn, khi chúng là động từ, chúng đều chỉ vận động cho nên khi chúng là hư từ, chúng tôi gọi là từ chỉ hướng”

27, tr.215

Trong một số sách ngữ pháp dùng trong nhà trường trước đây, đối với các trường hợp

kể trên, các tác giả thống nhất với quan điểm của Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm, Bùi

Kỷ trong Việt Nam văn phạm (1940) cho rằng nếu không có bổ ngữ thì “ra, vào, lên,

xuống” là trạng từ, nếu có bổ ngữ thì chúng là giới từ 23, tr.97- 99 Chẳng hạn, Dương

Thanh Bình căn cứ vào sự có mặt hay vắng mặt của bổ ngữ để xác định đặc điểm của loại từ đứng sau (từ chỉ hướng vận động) : Khi có bổ ngữ đứng sau thì từ chỉ hướng vận động có thể trở thành giới từ và khi không có bổ ngữ thì nó trở thành tiểu từ (particle)

Liên quan đến mối quan hệ với thành tố trước và thành tố sau của những từ “ra, vào,

lên, xuống …”, Nguyễn Tài Cẩn trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” đã nêu lên khá đầy đủ

mức độ phức tạp của những từ chỉ hướng vận động Theo tác giả, khi những từ này kết hợp với động từ hoặc danh từ đứng trước và danh từ đứng sau thì có khả năng xảy ra những trường hợp sau:

- Xu thế kết dính với danh từ đứng sau và động từ đứng trước là ngang nhau Ví dụ:

Nguyễn Kim Thản thì cho rằng “ra, vào, lên, xuống, sang, qua, về, lại, đến” không còn

đầy đủ những đặc điểm ngữ pháp của động từ, cũng không phải là từ cùng loại hay từ thứ yếu trong cụm từ Chúng đã trở thành công cụ ngữ pháp biểu thị phương hướng của hành động đi trước là phó động từ phương hướng 40, tr.74-75 Tuy vậy, Nguyễn Thị Quy

trong công trình “Vị từ hành động” (1995) đã chứng minh tính vô lý của công thức “(đổ lên)

+ đầu” của Nguyễn Kim Thản bằng những trường hợp mà ý nghĩa hướng được chứa sẵn

trong những vị từ (động từ) như đổ, trút, rơi, dẫm vốn chỉ có thể là hướng xuống; thành ra

“đổ lên đầu”, “trút lên vai”, “dẫm lên sàn” đồng nghĩa với “đổ xuống đầu”, “trút xuống vai”,

Trang 24

“dẫm xuống sàn” Do đó phải thay công thức trên bằng công thức “đổ + (lên đầu)” nghĩa là phải thấy “lên” không phải là trạng ngữ chỉ hướng (vì hướng là xuống) mà là giới từ chỉ

đích

Trong công trình nghiên cứu “Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại”,

Đinh Văn Đức chủ trương coi nhóm từ chỉ hướng là những yếu tố ngữ pháp đa chức năng Ngoài trường hợp chúng hoạt động như một động từ, các trường hợp khác có thể gặp là:

a Xuất hiện trong cấu trúc ngữ động từ với t ö cách là từ phụ chỉ hướng (bước ra,

chui ra) hoặc chỉ kết quả (tìm ra, nhận ra ) làm thành tố phụ cho trung tâm

b Xuất hiện sau động từ và trước một danh từ có quan hệ với động từ đó (bước vào lớp, bám vào cây) Lúc đó, các từ này không hoàn toàn còn là từ phụ nữa mà đã có thêm mối

quan hệ với danh từ đứng sau, “đã có một chức năng khá gần gũi với chức năng giới từ truyền thống” 16, tr.181

Nguyễn Văn Thành 41 xử lý nhóm từ này là trường hợp chuyển từ loại của các động từ chuyển động thành trạng từ chỉ phương hướng của hành động Theo tác giả, khi ghép các từ nói trên với các động từ khác thì các “động từ chuyển động” đi trước chỉ rõ quá trình vận động còn các từ đi sau chỉ biểu thị phương hướng của chuyển động mà thôi Tác

giả cho rằng ý nghĩa từ vựng của các từ “ra, vào, lên, xuống, tới, qua, về” ở đây không hề

giảm xuống hay yếu; do vậy không coi những từ này là những công cụ ngữ pháp biểu thị phương hướng của hành động đi trước bởi vì số lượng các động từ mà các “từ chỉ hướng” có thể ghép vào sau chúng rất hạn hẹp và cũng không đồng nhất Từ đó, tác giả đề nghị : trong

trường hợp không có các danh từ đi sau ta có thể coi các “từ chỉ phương hướng” là trạng từ;

còn trong trường hợp có danh từ đi theo sau thì cần phải xử lý các từ chỉ phương hướng là những giới từ

Tác giả Nguyễn Lai trong cuốn “Nhóm từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt” cho

rằng “từ chỉ hướng mang hướng cụ thể của sự vận động không gian nhưng không mang một phương thức vận động xác định” 24, tr.64 Ông lập luận rằng vì chưa mang phương thức vận động xác định nên từ chỉ hướng vận động có thể đứng sau một động từ mang phương thức vận động xác định để bổ sung hướng hoạt động cho động từ ấy Ông cũng nói rõ “nó cũng có thể dùng độc lập như động từ Khi dùng độc lập như động từ thì những từ chỉ hướng vận động biểu thị hoạt động hướng không gian; và hướng không gian này là hướng có giới

Trang 25

hạn Khi đứng sau động từ chính từ chỉ hướng vận động nói trên – ngoài phạm vi hoạt động không gian – có thể tùy theo tính chất kết hợp mà nó còn biểu hiện những sắc thái trừu tượng khác, không còn ý nghĩa không gian” 24, tr.64-65

Hầu hết các tác giả chưa nêu một cách đầy đủ sự phân biệt những trường hợp sử dụng khác nhau của các từ chỉ hướng mà chỉ nhập làm một rồi đưa ra cách giải quyết chung trong khi mỗi một từ cụ thể trong nhóm từ này có những đặc trưng ngữ pháp - ngữ nghĩa không

phải bao giờ cũng như nhau Các từ ra, vào, lên, xuống có nguồn gốc từ động từ là điều ai

cũng thừa nhận Do vậy, để xác định bản chất từ loại của các từ này thì cần đặt chúng trong quan hệ ngữ nghĩa với động từ sinh ra chúng để thấy được đặc trưng ngữ pháp - ngữ nghĩa của các từ trong nhóm này Đồng thời, trên cơ sở phân biệt vai trò, chức năng của x trong cấu trúc (AxB ) (A là một động từ, B là một danh từ hoặc một đại từ, x là một hư từ) đưa ra một số tiêu chí khu biệt giới từ - với tư cách là một loại hư từ cú pháp - với từ chỉ hướng - các hư từ phi cú pháp - trong cấu trúc đã nêu

Về mặt ngữ nghĩa, chúng ta nhận thấy :

a x được thành lập từ động từ không gian - chỉ hướng Do đó “ý nghĩa từ vựng” của x

không đứt đoạn với ý nghĩa từ vựng của động từ sinh ra nó Ở một x nào đó có thể tồn tại

một trong những nét nghĩa tạo nên “ý nghĩa” của nó như sau:

+ Quan niệm về sự di chuyển của hành động theo hướng thẳng đứng;

+ Quan niệm của người Việt Nam về hướng của các vùng được phân bố trên lãnh thổ Việt Nam;

+ Quan niệm của người Việt Nam về cấp bậc hành chính trong hệ thống hành chính của Việt Nam;

+ Quan niệm về hướng phát triển của quá trình hành động

b Quá trình ngữ pháp hóa của hàng loạt hư từ x xảy ra phụ thuộc vào ý nghĩa của toàn

câu Chính vì đặc trưng ngữ nghĩa của những thực từ bao quanh hư từ x, đặc biệt là ý nghĩa của động từ - vị ngữ trong câu tác động mạnh mẽ đến quá trình ngữ pháp hóa của x nên có thể nghiên cứu quá trình ngữ pháp hóa này qua ngữ nghĩa - cấu trúc của động từ - vị ngữ Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy tình hình như sau:

Trang 26

– Có một số động từ chuyển động có thể kết hợp với x để biểu đạt hướng chuyển động chính xác của hành động Ví dụ:

a Chạy về nhà

b Bước ra vườn

c Đi lên đồi

d Nhảy xuống mương

– Có một số động từ vốn đã có nét nghĩa về “hướng” (như Nguyễn Thị Quy đã

chứng minh) trong ý nghĩa từ vựng của mình khi kết hợp với x nét nghĩa về hướng được hiển

lộ Ví dụ:

a Phát ra hồ sơ

b Sáng tạo ra nhiều tác phẩm

c Mở ra một con đường

d Thêm vào hai nhân khẩu

e Thu vào hai công nhân

– Có một số động từ không hàm chứa nét nghĩa về hướng nhưng khi kết hợp với x, chúng biểu đạt hướng của hành động theo cách quan niệm của người bản ngữ về vị trí giữa các vùng lãnh thổ đã phân bố trên lãnh thổ Việt Nam Ví dụ:

a Chuyển vào Sài Gòn một lô hàng

b Gởi ra Hà Nội hai chiếc xe

c Đưa xuống Cà Mau một số thuyền

– Có một số động từ kết hợp với x chỉ đơn giản biểu đạt mối quan hệ cú pháp giữa động từ đứng trước x và danh từ hoặc đại từ đứng sau nó Ví dụ:

a Nói về vấn đề dân chủ

b Hiểu về ngôn ngữ

c Bàn đến hiện tượng chuyển loại từ

Từ tình hình trên, chúng tôi nghĩ rằng : khi muốn xác định từ loại của những từ ra, vào,

lên, xuống … cần phải dựa vào ý nghĩa của động từ trung tâm bởi lẽ ý nghĩa của động từ

trung tâm quy định chức năng của các từ này Chẳng hạn như các trường hợp sau :

Trang 27

1 Một số động từ chỉ sự chuyển động như chạy, bay, bước, bị; chỉ những hành động gây nên như đẩy, dắt, ném, phun, rĩt … vốn khơng mang ý nghĩa hướng Khi muốn thể hiện

hướng của hành động thì người ta dùng những động từ chỉ hướng làm trạng ngữ chỉ hướng Trường hợp này cần xử lý những từ muốn xác định là từ chỉ hướng di chuyển của hành động

2 Riêng từ “ra” được dùng làm trạng ngữ cho những động từ chỉ những hành động nhằm đạt đến những hiệu quả như “tìm, kiếm, chạy (với ý nghĩa kiếm), nghĩ, nghiên cứu, chế

tạo Cĩ thể xem đây là từ chỉ hướng kết quả của hành động

3 Cĩ những động từ gây “chuyển động” mà nghĩa nội tại của nĩ bao gồm cả kết quả như dắt, ném, thả, đè, nâng …Với những động từ này, các từ ra, vào, lên, xuống chỉ biểu thị

hướng chuyển động của đối tượng mà thơi Nhưng lại cĩ những động từ gây “chuyển động”

khơng bao hàm kết quả như rút, đút, đẩy, moi, nhét … Với những động từ này, những từ “ra,

vào, lên, xuống …” vừa chỉ kết quả vừa chỉ hướng và do đĩ cĩ những thuộc tính cú pháp

tương đồng với cả trường hợp (1) và (2) nêu trên So sánh (1), (2), (3):

– dắt ngựa ra (+) tìm bạn ra (–) moi sạn ra (+)

– dắt ra ngựa (–) tìm ra bạn (+) moi ra sạn (+)

– dắt khơng ra (–) tìm khơng ra (+) moi khơng ra (+)

Ở trường hợp này, những từ nêu trên có thể xử lý như là những từ chỉ hướng chuyển động và kết quả của hành động

4 Một số động từ di chuyển như rơi, dẫm, rắc, đổ, trút … lại địi hỏi từ đi sau nĩ là

từ chỉ đích chứ khơng chỉ hướng vì hướng di chuyển của những động từ này vốn là xuống Chẳng hạn từ “lên” trong các ngữ đoạn như rơi lên đầu, dẫm lên chân bạn, trút lên vai, đổ

lên người … được dùng để chỉ đích Do vậy, cần xem đây là giới từ chỉ đích

Về mặt ngữ pháp, từ cấu trúc A x B cĩ thể cĩ những biến thể như sau :

1 A x B  A x  (khơng B);  xB (khơng A)

2 A x B  ABx

Trong các biến thể đĩ, xB (khơng A) là một giới ngữ mà x là hư từ cú pháp (giới từ)

cĩ một chức năng cú pháp nhất định trong câu Trong các biến thể cịn lại x là hư từ phi cú pháp (từ chỉ hướng đi sau động từ) Là giới từ, x gắn chặt với danh từ (hoặc đại từ) đi sau nĩ

Trang 28

hơn là động từ đứng trước nó Còn với tư cách là hư từ phi cú pháp, x có đặc điểm là có thể gắn liền hoặc tách rời khỏi động từ đứng trước nó

Trên cơ sở những nhận xét ấy, chúng tôi thấy rằng có thể dựa vào tiêu chí hình thức sau đây để khu biệt giới từ và từ chỉ hướng trong cấu trúc AxB:

Nếu có thể chuyển cả khối (xB) lên đầu câu mà ý nghĩa ban đầu của câu không thay đổi thì x là giới từ Ngoài điều kiện này ra, x là hư từ chỉ hướng.Ví dụ:

a Nó chạy về nhà Về nhà, nó chạy (–)

(“Về” là từ chỉ hướng)

b Nó đã có ý kiến về vấn đề đó Về vấn đề đó, nó đã có ý kiến (+)

(“Về” là giới từ)

Khi chuyển lên đầu câu, nó không còn là bổ ngữ nữa vì đã tách khỏi vị ngữ và chiếm

vị trí của một trạng ngữ trong câu

Điều cần lưu ý là, trong tiếng Việt, việc phân biệt như trên không phải lúc nào cũng dễ dàng vì về mặt hình thức các từ chỉ hướng vận động hoàn toàn giống với những giới từ

tương ứng.Ví dụ: trong câu “Tôi nhìn ra biển”, từ “ra” được dùng để chỉ hướng của hành động “nhìn” Các hướng khác có thể đi kèm với động từ “nhìn” là:

– nhìn lên (trời)

– nhìn xuống (biển)

– nhìn sang (nhà hàng xóm)

– nhìn về (thành phố)

– nhìn vào (tài liệu)

Từ “ra” trong trường hợp trên không mang đặc điểm ngữ nghĩa – ngữ pháp của giới từ

bởi nó không hề có sự liên kết với danh ngữ đứng sau nó mà gắn với động từ đứng trước nó

Khi không muốn thể hiện hướng của hành động “nhìn” thì có thể lược bỏ “ra” : Tôi nhìn

biển

Hoặc trong câu “Tôi gửi xuống Cà Mau một lô hàng”, từ “xuống” cũng được xem xét như từ “ra” về chức năng trong cấu trúc cú pháp Sự xuất hiện của “xuống” ở đây chỉ xác định cho hành động “gửi” theo hướng từ vùng phía bắc Việt Nam xuống Cà Mau (thuộc

Trang 29

vùng phía nam Việt Nam) Từ “xuống” có thể xuất hiện ngay sau động từ như ví dụ trên nhưng cũng có thể đứng sau bổ ngữ chỉ đối tượng của hành động : “Tôi gửi một lô hàng

xuống Cà Mau” Cả hai cấu trúc:

a Tôi gửi xuống Cà Mau một lô hàng

b Tôi gửi một lô hàng xuống Cà Mau

Về mặt hình thức tương ứng với hai cấu trúc:

a’.Tôi gửi cho nó một lô hàng

b’ Tôi gửi một lô hàng cho nó

Trong cấu trúc (a’), (b’), “cho” được xác định là giới từ (phát âm không có trọng âm) Như vậy, phải chăng “xuống” trong hai cấu trúc (a), (b) cũng có chức năng như “cho”, tức

chúng đều là giới từ ?

Điều này gây nên một khó khăn lớn cho việc phân biệt giới từ với từ chỉ hướng vận

động Nhìn chung, có thể giải thích rằng : Những từ đang bàn đều sinh ra từ thực từ, “ý

nghĩa” của chúng bao giờ cũng liên quan chặt chẽ với ý nghĩa từ vựng của thực từ sinh ra

chúng Chúng vốn là những vị từ ngoại động đã ngữ pháp hóa chuyển sang dùng như giới từ không hề kèm theo một quá trình chuyển hẳn từ loại ; các chức năng tồn tại song song Chúng hoạt động hết sức đa dạng giống như những từ đa chức năng : Với tư cách là một thực

từ, mỗi từ trong nhóm đều có thể đóng vai trò là một vị ngữ trong phát ngôn; còn với tư cách

là một hư từ, mỗi từ trong nhóm có thể thực hiện chức năng là một giới từ thực thụ (nối liền các thành tố trong một ngữ đoạn) hoặc thực hiện chức năng là một từ chỉ hướng vận động hay hướng kết quả của hành động, trạng thái Tình hình này xuất phát từ chỗ quá trình ngữ

pháp hóa không gắn liền với trạng thái “mất nghĩa” Trái lại, trong một chừng mực nhất

định có thể hiểu đó là hiện tượng tạo nghĩa mới theo yêu cầu giao tiếp Tín hiệu ngôn ngữ xuất hiện sau không phủ định sự tồn tại những tín hiệu cùng gốc xuất hiện trước mà tồn tại song song và được sử dụng một cách bình đẳng với tín hiệu xuất hiện trước

1.3.4 Phân biệt giới từ với danh từ vị trí

Các từ chỉ vị trí trong ngôn ngữ nào cũng có Xét trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ và

tư duy thì vị trí là sự phản ánh mối quan hệ tồn tại của sự vật về mặt không gian và nơi diễn

ra các hoạt động trong quan hệ với thời gian.Vì vậy, các từ chỉ vị trí có quan hệ tất yếu với

Trang 30

danh từ và động từ.Trong khi chỉ vị trí ở bậc trừu tượng hóa, các từ này cũng diễn đạt cả quan hệ về thời gian

Trong tiếng Việt, các từ chỉ vị trí là trên, dưới, trong, ngoài, trước, sau, giữa, cạnh,

bên,…Các từ này này hoạt động rất phức tạp.Có thể kể ra những trường hợp sau:

1.3.4.1 Hoạt động với tư cách chủ ngữ hay chủ đề của phát ngôn Ví dụ:

a Trên có núi, dưới có sông

b Trước sau phải nhất quán, trên dưới phải một lòng

1.3.4.2 Hoạt động với tư cách một thành tố phụ trong kết cấu động ngữ.Ví dụ:

a Miền Nam đi trước về sau

b A chạy trước, C chạy sau còn B chạy giữa

Các tổ hợp kiểu này rất dễ gặp trong tiếng Việt : ngồi ngoài, ăn sau, nằm giữa,…

1.3.4.3 Hoạt động với tư cách một thành tố phụ (sau) trong kết cấu danh ngữ Ví dụ :

nhà trước, vườn sau, áo ngoài, tầng trên, cổng giữa,…

1.3.4.4 Hoạt động với tư cách của một yếu tố giống các giới từ trong các ngôn ngữ

châu Âu khi đứng sau một động từ và đứng trước danh từ ( ngồi trên bàn, đứng trước cổng,

ăn dưới bếp,…) ; hoặc khi đứng trước một danh từ ( trong nhà, ngoài ngõ, trước mặt, sau lưng, trên trời, dưới đất,…)

Từ những nhận xét trên, chúng tôi xử lý các từ chỉ vị trí trong các trường hợp đã nêu như sau :

+ Ba trường hợp đầu : Từ chỉ vị trí là danh từ vì chúng có thể đảm nhận chức năng ngữ pháp của một danh từ thực thụ là làm chủ ngữ trong câu ( trường hợp 1.3.4.1), bổ ngữ trong kết cấu động ngữ ( trường hợp 1.3.4.2), định ngữ trong kết cấu danh ngữ (trường hợp 1.3.4.3)

+ Riêng trường hợp 1.3.4.4, từ chỉ vị trí được xác định là giới từ do chúng hoạt động với chức năng là diễn đạt mối quan hệ giữa động từ với danh từ ; hoặc dẫn nhập một danh từ (danh ngữ) tạo thành một đơn vị có khả năng đảm nhiệm một chức vụ cú pháp trong câu (thường là trạng ngữ)

Trang 31

1.3.5 Danh sách giới từ tiếng Việt

Căn cứ vào tiêu chí nhận diện giới từ và sự phân biệt giới từ với từ chỉ hướng, danh

từ vị trí đã trình bày bên treân, chúng tôi lập danh sách giới từ tiếng Việt (được nêu trong Bảng 1)

DANH SÁCH GIỚI TỪ TRONG TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI

STT GIỚI TỪ VÍ DỤ

1 Bằng Cái bàn này bằng gỗ lim

2 Bởi (vì) Thất bại bởi chủ quan

3 Chí Từ già chí trẻ, ai nấy cũng đều ra sức học tập

4 Cho Lan gửi cho mẹ một lá thư

5 Của Chiếc xe này của tôi

6 Cùng Mấy lời cùng bạn đọc

7 Dù (Dầu) Nó vẫn đến dầu mưa

Dù gian khổ, chúng ta vẫn không sờn chí

8 Do Xe hư là do nó

9 Dưới Sống ở dưới quê

10 Đặng Thổ lộ tâm tình đặng vơi bớt nỗi lòng

11 Để Sách này để kỷ niệm

12 Đến Ảnh hưởng đến sức khỏe

13 Giữa Họ tiến vào giữa hội trường

14 Kỳ Làm kỳ được

15 Lên Đặt lọ hoa lên bàn

16 Mà Người mà tôi gặp hôm qua là một nhà văn

17 Nếu Anh cứ ăn nếu đói

18 Ngoài Mẹ làm việc ở ngoài sân

19 Nhằm Nói thêm nhằm thanh minh

20 Nhờ Việc này hoàn thành là nhờ anh

21 Như Thân em như tấm lụa đào

Trang 32

STT GIỚI TỪ VÍ DỤ

22 Nội Nội hơm nay phải làm xong việc này

23 Nơi Đặt hy vọng nơi anh

24 Ở Nĩ sống ở Tiền Giang

25 Qua Học tập qua sách vở

26 Ra Trút ra bàn mấy lít gạo

27 Sang Nĩi sang chuyện khác

28 Sau Rời trường sau 17 giờ

29 Tại Làm việc tại nơng trường

30 Tận Được tin tơi về, mẹ tơi ra đĩn tận đầu làng

31 Theo Theo tơi, anh nên đi

32 Tới Chờ tới nửa đêm

33 Trên Trèo lên trên ngọn cây

Phát biểu trên tivi

34 Trong Cây lá ở trong vườn

35 Trước Hồn thành cơng trình trước tháng 6

36 Tuy Tốt bụng tuy nghèo

37 Từ Đi từ Tp Hồ Chí Minh

38 Tự Trời Liêu non nước bao xa

Nghĩ đâu rẽ cửa chia nhà tự tơi (Kiều)

Tự anh nên hỏng việc

39 Vào Trơng vào sự giúp đỡ của bạn

40 Về Bàn về giáo dục

41 Vì Chết vì chiến tranh

42 Với (Đối với) Với tơi,việc này khơng quan trọng

43 Xuống Ngồi bệt xuống đất

Trang 33

Điều cần nói rõ là, trong bảng danh sách này, có những từ là giới từ chuyên dùng như

tại, vì, với…; có những từ trong văn cảnh cụ thể được lâm thời dùng làm giới từ như ra, vào, sang, qua…

1.4 Phân loại giới từ tiếng Việt

1.4.1 Điểm qua tình hình phân loại

Đã có nhiều cách phân loại khác nhau về giới từ tiếng Việt Có thể nhận thấy một số quan niệm tiêu biểu như sau:

 Quan nieäm 1: Căn cứ vào từ chính trong từ tổ

Quan niệm này cho rằng “Nếu lấy ý nghĩa ngữ pháp do giới ngữ biểu thị để chia thì một là rất nhiều, hai là không thể nào chia dứt khoát được” 39,tr 332, vì vậy tác giả Nguyễn Kim Thản trên cơ sở phân biệt từ phụ và từ chính (từ chính gồm thể từ và vị từ), chủ trương lấy từ chính làm căn cứ để chia giới từ tiếng Việt ra thành hai tiểu loại:

– Giới từ nối liền thành phần phụ với thể từ: của, mà

– Giới từ nối liền thành phần phụ với vị từ: ở, từ, với, bởi, do, bằng…

 Quan nieäm 2: Căn cứ vào nguồn gốc của giới từ

Đây là quan niệm của các tác giả quyển “Việt Nam văn phạm” 23, tr.139 Các tác

giả đã phân biệt:

– Tiếng bản nhiên giới tự: bằng, bởi, của, nhân, từ, tự, với

– Tiếng tính tự dùng làm giới tự: gần, xa, giữa, ngang, ngay, v.v…

– Tiếng động tự dùng làm giới tự: cho, để, đến, đối, lại, khỏi, lên, xuống, ra, vào, v.v

– Tiếng quán ngữ giới tự: còn về, đối với, v.v…

Quan niệm này được chia sẻ trong công trình nghiên cứu “Ngữ pháp chức năng

tiếng Việt, quyển 2, Ngữ đoạn và Từ loại” Theo đó, giới từ tiếng Việt gồm hai loại :

– Giới từ chính danh: tại, bởi, vì, từ, nếu, dù, tuy, mặc dầu, v.v…

Trang 34

– Giới từ do các danh từ và vị từ chuyển thành:

+ Do danh từ chuyển thành: trên, dưới, trước, sau, của, trong, ngoài

+ Do vị từ chuyển thành: ở, đến, cho, về, qua, vào, bằng, tới, lên, xuống, ra, sang, lại, với, cùng, ngang

 Quan nieäm 3 : Căn cứ vào ý nghĩa quan hệ do giới từ biểu thị

Đây là quan niệm phổ biến trong các công trình nghiên cứu kể cả những công trình gộp chung giới từ và liên từ vào một từ loại Trên thực tế, giới từ tiếng Việt thường được chia ra thành các tiểu loại như sau:

– Giới từ chỉ địa điểm: trên, dưới, trong (nhà), ngoài, trước, sau, ở, tại,…

– Giới từ chỉ thời gian : vào, đến, từ, trong (những ngày ấy),…

– Giới từ chỉ nguyên nhân: tại (anh), vì, do, nhờ,…

– Giới từ chỉ mục đích : để, cho, vì (hạnh phúc của nhân dân),…

– Giới từ chỉ sở thuộc : của

– Giới từ chỉ phương tiện, cách thức : bằng, theo,…

1.4.2 Định hướng phân loại giới từ tiếng Việt

Trước tình hình phân loại giới từ tiếng Việt như trên, chúng tôi có ý kiến như sau :

Ngôn ngữ được tạo ra là để dùng cho mục đích giao tiếp Do vậy, một sự phân loại ngôn ngữ học được coi là có hiệu lực khi sự phân loại đó cung cấp cho người sử dụng những chỉ dẫn cần thiết, cụ thể trong quá trình tạo lập phát ngôn Bất kỳ một sự phân loại nào, chưa gắn được với sự hành chức của ngôn ngữ thì khó được coi là có hiệu lực Quan niệm 1 và 2 được điểm qua bên trên thuộc về trường hợp chưa thật sự có hiệu lực

Một số nhà nghiên cứu cho rằng khi tiến hành phân loại các từ loại nói chung, các tiểu loại từ loại nói riêng cần căn cứ vào chức năng tín hiệu học của từ Theo quan niệm này, Đỗ Hữu Châu 10, tr.49 - 51 đã xếp giới từ vào nhóm từ hư miêu tả Nhóm này cùng với các từ miêu tả (các từ chủ yếu thực hiện chức năng miêu tả như danh từ, động từ, tính từ, số từ v.v.) lập thành các thông điệp miêu tả - thông điệp nòng cốt của tất cả các thông điệp

Chúng tôi nhận thấy đây là một quan niệm hợp lý Giới từ chính là một loại từ tuy không trực tiếp dùng để miêu tả các sự vật, hiện tượng như các từ miêu tả nhưng chuyên

Trang 35

dùng để diễn đạt các loại quan hệ giữa sự vật với sự vật, giữa sự vật với hoạt động, giữa hiện tượng này với hiện tượng kia Mọi người đều thừa nhận rằng : sự vật, hiện tượng ngoài ngôn ngữ không tồn tại độc lập đối với nhau mà nằm trong những mối quan hệ nhất định Và, con người không chỉ nhận thức, thông tin về sự vật mà còn phải xác lập được mối quan hệ giữa chúng Xét về mặt chức năng, giới từ là lớp từ chủ yếu đảm nhận vai trò đưa các quan hệ này vào thông điệp, tổ chức các từ miêu tả thành các thông điệp nhằm miêu tả các quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng

Trên lý thuyết, mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng có thể quy về hai dạng cơ bản : quan hệ hiện thực (quan hệ khách quan) và quan hệ lập luận (quan hệ chủ quan) Hai dạng quan hệ này được hiểu như sau :

a Quan hệ hiện thực: là quan hệ có tính khách quan giữa các sự vật, hiện tượng trong

hiện thực khách quan Đây là loại quan hệ tồn tại hiển nhiên không phụ thuộc vào ý chí, nhận định của con người Trong tiếng Việt, có những giới từ nhằm phản ánh các quan hệ khách quan đó vào trong phát ngôn Ví dụ:

a Quyển sách của tôi

b (Nam) sống ở Tiền Giang

Trong hai ví dụ này, giới từ “của”, “ở” phản ánh quan hệ tất yếu, khách quan giữa

các sự vật, hành động nhằm cung cấp một thông tin miêu tả chứ không nhằm đưa ra một lập luận chủ quan

b Quan hệ lập luận: là quan hệ có tính chủ quan của người tạo lập phát ngôn đối với

mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng Đây là loại quan hệ do chủ quan người nói liên kết các sự kiện, các hành động (được đưa ra như một luận cứ) để dẫn đến một kết luận nào đó

Ví dụ:

a Bà ta chết vì quá no

(Nhưng cũng có thể kết luận ngược lại: Bà ta chết vì quá đói.)

b Việc này tại trời

(Cũng có thể cho rằng: Việc này tại anh)

Trang 36

Trong hai ví dụ này, giới từ “vì”, “tại” không phản ánh quan hệ tất yếu, khách quan

giữa các sự vật, hiện tượng nhằm cung cấp một thông điệp miêu tả mà nhằm thực hiện một hành vi lập luận có tính dụng học của sự nói năng

Theo một số nhà nghiên cứu, sự phân loại các từ nói chung, giới từ nói riêng dưới góc độ từ loại học cần phải sử dụng tiêu chí ngữ nghĩa chức năng như là một trong những tiêu chí hàng đầu Bởi lẽ, ngữ pháp - hiểu theo nghĩa cổ điển – như nhiều người thừa nhận chưa đủ giải thích các dạng hoạt động của giới từ ; còn chú ý đến các đặc điểm ngữ nghĩa chức năng chẳng những góp phần làm sáng tỏ những vấn đề về ngữ nghĩa mà còn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề về hoạt động của giới từ

Như một số nhà nghiên cứu thừa nhận, giới từ không có ý nghĩa từ vựng (nghĩa sở

chỉ, nghĩa sở biểu) mà chỉ có ý nghĩa ngữ pháp Do vậy, theo chúng tôi không thể dựa vào “ý

nghĩa” của giới từ để phân loại mà chỉ có thể căn cứ vào ý nghĩa của mối quan hệ giữa các

sự vật, hiện tượng do giới từ biểu thị Chẳng hạn, không thể nói giới từ “của” chỉ sở thuộc, giới từ “vì” chỉ nguyên nhân mà chỉ có thể nói giới từ thứ nhất biểu thị ý nghĩa về quan hệ sở

thuộc và giới từ thứ hai biểu thị ý nghĩa về quan hệ nguyên nhân

Tuy vậy, trong thực tế các giới từ tiếng Việt hoạt động rất phức tạp Ở nhiều trường hợp, sự chuyển hóa của giới từ từ chỗ biểu thị loại quan hệ này sang loại quan hệ kia rất tinh

tế, phụ thuộc nhiều vào các nhân tố giao tiếp Chẳng hạn, nhóm giới từ biểu thị quan hệ ý nghĩa về nơi chốn, địa điểm – mà nơi chốn, địa điểm vốn tồn tại khách quan, hiển nhiên – khi được sử dụng lại phụ thuộc vào cách phản ánh mang tính chủ quan của người nói Ví dụ: Đứng trước sự kiện một con thuyền đang di chuyển trên mặt sông, người Việt Nam chọn

cách diễn đạt “thuyền chạy dưới sông” chứ ít khi nói “thuyền chạy trên sông” Như vậy, ở

đây, người nói đã đưa yếu tố thứ ba (vị trí người nói) vào trong cách thức phản ánh sự kiện

chứ không xác lập mối quan hệ vị trí mang tính khách quan giữa hai sự vật “thuyền” và

“sông” như các ngôn ngữ châu Âu

Ngay cả những giới từ vốn thường được xem là tác tử lập luận, phản ánh sự đánh giá, nhận xét mang tính chủ quan của người nói nhiều lúc chỉ nhằm đem lại cho câu nội dung

thông tin mang tính khách quan Ví dụ: “Nhà sập vì bão” Giới từ “vì” trong câu này chỉ cho thấy mối quan hệ khách quan giữa việc “nhà sập” với hiện tượng “bão” mà thôi, chứ không

bộc lộ ý kiến, thái độ của người nói

Trang 37

Do vậy, việc quy các giới từ vào hai dạng quan hệ: quan hệ hiện thực khách quan và quan hệ lập luận chủ quan dù là hợp lý và thật sự cần thiết nhưng rất khĩ khăn và thiếu một ranh giới rạch rịi

Từ việc phân tích như trên, chúng tơi nghĩ rằng việc phân loại giới từ tiếng Việt cần phải sử dụng tiêu chí về ý nghĩa quan hệ mà giới từ biểu thị Cĩ điều, trong thực tế sử dụng, một giới từ nào đĩ cĩ thể biểu thị những loại ý nghĩa quan hệ rất khác nhau Chẳng hạn, giới

từ “trong” cĩ thể biểu thị những ý nghĩa quan hệ như sau:

 Ý nghĩa quan hệ khơng gian hình học:

a Học sinh ngồi trong lớp

b Tiền để trong tủ

 Ý nghĩa quan hệ khơng gian trừu tượng:

a Sĩng dậy trong lịng anh

b Cĩ ở trong cuộc mới thấy hết sự phức tạp của vấn đề

 Ý nghĩa quan hệ thời gian:

a Tơi sẽ trả lời cho anh trong tuần sau

b Trong 3 tháng nữa, sẽ xây xong căn nhà này

Ở giới từ “bằng” cũng diễn ra tình hình như vậy

 Ý nghĩa quan hệ chất liệu:

 Ý nghĩa quan hệ về phương tiện trừu tượng:

Bằng tài năng của mình, anh đã cĩ nhiều đĩng gĩp cho sự nghiệp giáo dục tỉnh nhà

Từ đĩ, chúng tôi nghĩ rằng việc phân loại cần dựa vào loại ý nghĩa quan hệ được

xem là chủ yếu mà một giới từ biểu thị

1.4.3 Phân loại giới từ tiếng Việt

Trang 38

Căn cứ vào tiêu chí và quan niệm đã nêu bên trên, chúng tôi phân loại hệ thống giới

từ tiếng Việt thành những nhóm như sau :

– Giới từ biểu thị ý nghĩa quan hệ không gian :

+ Vị trí : trên, dưới, trong, ngoài, giữa, trước, sau, ở, tại

– Giới từ biểu thị ý nghĩa quan hệ điều kiện – giả thiết: nếu, dù

– Giới từ biểu thị ý nghĩa quan hệ nghịch nhân quả : tuy, dù

– Giới từ biểu thị ý nghĩa quan hệ nguyên nhân : vì, bởi, tại, do, tự, nhờ

– Giới từ biểu thị ý nghĩa quan hệ sở hữu : của

– Giới từ biểu thị ý nghĩa quan hệ liên đới : với, cùng, theo

– Giới từ biểu thị ý nghĩa quan hệ công cụ, phương tiện, cách thức : bằng, với …

– Giới từ biểu thị ý nghĩa quan hệ mục đích : để, đặng, kỳ, nhằm

– Giới từ biểu thị ý nghĩa quan hệ phương diện : về, đối với

– Giới từ biểu thị ý nghĩa quan hệ thuyết minh : mà

Cần nói thêm rằng việc phân loại giới từ tiếng Việt dựa vào ý nghĩa quan hệ mà nó biểu thị chỉ là tương đối vì loại ý nghĩa này có cơ sở từ nghĩa của giới từ mà nghĩa của giới

từ thì rất khó xác định Cho nên người ta thường xác định những ý nghĩa quan hệ cụ thể mà một giới từ có thể biểu thị thông qua cách dùng của nó (xem Phụ lục 1)

Trang 39

Chương 2

ĐẶC ĐIỂM CHỨC NĂNG CỦA GIỚI TỪ TIẾNG VIỆT

Khái niệm “chức năng” trong ngôn ngữ học được các nhà nghiên cứu quan niệm theo

những cách khác nhau.Trần Ngọc Thêm [42] cho biết khái niệm này chủ yếu được hiểu theo

ba nghĩa chính như sau:

– Thứ nhất, vì giao tiếp là chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ cho nên “chức

năng” được đồng nhất với giao tiếp Đây là quan niệm phổ biến nhất, đặc biệt là ở châu Âu

– Thứ hai, vì truyền đạt nghĩa chính là nhiệm vụ trung tâm của ngôn ngữ nên “chức

năng” được đồng nhất với ngữ nghĩa

– Thứ ba , vì hình thức tồn tại chính là để thực hiện chức năng của một công cụ giao

tiếp nhất định nhằm đáp ứng những yêu cầu của giao tiếp và truyền đạt nghĩa cho nên “chức

năng” cũng được hiểu là hình thức

Thông thường, “chức năng” được hiểu là sự làm tròn một công việc nào đó Trong ngôn

ngữ học, các nhà nghiên cứu xác định chức năng cơ bản của ngôn ngữ là làm công cụ của

thông báo và tư duy Không thực hiện được “công việc” này thì ngôn ngữ không tồn tại,

không phát triển được và tất nhiên xã hội cũng không tồn tại được nếu không có ngôn ngữ Ngôn ngữ bao giờ cũng có tính hướng đích và trong hệ thống ngôn ngữ, chức năng chính là vai trò của yếu tố ngôn ngữ đối với hệ thống mà nó tham gia xét trên cả hai mặt hình thức và ngữ nghĩa bởi lẽ chức năng ngôn ngữ phải do yếu tố ngôn ngữ thực hiện mà yếu tố ngôn ngữ bao giờ cũng có một cấu trúc nhất định chứa đựng một nội dung ngữ nghĩa nhất định Vả lại, ngôn ngữ học hiện đại đã đề cập đến ba bình diện của ngôn ngữ ( kết học, nghĩa học, dụng

học) thì việc hiểu khái niệm “chức năng” cũng cần xuất phát và gắn với việc nghiên cứu

ngôn ngữ ở những bình diện này

Trong luận văn này, chức năng của giới từ tiếng Việt được cụ thể hóa bằng những khả năng mà nó có thể thực hiện ở hai mặt ngữ pháp và ngữ nghĩa Sự phân biệt hai mặt như vậy cũng chỉ là tương đối bởi vì ngữ pháp và ngữ nghĩa luôn gắn bó với nhau như hai mặt của một tờ giấy

Trang 40

2.1 Vai trò ngữ pháp của giới từ tiếng Việt

Vai trò ngữ pháp của giới từ tiếng Việt đã được các nhà nghiên cứu thảo luận từ lâu Tuy vậy, còn nhiều ý kiến khác nhau

2.1.1 Một quan niệm có tính chất truyền thống của ngữ pháp tiếng Việt là xem giới từ nói

riêng, quan hệ từ nói chung là từ công cụ “khác với lớp từ cơ bản và các phụ từ, lớp từ này không có ý nghĩa phạm trù, chức năng, không có khả năng kết hợp với những lớp từ khác”

7, tr.162

Có tác giả quan niệm: Giới từ là một loại hư từ cú pháp trong sự đối lập với hư từ từ

pháp, là một thứ phương tiện liên kết “xúc tác” thành tố phụ với trung tâm đoản ngữ, các

đoản ngữ, các mệnh đề với nhau trong cấu trúc phát ngôn 16, tr.179

Như vậy, theo quan niệm này, vai trò của giới từ trong cơ cấu ngữ pháp tiếng Việt được

xác định bằng các chức năng liên kết, “xúc tác”, “môi giới, trung gian” Với chức năng này, giới từ được xem như một “chất keo” kết dính các thành tố trong các kết cấu ngữ pháp chứ

không có liên quan gì đến cấu trúc và chức năng của các kết cấu ngữ pháp mà nó tham gia 2.1.2 Quan niệm tách giới từ ra khỏi kết cấu ngữ pháp đã không được sự đồng thuận của

một số nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt Trong công trình nghiên cứu “Ngữ pháp tiếng

Việt : Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ”, Nguyễn Tài Cẩn đã nhận xét : “Đối với trường hợp giới

từ (và liên từ) ngữ pháp truyền thống thường gây ấn tượng rằng chúng có một vị trí trung gian giữa 2 đơn vị A và B nhưng nằm ngoài A và B” Thực ra không phải thế “Phải cho là x (tức giới từ) có xu thế gắn chặt với B hơn là A” 7, tr.329 Lê Xuân Thại [38] cho kết từ - gồm giới từ và liên từ - với tư cách là phương tiện tổ hợp cú pháp có khả năng đảm nhiệm vai trò chỉ tố đánh dấu ý nghĩa ngữ pháp cho các thành tố quan hệ và khi thực hiện vai trò này, kết từ không phải là một yếu tố trung gian mà gắn với thành tố được đánh dấu làm thành một thành phần trong quan hệ với các thành phần khác Cao Xuân Hạo [21] xác nhận giới từ có vai trò dẫn nhập một ngữ đoạn, cho biết ngữ đoạn ấy làm thành phần câu hoặc làm phụ ngữ trong một ngữ đoạn lớn hơn Trước đó, Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê khi miêu tả quan hệ từ phụ thuộc của tiếng Việt cũng đã thấy được sự khác biệt của hai trường

hợp : a) Làng tôi có cái chuông bằng vàng (“bằng” là quan hệ từ diễn tả quan hệ của hai tiếng trong từ kết - tức tổ hợp từ chính phụ); b) Cái chuông này bằng vàng (“ bằng” là tiếng

chính trong thuật từ - tức thành phần vị ngữ hay thuyết ngữ trong câu) 12, tr.454

Ngày đăng: 18/01/2020, 00:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm