1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phân tích các nhân vật nam trong Truyện Kiều

22 270 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 103,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài làm đi sâu phân tích tổng thể các nhân vật nam có vai trò quan trọng trong cuộc đời Thúy Kiều, những nhân vật thể hiện tài năng xây dựng và quan niệm của Nguyễn Du Nguyễn Du đã dành số trang liên quan đến Kim Trọng rất nhiều, hầu như chỉ đứng sau Thúy Kiều. Chàng Kim xuất hiện ở đầu truyện và cùng Kiều kết thúc câu chuyện. Kim được miêu tả trong ánh mắt của Kiều là một phong thái trang nhã của thư sinh với “lưng túi gió trăng” đậm chất tài tử văn nhân xưa. Ngay cả trong hành động, Kim cũng khoan thai tỏ ra là người trang nhã, lịch sự hợp lễ giáo của một kẻ sĩ tài hoa: “Hài văn lần bước dặm xanh, Một vùng như thể cây quỳnh cây dao” Từ đây, họ tên, gia thế, học vấn, tài năng của chàng dần hé lộ: “Nguyên người quanh quất đâu xa Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh. Nền phú hậu, bậc tài danh, Văn chương nết đất thông minh tính trời Phong tư tài mạo tót vời,

Trang 1

Nhóm 3:

Trương Lê Quỳnh Như Huỳnh Thị Hồng Diễm

Lê Năng Long

Phạm Nguyễn Như QuỳnhPhan Thanh Thanh

Trang 2

Nhóm 3:

Trương Lê Quỳnh Như

Huỳnh Thị Hồng Diễm

Lê Năng Long

Phạm Nguyễn Như Quỳnh

Phan Thanh Thanh

Đặng Thanh Quân

Lê Thị Hồng Giang

Huỳnh Ngọc My

Nguyễn Bá Duy

Lê Thị Quỳnh Như

* Đề: Phân tích các nhân vật nam trong Truyện Kiều

1 Kim Trọng

Nguyễn Du đã dành số trang liên quan đến Kim Trọng rất nhiều, hầu như chỉ đứngsau Thúy Kiều Chàng Kim xuất hiện ở đầu truyện và cùng Kiều kết thúc câu chuyện Kim được miêu tả trong ánh mắt của Kiều là một phong thái trang nhã của thư sinh với

“lưng túi gió trăng” đậm chất tài tử văn nhân xưa Ngay cả trong hành động, Kim cũng khoan thai tỏ ra là người trang nhã, lịch sự hợp lễ giáo của một kẻ sĩ tài hoa:

“Hài văn lần bước dặm xanh, Một vùng như thể cây quỳnh cây dao”

Từ đây, họ tên, gia thế, học vấn, tài năng của chàng dần hé lộ:

“Nguyên người quanh quất đâu xa

Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh.

Trang 3

Đặng Thanh Quân

Lê Thị Hồng Giang

Huỳnh Ngọc My

Nguyễn Bá Duy

Lê Thị Quỳnh Như

* Đề: Phân tích các nhân vật nam trong Truyện Kiều

1 Kim Trọng

Nguyễn Du đã dành số trang liên quan đến Kim Trọng rất nhiều, hầu như chỉ đứngsau Thúy Kiều Chàng Kim xuất hiện ở đầu truyện và cùng Kiều kết thúc câu chuyện Kim được miêu tả trong ánh mắt của Kiều là một phong thái trang nhã của thư sinh với

“lưng túi gió trăng” đậm chất tài tử văn nhân xưa Ngay cả trong hành động, Kim cũng khoan thai tỏ ra là người trang nhã, lịch sự hợp lễ giáo của một kẻ sĩ tài hoa:

“Hài văn lần bước dặm xanh, Một vùng như thể cây quỳnh cây dao”

Từ đây, họ tên, gia thế, học vấn, tài năng của chàng dần hé lộ:

“Nguyên người quanh quất đâu xa

Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh.

Nền phú hậu, bậc tài danh, Văn chương nết đất thông minh tính trời

Phong tư tài mạo tót vời, Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa.”

Chàng quả là mẫu người lí tưởng của thời đại, Nguyễn Du đã ưu ái dành cho Kim Trọng những vẻ đẹp hội tụ của trời và đất, lại xuất thân trong gia đình quyền quý, bậc tài danh trong thiên hạ đã đủ để ta thấy sự quý mến, trân trọng mà tác giả gửi gắm vào Kim Trọng nghe tiếng tăm của Kiều, đã trộm nhớ thầm mong, gặp nhau rồi thì tìm mọi cách

để được gần và sẵn sàng đi hết cùng trời cuối đất để tìm cho kì được Một lần trông thấy nàng từ xa thôi, lòng chàng đã mặn mà bao nhiêu Cả hai không hẹn mà nên:

Trang 4

“Người quốc sắc, kẻ thiên tài Tình trong như đã, mặc ngoài còn e”

Tình cảm của Kim đã rõ rồi, cả hai cũng đã dường hiểu tình cảm của nhau, nhưng vẫn e ấp, dịu dàng, kín đáo Kim Trọng cố được ở gần nhà Kiều đã khó, ở gần rồi mà muốn gặp lại càng khó hơn Suốt mấy tháng ròng “Tường đông ghé mắt, ngày ngày hằng trông”, Kim Trọng vẫn nhen nhóm niềm tin sẽ có lúc thấy được nàng Nhờ vào chiếc thoa, Kim Trọng có dịp được gặp Kiều, phút đầu tiên ấy biến thành chuyện trăm năm Kẻ

si tình ấy phải đợi chờ cả một mùa xuân trôi vẫn chưa có dịp gặp Kiều, thời gian ấy, Kim Trọng vẫn một lòng đăm đăm nhìn về nhà nàng, rồi buông câu như trách móc của người đang yêu:

“Trách lòng hờ hững với lòng Lửa hương chốc để lạnh lùng bấy lâu Những là đắp nhớ đổi sầu Tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm”

Yêu nhiều bao nhiêu thì thời gian xa cách chỉ khiến Kim Trọng cảm giác khắc khoải sầu nhớ bấy nhiêu Thế rồi nàng cũng “xăm xăm băng lối” sang tìm chàng, mà là những hai lần khi nhận ra nhà Kiều vẫn vắng, thì nàng liền bắt gặp chàng trong cảnh nửa tỉnh nửa mê của người choáng ngợp trong hạnh phúc, cái dáng vẻ quá đỗi tài hoa và phong nhã:

“Sinh vừa tựa án thiu thiu Giở chiều như tỉnh giở chiều như mê”

Khi Kiều đánh đàn, tâm trạng say sưa, chăm chú của chàng gần gũi xiết bao:

“Ngọn đèn khi tỏ khi mờ Khiến người ngồi đó mà ngơ ngẩn sầu

Khi tựa gối khi cúi đầu Khi vò chín khúc khi chau đôi mày”

Họ hàn huyên với nhau bằng những lời lẽ tha thiết, giản dị, mà ở đây, cốt cách tài hoa của mỗi người đã quá đỗi rõ ràng, không cần phải bận tâm gì cả

Trang 5

Cuộc tình duyên trắc trở, họ từ biệt nhau trong lưu luyến, từ đây, bão tố nỗi dậy trong đời Kiều Nếu như Từ Hải là người đã giúp Kiều giải quyết tất cả ân oán thì Kim Trọng là người trả lại cho Kiều lòng tin vào cuộc đời và chính bản thân nàng Từ Hải và Kim Trọng đã giúp Kiều xóa đi cái án “hồng nhan bạc mệnh” của mình

Trong mười lăm năm lưu lạc, dẫu xa xôi cách trở nhưng họ luôn hướng về nhau, không có ai sống trong lòng Kiều sâu đậm như Kim Trọng, và trong Kim Trọng, như Kiều Trong mọi nỗi nhớ của Kiều, luôn có bóng dáng của Kim, có lẽ vì đó là phần dang

dở và xót xa nhất của Kiều Ngay cả khi Từ Hải xuất hiện, mối tình Kim Trọng vẫn cháy,dẫu là yếu ớt vẫn không bao giờ thôi vương vấn Gặp lại nàng sau mười lăm năm tìm kiếm, Kiều không còn cái lưu luyến của thuở xa xưa, nhưng cũng không nguôi quên chàng:

“Trông xem đủ mặt một nhà Xuân già còn khỏe huyên già còn tươi, Hai em phương trưởng hòa hai

Nọ chàng Kim đó là người ngày xưa”

Nếu nỗi nhớ Kiều dành cho Kim Trọng có lúc đầy lúc vơi, tùy vào những sóng giócủa cuộc đời nàng, thì Kim Trọng tương tư Kiều luôn một lòng sâu sắc như vậy Nguyễn

Du đã lí tưởng hóa tình yêu Kim Trọng dành cho Kiều chăng, khi mà công danh sự nghiệp đều tốt đẹp, hạnh phúc với Thúy Vân nhưng mối tình của Kim vẫn không thay đổi:

“Có khi vắng vẻ thư phòng Đốt lò hương, giở phiếm đồng ngày xưa

Bẻ bai rủ rỉ tiếng tơ Trầm bay nhạt khói gió đưa lay rèm Dường như trên nóc bên thềm Tiếng Kiều đồng vọng bóng xiêm mơ màng”

Khi đối diện với chính mình giữa không gian vắng vẻ, trang nghiêm, hương trầm

và tiếng tơ như gợi lên hình bóng thân yêu đang lẩn khuất trong tâm hồn chàng Kim Trọng đỗ đạt làm quan, tương lai càng rộng mở thì càng khiến chàng day dứt xốn xang vềcuộc đời sóng gió phiêu bạt của Kiều Kim sẵn sàng hi sinh tất cả để tìm Kiều:

Trang 6

“Rất mong treo ấn từ quan Mấy sông cũng lội mấy ngàn cũng qua Dấn mình vào áng can qua Vào sinh ra tử họa là có nhau”

Kim Trọng chấp nhận từ bỏ chí lớn, chấp nhận mất đi công danh nơi quan trường

để tìm lại chính tình yêu của mình, có lẽ là một điều đáng chê bai trong góc nhìn lễ giáo phong kiến, nhưng Kim sẽ nhận được sự trân trọng của người đời, bởi mất đi con đường làm quan, nhưng có được gấp bội trên con đường làm người

Kim Trọng không chỉ biết có yêu, tình yêu của Kim giúp chàng đứng trước những điều mới mẻ trong quan niệm cuộc đời:

“Từ phen chiếc lá lìa rừng Thăm tìm luống những liệu chừng nước mây”

Kim Trọng đáng trân trọng không phải vì tài hoa hay chí trượng phu, mà đáng trântrọng vì tấm lòng sắt đá của mình Khi mà giữa cái xã hội đầy kẻ dối trá, gian xảo, bất công, đồng tiền như thước đo xoay vận đổi lòng, thì Kim Trọng lại san bằng mọi thành kiến để mong nối lại duyên xưa với Kiều Ngay cả quan niệm trinh tiết, một thứ thành kiến nặng nề của xã hội bấy giờ, trong mắt Kim Trọng, Kiều vì chữ hiếu nên đành chịu nhiều biến cố, nhưng không bụi nào làm đục được tâm hồn nàng mới là điều đáng quý hơn cả Tiếng nói cuối thơ của Nguyễn Du, là một Kim Trọng sáng chói giữa xã hội, một Kim Trọng an ủi con người về lòng tin cuộc sống

Từ xuất hiện với tầm vóc oai nghiêm, ngang tàn, hoành tráng:

Trang 7

“Râu hùm, hàm én, mày ngài, Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.”

Lúc gặp Thúy Kiều lần đầu, Từ Hải đem ngay cái tự phụ của mình đối chọi với cái tự phụ của người kỹ nữ, vốn nổi tiếng là hay bắt bậc làm cao trong việc

"chọn đá thử vàng".

          Lời mở đầu câu chuyện của Từ với Kiều mạnh và sắc như một lưỡi kiếm:

“Từ rằng tâm phúc tướng cờ Phải người trăng gió vật vờ hay sao?

Bấy lâu nghe tiếng má đào Mắt xanh chẳng để ai vào đó không?

Một đời được mấy anh hùng

Bỏ cho cá chậu chim lồng mà chơi.”

  Rõ là khẩu khí của một anh hùng Nhưng tình yêu của Kiều cũng không thể giữ chân Từ Hải được trước chí lớn của chàng Ra đi, Từ làm nên cả một cơ đồ Chưa hẳn cái chí lớn ấy chỉ vì mong muốn anh hùng của cá nhân, Từ Hải còn muốn lượi gươm của mình dẹp được những bất bình cho Kiều Từ giúp Kiều báo

ân báo oán, còn sẵn sàng phó thác việc này cho Kiều tất cả:

“Mặc nàng xử quyết bao đền cho minh”

Có thể thấy, Từ Hải đã giúp Kiều phá tan mọi bất công của nàng, trừ tiệt mọi nguyên nhân khiến nàng đau khổ, là mẫu người không khuất phục trước những bất công ở đời Nhưng Từ đâu thấy được nguồn gốc của những bất công ấy là cái xã hội, của chế độ phong kiến Từ sinh ra để vẫy vùng ngang dọc, thì hẳn nhiên phải đập đi cái trời cao đất rộng mà triều đình nắm giữ, nên triều đình có lí do để giết

Từ, còn Từ chỉ đơn giản thế thôi, không có lí do để gay gắt chiến đấu với triều đình Ý nghĩ ngang tàng của Từ còn thể hiện khi chàng nghe Kiều khuyên giải:

“Một tay gây dựng cơ đồ Bấy lâu bể Sở sông Ngô tung hoàng

Bó thân về với triều đình Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu

Áo xiêm ràng buộc lấy nhau Vào luồn ra cúi công hầu mà chi Sao bằng riêng một biên thùy Sức này há dễ làm gì được nhau”

Có lẽ chính vì vậy, ngang tàng ấy mà Hồ Tôn Hiến không muốn Từ Hải mang tư tưởng tự do đầy bản lĩnh này về triều đình, nghĩa là Từ phải chết Không phải Từ Hải chỉ tự phụ lúc chưa hiển đạt, không phải Từ Hải chỉ kiêu hãnh lúc thành công, Từ Hải còn kiêu hãnh cả lúc nguy biến, lúc sa cơ, lúc chết:

“Tử sinh liều ở trận tiền Dạn dày cho biết gan lì tướng quân

Trang 8

Khí thiêng khi đã về thần Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng

Trơ như đá, vững như đồng

Ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng rời”

Từ Hải là một tượng trưng rất trong trẻo của tính đa cảm, của đức tự tin của lòng kiêu hãnh tuyệt đối Có thể nói suốt cả truyện Kiều, Nguyễn Du miêu tả các nhân vật, không ai đẹp bằng Từ Hải, dễ quyến rũ bằng Từ hải Từ Hải tự phụ mà ta kính yêu, Từ Hải kiêu ngạo mà ta mến phục. 

Được như vậy là bởi Từ Hải có một đặc tính mà không phải bất kỳ ai cũng

có được Đó là chí độc lập ngang tàng Bình sinh Từ Hải vẫn không chịu được sự khuất phục:

“Giang hồ quen thói vẫy vùng Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo”

  Từ Hải chết có phải mắc mưu Hồ Tôn Hiến hay chết vì quá yêu Thúy Kiều, muốn Kiều được trở về đoàn tụ gia đình, quê hương Từ Hải chết vì cái say sưa của trái tim mình Chí độc lập của Từ Hải chỉ có thể siêu đổ được vì tình Lúc chết đứng giữa trận tiền, cái chân cứng đờ của Từ Hải cũng chỉ ngã xuống  vì tình

Cái thân mà "ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng rời" đó chỉ rơi xuống vì tiếng

khóc của Kiều mà thôi.

“Khóc rằng: " trí dũng có thừa Bởi nghe lời thiếp đến cơ hội nầy Mặt nào trông thấy nhau đây Thà liều sống chết một ngày với nhau"

Lạ thay! oan khí tương triền Nàng vừa phục xuống, Từ liền ngã ra”

Nói lên sự suy nghỉ của Từ Hải, lúc Hồ Tôn Hiến dụ hàng, Nguyễn Du nói lên tâm sự của mình:

“Bó thân về với triều đình Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu

Áo xiêm trói buộc lấy nhau Vào luồn ra cúi công hầu mà chi?”

Nguyễn Du khinh bỉ bọn nho sĩ, không liêm sĩ, ra làm quan cho"ngụy triều" ( Triều đại Tây Sơn) Ở cái khinh bỉ ấy, nảy nở ra sự kiêu hãnh của kẻ "cô trung độc tỉnh".

Từ Hải chết như một anh hùng, tư thế đứng ấy là một bài học lịch sử lớn, một lời tố cáo uất ức, nghẹn ngào, căm giận Phải chăng Nguyễn Du đã gửi gắm ước mơ và sức phản kháng vào nhân vật Từ Hải, Từ như một con chim đại bàng kiêu hãnh bị cung tên của Hồ Tôn Hiến bắn rơi, nhưng sức sống của ước mơ vươn lên trong xã hội thì vẫn còn ở đó.

Trang 9

3 Mã Giám Sinh

a Lai lịch bất minh, con người xấc xược, giả dối, vô phép, phàm tục:

Cái tên chung chung, không rõ ràng: “Giám Sinh” không phải là một cái tên, đó làmột từ dùng để chỉ người học trò Nho giáo xưa Trong một vài thời đại nhất định, đây làmột chức danh có thể mua được bằng tiền Qua cái tên này ta không thấy rõ gì về nhân vật

Quê quán mập mờ: Nguyễn Du đã khéo léo vạch trần sự giả dối của Mã Giám Sinh,ông giới thiệu hắn là một “Viễn khách”:

“Gần miền có một mụ nàoĐưa người viễn khách tìm vào ấn danh”

Tuy được giới thiệu là một viễn khách nhưng khi Mã Giám Sinh giới thiệu về mình:

“Hỏi quê, rằng: “Huyện Lâm Thanh cũng gần”

Ở đây thấy được sự mâu thuẫn trong lời nói của Mã Giám sinh và lời giới thiệu của

mụ mối “viễn khách” mà sao “cũng gần” Và sự thật là Mã Giám Sinh đã nói dối về quê quán của mình: Quê ở Lâm Thanh nhưng lại nói là ở Lâm Thành

=> Ở Mã Giám Sinh, những thông tin ban đầu cơ bản nhất về con người như tên tuổi, quê quán đều có dấu hiệu bất minh, dối trá Do vậy chúng ta thấy đây là một con người không đáng tin cậy

Nguyễn Du tiếp tục một cách khéo léo, hé lộ bản chất vô học của Mã Giám Sinh quanhững câu trả lời của hắn:

“Hỏi tên, rằng: “Mã Giám Sinh”

Hỏi quê, rằng: “Huyện Lâm Thanh cũng gần”

Nhìn vào hai câu thơ, ta nhận thấy nhịp thơ ngắn và được chia nhỏ nhiều lần (2/1/3,2/1/3/2) kết hợp với điệp cấu trúc “Hỏi …rằng…” cho người đọc hình dung được cách thứctrả lời các câu hỏi của Mã Giám Sinh Hỏi hắn thì hắn trả lời cộc lốc, không thưa gửi ai thểhiện sự vô văn hóa trong giao tiếp với bề trên

=> Cách nói năng của hắn đã bộc lộ một phần về con người của hắn Hắn chẳng cóchút gì nho nhã, lịch sử của chàng “Giám Sinh”, hạng người có học

Cố nhiên, Mã Giám Sinh cũng tin vào tác dụng bề ngoài của mình:

“Quá niên trạc ngoài tứ tuầnMày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao”

Trang 10

Hai câu thơ có sự tương phản: Câu lục hoàn toàn là từ Hán Việt, còn câu bát hoàntoàn là từ thuần Việt Câu lục có sắc thái trang trọng Câu bát có sắc thái bình dị Ở đây,Nguyễn Du chủ ý tô đậm sự tương phản giữa tuổi tác của Mã Giám Sinh (trạc ngoài bốnmươi) và vẻ bề ngoài không phù hợp với độ tuổi ấy của Mã Giám Sinh.

Đây cũng chính là thủ pháp nâng và hạ của trào phúng: Dùng cái trang trọng để nói

về độ tuổi: “Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao” Như chúng ta biết, mày râu là mộtchuẩn mực thẩm mỹ của người xưa khi đánh giá một người đàn ông Không phải tự nhiên

mà người đàn ông được gọi là “đấng mài râu”, hay “tu mi nam tử” Ca dao: “Đàn ôngkhông có râu bất nghì”.Theo chuẩn mực thẩm mỹ người xưa, mày râu của người đàn ôngchính là biểu tượng cho nhân, nghĩa, là dấu hiệu của bậc đại trượng phu Nguyễn Du tả Từ

Hải, một đấng anh hùng là “Râu hùm, hàm én, mày ngài” Mã Giám Sinh đối lập hoàn toàn

với tất cả chuẩn mực ấy, mày râu nhẵn nhụi (trong quan niệm của người xưa) là dung mạocủa kẻ tiểu nhân, không đàng hoàng

Hành động của Mã Giám Sinh, đã cho chúng ta thấy rõ hơn về bản chất lố lăng củahắn Đầu tiên Nguyễn Du tả cái tư thế tỏ ra làm chủ của Mã: “Trước thầy sau tớ lao xao”

Từ láy “lao xao” tạo một cảm giác nhốn nháo, mất trât tự, vô kỷ luật, không phù hợp với sựtrang nghiêm, lịch sử của một buổi vấn danh Cái kiểu bầu đoàn của hắn ập vào nhà Kiềugợi ta nhớ đến bọn sai nha trước đây vu oan cho cha Kiều Tác giả đã miêu tả cách ngồi củatên họ Mã “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”, phó từ “tót” đặc tả tư thế ngồi của Mã Giám Sinh,cộc cằn, xấc xược, ngang ngược Nguyễn Du đã nhận xét rất xác đáng về hành động này:

“sỗ sàng” Đây là sự thiếu lịch sự, vô phép tắc của một kẻ vô học hay cũng có thể đó là thóiquen của nghề nghiệp

Sau khi gã bán ổn định, hắn trở mặt là một con người phàm tục:

“Khi về bỏ vắng trong nhà Khi vào dùng dắng, khi ra vội vàng

Khi ăn khi nói lỡ làng Khi thầy khi tớ xem thường xem khinh”

Hắn không lôi thôi, cốt chỉ muốn được việc Nhưng khi thấy tài sắc của Kiều, cái thói phàm của hắn bừng dậy, đối với hắn, chuyện trinh tiết cũng chỉ cần “nước vỏ lựu máu mào gà” là sẽ xong Nếu Tú Bà có hỏi, thì cùng lắm là mất “một buổi quỳ mà thôi” Đó là cái ti tiện nhầy nhụa mà Kiều đã khinh bỉ gọi là “giống hôi tanh”

b Mã Giám Sinh: một kẻ buôn người

Từ việc lột trần cái mác Giám Sinh, Nguyễn Du còn tiến đến một bước cao hơn

trong việc xây dựng nhân vật: làm bật lên bản chất con buôn của Mã Giám Sinh Mã Giám

Trang 11

Sinh chính là hạng người đồi bại trong xã hội xưa, sống bám vào các kĩ viện, lừa các cô gáilương thiện vào chốn thanh lâu để chúng chuộc lợi của bọn “buôn thịt bán người”.

- Tâm lý con buôn

“Đắn đo cân sắc cân tài

Ép cung cầm nguyệt, thử tài quạt thơMặn nồng một vẻ một ưa,Bằng lòng khách mới tùy cơ dặt dìu”

Vẻ ngoài, việc người con gái trình diễn tài nghệ của mình cho người đến xem mắt là rất bình thường Nhưng  Nguyễn Du đã khéo léo chỉ ra cho người đọc, đây thực chất là mộtcuộc buôn bán, thông qua từ chỉ hành động của con buôn: “cân”, “ép”, “thử”. Tâm lý con buôn cũng được thể hiện rất sắc sảo:  “Đắn đo”-“bằng lòng” – “tùy cơ dặt dìu” cho thấy bọn buôn người có sự chọn lựa kĩ càng, suy tính về lợi nhuận

- Lời nói con buôn

 Mã Giám Sinh học đòi nói những lời lẽ rất hoa mỹ, bỏng bảy:

“Rằng: “Mua ngọc đến Lam Kiều”

Sinh nghi xin dạy bao nhiêu cho tường?”

Câu nói lịch sự duy nhất thốt ra từ miệng cũng chứa tiềm thức của một con buôn Chữ “mua” và “bao nhiêu” đã tố cáo hắn Lời lẽ hoa mỹ của hắn thực chất chỉ là một lời hỏi giá

- Hành động con buôn:

Và cuối cùng hắn đã vứt cái mặt nạ ấy ra bằng việc mặc cả:

“Cò kè bớt một thêm haiGiờ lâu ngã giá vâng ngoài bốn trăm”

Từ láy “cò kè” đã cho thấy bản tình bần tiện, chuộc lợi của Mã Giám Sinh Nhịp thơngắn: 2/2/2 tạo cảm giác thời gian kéo dài, mệt mỏi, chán chường Cuộc ngã giá càng kéo dài, nhân phẩm của Kiều càng bị chà đạp, giá trị của Kiều càng bị xúc phạm Thị trường của gã có nhiều diễn biến hồi hộp, gã đâu thể ngồi nhà ra oai như Tú Bà, gã phải tìm người

để mua khắp nơi với những thú vui mới đang chờ

 Bằng bút pháp hiện thực với những tương phản, nghịch lý, Nguyễn Du đã xâydựng buổi lễ vấn danh của Mã Giám Sinh như một sấn khấu bi- hài kịch Hài vì: Mã GiámSinh xuất hiện như một tên hề,một kẻ vô lại dưới lớp mặt nạ người có học thức, hành động,

cử chỉ, lời nói đều nghịch ngạo, lố lăng, nực cười Nguyễn Du đã bóc trần không khoannhượng bản chất xấu xa, tiểu nhân của Mã Giám Sinh, đồng thời cho người đọc thấy đượcbản chất con buôn của hắn Bi vì: Lễ vấn danh thực chất chính là một cuộc mua bán, màmón hàng ở đây chính là Thúy Kiều Người tới dạm hỏi thực chất là con buôn, được thếnên vô phép, lấn lướt chủ nhà Gia đình Vương viên ngoại, chính là người bán, phải nhún

Ngày đăng: 01/05/2019, 11:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w