1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với dịch vụ phòng cháy chữa cháy trong doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở việt nam

115 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 208,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCMỞ ĐẦU ...1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỊCH VỤ PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NG

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG

TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỊCH VỤ PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY TRONG DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG

TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỊCH VỤ PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY TRONG DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị

Mã số:

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học: GS, TS PHẠM QUANG PHAN

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỊCH VỤ PHÒNG CHÁY CHỮA

CHÁY TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP

NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 61.1 Một số khái niệm cơ bản 61.1.1 Khái niệm Dịch vụ phòng cháy chữa cháy - một hàng hoá

1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước về phòng cháy chữa cháy 16

1.1.3 Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài191.2 Vai trò quản lý nhà nước đối với dịch vụ phòng cháy chữa cháy

trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 201.2.1 Nội dung quản lý nhà nước đối với dịch vụ phòng cháy

chữa cháy trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài 201.2.2 Tầm quan trọng của quản lý nhà nước đối với dịch vụ

phòng cháy chữa cháy trong các doanh nghiệp có vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta 241.3 Kinh nghiệm quốc tế về quản lý nhà nước đối với dịch vụ phòng

cháy chữa cháy trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài 261.3.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản, Trung Quốc, Nga 26

1.3.2 Những bài học rút ra cho Việt Nam 30

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

DỊCH VỤ PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY TRONG CÁC DOANH

NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 322.1 Thực trạng cầu về dịch vụ phòng cháy chữa cháy trong các

doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam 322.1.1 Tổng quan về khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực

tiếp nước ngoài ở nước ta 322.1.2 Cầu về dịch vụ phòng cháy chữa cháy trong các doanh

nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 362.2 Cung về dịch vụ phòng cháy chữa cháy trong doanh nghiệp có

vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam 49

Trang 4

2.2.1 Quản lý Nhà nước đối với cung dịch vụ phòng cháy chữa

cháy về mặt vĩ mô 492.2.2 Quản lý Nhà nước đối với cung dịch vụ phòng cháy chữa

cháy về công tác hỗ trợ 562.3 Đánh giá chung về hoạt động quản lý nhà đối với dịch vụ phòng

cháy chữa cháy trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài ở Việt Nam 622.3.1 Những kết quả đạt được 622.3.2 Một số tồn tại và nguyên nhân cơ bản 632.3.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết để nâng cao

hiệu lực quản lý nhà nước đối với dịch vụ phòng cháychữa cháy trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài ở Việt Nam 66

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG

CƯỜNG VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỊCH VỤ

PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY TRONG CÁC DOANH NGHIỆP ĐẦU

TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 703.1 Định hướng tăng cường công tác quản lý của nhà nước đối với

dịch vụ phòng cháy chữa cháy ở nước ta hiện nay 703.1.1 Dự báo tình hình cháy nổ ảnh hưởng tới công tác quản lý

nhà nước đối với dịch vụ phòng cháy chữa cháy 703.1.2 Phương hướng đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước đối

với dịch vụ phòng cháy chữa cháy trong các doanh

nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 723.2 Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường vai trò quản lý nhà

nước đối với dịch vụ phòng cháy chữa cháy trong doanh nghiệp

có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam 743.2.1 Nhóm giải pháp ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu về dịch

vụ phòng cháy chữa cháy đối với doanh nghiệp có vốn

đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam 743.2.2 Giải pháp dài hạn nhằm hoàn thiện hệ thống cung ứng

dịch vụ phòng cháy chữa cháy 763.3 Một số kiến nghị cơ bản đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực

tiếp nước ngoài nhằm tăng cường hiệu quả cho các nhóm giải

pháp trên 82

Trang 5

3.3.1 Nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở của các

doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 823.3.2 Tăng cường hoạt động tuyên truyền giáo dục về phòng

cháy chữa cháy 843.3.3 Trang bị đầy đủ, đồng bộ và sử dụng có hiệu quả phương

tiện, dụng cụ phòng cháy chữa cháy tại chỗ 853.3.4 Tăng cường hoạt động tự kiểm tra an toàn phòng cháy

chữa cháy trong cơ sở có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 86KẾT LUẬN 88DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89PHỤ LỤC 92

Trang 6

BẢNG QUY ƢỚC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 4 tháng 10 năm 1961 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số53/LCT công bố Pháp lệnh “quy định việc quản lý của Nhà nước đối với côngtác PCCC”, đặt cơ sở pháp lý cho toàn bộ hoạt động phòng cháy và chữa cháy

ở nước ta Pháp lệnh trên đã được các cấp, các ngành và đông đảo nhân dân tựgiác thực hiện và là tiền đề để xây dựng luật PCCC sau này, góp phần quan trọngthực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nướcta

Trong giai đoạn hiện nay, thực hiện đường lối đổi mới và phát triểnkinh tế xã hội của Đảng và nhà nước ta, các dự án đầu tư nước ngoài vào ViệtNam ngày càng tăng, cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ các khu côngnghiệp, khu chế xuất công nghệ cao, các trung tâm thương mại, khu chung cưcao tầng… kéo theo là sự gia tăng các vụ hoả hoạn về số lượng và mức độthiệt hại gây khó khăn không nhỏ trong công tác quản lý nhà nước về PCCC.Đặc biệt đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với số vốn đầu tưlớn, ngành nghề sản xuất đa dạng, sử dụng nhiều nguyên nhiên vật liệu cótính chất nguy hiểm cháy, nổ cao tăng, thì nguy cơ cháy và thiệt hại do cháygây ra ngày càng lớn Cháy lớn không những gây thiệt hại rất nghiêm trọng vềtài sản mà còn làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư của nước ngoài vào ViệtNam cũng như sự phát triển của kinh tế - xã hội nói chung

Vì vậy, để quản lý tốt và hạn chế đến mức tối đa các vụ cháy và thiệthại do cháy gây ra, trong thời gian gần đây công tác PCCC đã được Đảng, nhànước và các cấp chính quyền quan tâm Năm 2001, luật PCCC đã được Quốchội khoá IX, kỳ họp thứ 9 thông qua có hiệu lực thi hành từ ngày 4/10/2001.Ngày 4/4/2003 Chính phủ có Nghị định số 35/2003/NĐ - CP quy định chi tiếtthi hành một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy Ngoài ra, còn nhiều

Trang 8

văn bản quan trọng khác có liên quan của nhiều cấp, ngành phục vụ cho côngtác PCCC Tuy nhiên, trên thực tế công tác PCCC vẫn còn nhiều hạn chế,chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra và chưa bắt kịp với tốc độ phát triển kinh tế thịtrường ở Việt Nam Thực trạng đó có nhiều nguyên nhân song nguyên nhân

cơ bản nhất là vai trò quản lý nhà nước về dịch vụ PCCC còn nhiều bất cập

Từ thực tiễn trên cho thấy việc nghiên cứu đề tài “Tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với dịch vụ PCCC trong doanh nghiêp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam” là một yêu cầu có tính cấp thiết cả về mặt

lý luận và thực tiễn đối với nước ta hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Quản lý nhà nước đối với dịch vụ PCCC đã được đề cập trong nhiều đềtài nghiên cứu khoa học các cấp cũng như một số giáo trình chuyên ngành,một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ Sau đây có thể nêu một số ví dụ cụthể:

- Luận án tiến sĩ Kinh tế của tác giả Nguyễn Quang Thứ, Hà Nội, 2004với đề tài "Dịch vụ phòng cháy chữa cháy - Một loại hàng hoá công cộng trongnền kinh tế thị trường hiện nay ở nứớc ta" Luận án nghiên cứu lý luận và thực tiễn

về dịch vụ PCCC với tư cách là một loại hàng hoá công cộng trong nền kinh tế thịtrường, từ đó xác định phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển dịch vụPCCC trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta

- Đề tài khoa học cấp bộ Công an của các tác giả: Đào Quốc Hợp, BùiXuân Hoà, Đặng Trung Khánh: "Những cơ sở lý luận và thực tiễn để xác định nhucầu nhân lực và tổ chức đào tạo cán bộ PCCC cho các ngành, đoàn thể và các tổchức kinh tế - xã hội", Hà Nội, 2006 Đề tài phân tích những nhiệm vụ cơ bản củalực lượng dân phòng, lực lượng phòng cháy và chữa cháy trên cơ sở phân tích kếtquả điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng lực lượng PCCC đề tài đã xác định nhucầu đào tạo nguồn nhân lực PCCC và đề xuất một số

Trang 9

giải pháp phù hợp cho công tác tổ chức đào tạo cán bộ PCCC trình độ đại học, trung học cho các ngành, đoàn thể và các tổ chức kinh tế - xã hội.

- Đề tài khoa học cấp Bộ Công an của các tác giả: Nguyễn Ngọc Sơn,Nguyễn Thế Từ, Kiều Hồng Mai: "Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt độngphòng cháy, chữa cháy trong các cơ sở sản xuất công nghiệp ở nước ta hiện nay",

Hà Nội, 2004 Nội dung đề tài nhằm phân tích những vấn đề về lý luận và thựctiễn hoạt động PCCC trong các cơ sở sản xuất công nghiệp trong giai đoạn đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đề tài đề xuấtmột số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động PCCC trong các cơ sởsản xuất công nghiệp

- Đề tài khoa học cấp cơ sở Trường Đại học PCCC: "Nghiên cứu biệnpháp nâng cao hiệu quả hoạt động Phòng cháy chữa cháy trong các doanh nghiệpvừa và nhỏ" của tác giả Vũ Hữu Quyết, Hà Nội, 2004 Đề tài gồm 3 chương:Doanh nghiệp vừa và nhỏ, những vấn đề liên quan đến hoạt động PCCC; Thựctrạng hoạt động PCCC trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ; Một số biện pháp vàkiến nghị

- Đề tài khoa học cơ sở của tác giả Đào Hữu Dân - Trường Đại họcPCCC: "Nghiên cứu chức năng quản lý Nhà nước trong lĩnh vực PCCC của lựclượng Cảnh sát PCCC trước yêu cầu đòi hỏi của sự ngiệp đổi mới đất nước hiệnnay", Hà Nội, 2001 Nội dung đề tài gồm 3 chương: Cơ sở pháp lý của việc thựchiện chức năng quản lý Nhà nước trong lĩnh vực PCCC; Thực trạng việc thực hiệnchức năng quản lý Nhà nước về PCCC của lực lượng Cảnh sát PCCC hiện nay;Một số kiến nghị và đề xuất

- Công trình “Nghiên cứu sự chuyển đổi nhận thức về hoạt động PCCC

từ khi chuyển sang kinh tế thị trường” của tiến sĩ Ngô Văn Xiêm năm 1999 Trongcông trình này tác giả đã đánh giá vai trò của công tác PCCC đối với sự phát triểnkinh tế xã hội; phân tích tư duy kinh tế theo cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp đãcản trở việc phát triển các loại hàng hoá công cộng, trong đó có dịch vụ PCCC

Trang 10

Ở nước ta từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, vấn đề tổ chức, quản lý và phát triển sản xuất các hàng hóa công cộng,trong đó có dịch vụ PCCC cũng đã được nhận thức và thực hiện ngày càng có hiệuquả hơn Các công trình trên đã nghiên cứu nhiều về công tác PCCC của lực lượngCảnh sát PCCC ở nước ta hiện nay Song chưa có đề tài nào đi sâu phân tích vấn

đề quản lý nhà nước về PCCC như một đối tượng nghiên cứu hoàn chỉnh

Vì vậy, với cách tiếp cận riêng của mình, đề tài luận văn "Tăng cườngvai trò quản lý nhà nước đối với dịch vụ PCCC trong doanh nghiệp có vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam" là công trình đầu tiên nghiên cứumột cách toàn diện về quản lý nhà nước đối với dịch vụ PCCC trong doanhnghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam dưới góc nhìn củachuyên ngành kinh tế chính trị

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt độngquản lý nhà nước về dịch vụ PCCC trong Doanh nghiệp có vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường vai tròquản lý nhà nước đối với dịch vụ PCCC

Để đạt được mục tiêu trên, trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã giải quyết một số nhiệm vụ cụ thể sau:

- Làm rõ dịch vụ PCCC là một hàng hoá công cộng và cơ sở lý luận củahoạt động quản lý nhà nước đối với hàng hoá dịch vụ PCCC

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động PCCC trong các doanhnghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vai trò quản lý nhà nước đối với dịch

vụ PCCC trong DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 11

- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường vai trò quản lý nhànước đối với dịch vụ PCCC trong doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Quan điểm tiếp cận:

Với quan điểm: “Cân bằng cung - cầu dịch vụ PCCC là thước đo hiệuquả vai trò quản lý Nhà nước về dịch vụ PCCC”, đề tài tiếp cận vai trò quản

lý Nhà nước về dịch vụ PCCC với 2 nội dung chủ yếu là cầu về dịch vụPCCC và cung về dịch vụ PCCC Trên quan điểm đó toàn bộ nghiên cứuđược triển khai theo khung logic (hình 1)

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn củacông tác quản lý nhà nước về cung dịch vụ PCCC, cầu về dịch vụ PCCC trong cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, từ đó đưa ra các giải pháp chủ yếunhằm tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với dịch vụ PCCC trong doanh nghiệp

có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta

- Phạm vi nghiên cứu: Dưới góc độ kinh tế chính trị, luận văn chỉ đi sâunghiên cứu khía cạnh kinh tế, còn khía cạnh kỹ thuật, nghiệp vụ chỉ đề cập trongchừng mực cần thiết

Hình 1 Khung logic về phương pháp tiếp cận nội dung nghiên cứu của đề tài

Hiện trạng dịch vụ PCCC trong các DN

Hệ thống cung ứng

DV PCCC

Cầu về DV PCCC trong các DN

Cung về DV PCCC với các DN

Trang 12

5 Phương pháp nghiên cứu

- Dựa vào lý luận Kinh tế chính trị Mác - Lênin, quan điểm của Đảng,Nhà nước và tiếp thu có chọn lọc lý luận của kinh tế học hiện đại cùng một số đềtài khoa học về lĩnh vực PCCC

- Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng, nhất là phương pháp trừutượng hoá của Kinh tế - chính trị, coi trọng phương pháp phân tích và tổng hợp,phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp mô hình hoá…để rút ra những kếtluận và giải pháp thực tiễn của hoạt động quản lý nhà nước về PCCC ở nước ta

6 Những đóng góp của luận văn

- Luận văn chỉ rõ dịch vụ PCCC là một hàng hoá công cộng cũng như vai trò quản lý nhà nước đối với hàng hoá dịch vụ này

- Luận văn phân tích thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ PCCCtrong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, từ các số liệu thu thậpthông qua nguồn của Cục Cảnh sát PCCC (C23) để từ đó đưa ra những giải phápkhả thi tăng cường vai trò quản lý nhà nước nhằm hạn chế tới mức tối thiểu sốlượng và mức độ thiệt hại do cháy, nổ gây ra tạo môi trường tốt thu hút đầu tưnước ngoài thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn tăng cường vai trò quản lý nhà

nước đối với dịch vụ PCCC trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài ở Việt Nam

Chương 2 Thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với dịch vụ

PCCC trong doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam

Chương 3 Phướng hướng và giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường vai

trò quản lý nhà nước đối với dịch vụ PCCC trong doanh nghiệp đầu tư trựctiếp nước ngoài ở Việt Nam

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TĂNG CƯỜNG VAI TRÕ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỊCH VỤ PHÕNG CHÁY CHỮA CHÁY TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm Dịch vụ phòng cháy chữa cháy - một hàng hoá công cộng

1.1.1.1 Khái niệm dịch vụ phòng cháy chữa cháy

Để tìm hiểu khái niệm dịch vụ PCCC chúng ta cần phân tích, nghiê ncứu hai khái niệm độc lập là khái niệm dịch vụ và khái niệm PCCC

Một là khái niệm dịch vụ: Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau vềdịch vụ: Có quan điểm cho rằng, dịch vụ chỉ là hoạt động của những ngànhphục vụ, tức là một công việc cho người khác hay cho cộng đồng, làm mộtviệc mà hiệu quả của nó đáp ứng yêu cầu nào đó của con người như: vậnchuyển, sửa chữa, bảo dưỡng…

Lại có quan niệm cho rằng: Dịch vụ là hoạt động cung ứng lao độngkhoa học, kỹ thuật nghệ thuật… nhằm đáp ứng nhu cầu về sản xuất, kinhdoanh, đời sống vật chất, tinh thần các hoạt động ngân hàng tín dụng, cầm đồ,bảo hiểm

Theo quan điểm của kinh tế học hiện đại dịch vụ được hiểu rộng hơn,bao gồm tất cả các ngành, các lĩnh vực tạo ra giá trị tổng sản phẩm quốc nộihay tổng sản phẩm quốc dân trừ các sản phẩm hiện vật

Quan niệm của C Mác hàng hoá được chia ra làm hai bộ phận: hànghoá hữu hình và hàng hoá vô hình hay dịch vụ Do đó, hàng hoá dịch vụ cũnggiống các hàng hoá khác đều có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng

Trang 14

Tuy vậy, hiểu một cách chung nhất thì dịch vụ là: những hoạt động lao động mang tính xã hội cao, tạo ra các sản phẩm hàng hoá không tồn tại dưới hình thái vật thể nhằm thoả mãn nhu cầu sản xuất và đời sống của con người một cách kịp thời, thuận lợi và hiệu quả hơn [29, tr.12].

Mặc dù vậy, có thể hiểu dịch vụ bằng cách xem xét các đặc điểm nổibật và khác biệt của dịch vụ so với hàng hoá Có ba đặc điểm nổi bật sau:

Thứ nhất, dịch vụ mang tính vô hình Tính vô hình của dịch vụ thể hiện

ở chỗ sản phẩm dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật chất bằng những vậtphẩm cụ thể, không nhìn thấy được và do đó không thể xác định chất lượng dịch

vụ trực tiếp bằng những chỉ tiêu kỹ thuật được lượng hóa

Thứ hai, quá trình sản xuất (cung ứng) dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ xảy

ra đồng thời Trong nền kinh tế hàng hóa, sản xuất hàng hóa tách khỏi lưuthông và tiêu dùng Do đó hàng hóa có thể được lưu kho để dự trữ, có thể vậnchuyển đi nơi khác theo nhu cầu của thị trường Khác với hàng hóa, quá trìnhcung ứng dịch vụ gắn liền với tiêu dùng dịch vụ Thí dụ với dịch vụ tư vấnđầu tư, khi chuyên gia về đầu tư tư vấn khách hàng cũng là lúc khách hàngtiếp nhận và tiêu dùng xong dịch vụ tư vấn do người chuyên gia này cungứng

Thứ ba, không thể lưu trữ được dịch vụ Sự khác biệt này là do sản xuất

và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời nên không thể sản xuất dịch vụ hàngloạt và lưu giữ trong kho sau đó mới tiêu dùng

Như vậy, dịch vụ là một lĩnh vực mở, thay đổi và phát triển tuỳ thuộcvào sự phát triển sâu rộng của phân công lao động xã hội, của tiến bộ khoahọc công nghệ và của kinh tế thị trường hiện đại Dịch vụ là phương tiện hữuhiệu để thực hiện mục tiêu “vì con người”, tạo khả năng cho con người pháttriển toàn diện

Hai là, khái niệm Phòng cháy chữa cháy: Để hiểu được khái niệm vềPhòng cháy chữa cháy (PCCC) trước hết phải hiểu thế nào là cháy Theo luật

Trang 15

PCCC: Cháy là: “trường hợp xảy ra cháy không kiểm soát đựơc có thể gây

thiệt hại về người, tài sản và ảnh hưởng môi truờng” [26, tr.8].

Do đó, việc nghiên cứu tìm ra bản chất, quy luật của quá trình phátsinh, phát triển đám cháy đối với mỗi chất, mỗi quá trình trong công nghệ sảnxuất, trong mọi hoạt động bình thường của xã hội…là để tìm ra các giải phápphòng ngừa có hiệu quả, đó chính là hoạt động phòng cháy Khoa học về

phòng cháy và chữa cháy chỉ ra rằng: Phòng cháy là tổng hợp các biện pháp,

giải pháp về tổ chức, kỹ thuật nhằm loại trừ hoặc hạn chế các điều kiện và nguyên nhân gây cháy, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cứu người, cứu tài sản, chống cháy lan khi xảy ra cháy và cho việc dập tắt đám cháy [10, tr.7].

Tuy nhiên, sự cháy phát sinh và phát triển thành đám cháy là một quátrình hết sức phức tạp do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong

đó có những nguyên nhân do sơ xuất bất cẩn hoặc ngoài sự kiểm soát của conngười đã và sẽ tiếp tục tồn tại, gây nên những vụ cháy có thể gây tổn hại lớn

về người và tài sản Vì vậy, việc phòng cháy phải đi đôi với chữa cháy, hoạtđộng chữa cháy tồn tại như một tất yếu trong các mặt hoạt động chung của xãhội Theo khoa học về phòng cháy và chữa cháy thì chữa cháy là tổng hợp cácbiện pháp về tổ chức, kỹ thuật và chiến thuật để cứu người, cứu tài sản, chốngcháy lan và dập tắt đám cháy

Như vậy, ta thấy Phòng cháy và chữa cháy tuy là hai khái niệm có nộidung khác nhau nhưng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo nên một thểthống nhất trong hoạt động PCCC, từ đó có thể khái quát thành khái niệm

chung về phòng cháy và chữa cháy như sau: Phòng cháy và chữa cháy là tổng

hợp các biện pháp, giải pháp về tổ chức, chiến thuật và kỹ thuật nhằm loại trừ hoặc hạn chế nguyên nhân, điều kiện gây cháy; tạo điều kiện thuận lợi cho việc chủ động cứu người, cứu tài sản, chống cháy lan và chữa cháy kịp thời, có hiệu quả khi có cháy xảy ra [10, tr.8].

Trang 16

Từ việc nghiên cứu hai khái niệm trên chúng ta có thể rút ra kết luận vềdịch vụ PCCC như sau:

Là những hoạt động lao động mang tính xã hội cao, tạo ra các sản phẩm hàng hoá không tồn tại dưới hình thái vật thể bao gồm các biện pháp, giải pháp về tổ chức, chiến thuật và kỹ thuật nhằm loại trừ hoặc hạn chế nguyên nhân, điều kiện gây cháy; tạo điều kiện thuận lợi cho việc chủ động cứu người, cứu tài sản, chống cháy lan và chữa cháy kịp thời, có hiệu quả nhằm thoả mãn nhu cầu sản xuất và đời sống của con người một cách kịp thời, thuận lợi và hiệu quả.

1.1.1.2 Khái niệm hàng hoá công cộng.

Trong nền kinh tế thị trường, người ta thường chia các loại hàng hoáthành hai nhóm là hàng hoá cá nhân và hàng hoá tập thể hay hàng hoá côngcộng Hàng hoá cá nhân là loại hàng hoá mà nếu một người đã sử dụng và tiêudùng nó thì người khác không thể tiêu dùng nó được nữa Người này nếumuốn tiêu dùng hàng hoá cá nhân thuộc quyền sở hữu của người kia thì phảimua, thuê, mượn

Khác với hàng hoá cá nhân, hàng hoá công cộng mang những đặc trưngkhác biệt và có rất nhiều quan niệm khác nhau về hàng hoá công cộng:

- Từ điển kinh tế học hiện đại (1999) do D.Pearce cho rằng: hàng hoácông cộng là hàng hoá hoặc dịch vụ mà nếu đã sản xuất và cung ứng cho mộtngười nào đó thì đối với những người khác cũng được cung cấp như vậy mà khôngphải chịu bất cứ chi phí nào thêm

- P Samuelson định nghĩa: Hàng hoá công cộng là những hàng hoá màlợi ích của nó có thể phân chia trong toàn bộ cộng đồng mà không phân biệt một

cá nhân nào đó mong muốn mua hàng hoá đó hay không

- D.Begg cho rằng: Hàng hoá công cộng là một loại hàng hoá mà ngay

cả khi một người đã dùng thì người khác vẫn có thể dùng được [8]

Trang 17

Như vậy, chúng ta thấy rằng có nhiều quan niệm khác nhau về hànghoá công cộng, nhưng theo tôi quan niệm của D.Begg là hợp lý hơn cả Vớiđịnh nghĩa này ta thấy được sự khác biệt rất lớn giữa hàng hoá cá nhân vàhàng hoá công cộng Nếu hàng hoá cá nhân được sản xuất, phân phối, tiêudùng chịu sự chi phối hoàn toàn bởi các quy luật kinh tế của thị trường thìhàng hoá công cộng không hoàn toàn theo cơ chế thị trường, nghĩa là khônghoàn toàn lấy lợi nhuận đơn thuần là mục tiêu và do tính xã hội của hàng hoánên nó được nhà nước quản lý.

1.1.1.3 Các đặc trưng cơ bản của hàng hoá dịch vụ phòng cháy chữa cháy

Hàng hoá dịch vụ PCCC là hàng hoá công cộng nên ngoài các đặctrưng có tính đặc thù ra thì nó vẫn mang các đặc trưng cơ bản của hàng hoácông cộng

* Đặc trưng chung của hàng hoá công cộng.

Hàng hoá công cộng được đề cập lần đầu tiên trong một bài báo củaPaul Samuelson viết năm 1945 Trong bài báo này Samuelson cho rằng hànghoá công cộng có hai thuộc tính cơ bản là tính tiêu dùng không đối đầu (non -rivalry) và tính tiêu dùng không loại trừ (non - excludability)

Tiêu dùng không đối đầu: có nghĩa là những người tiêu dùng không bịđặt vào tình huống đối đầu nhau khi cùng sử dụng một hàng hoá Tiêu dùngcủa người này không làm giảm tiêu dùng hàng hoá công của người kia

Tiêu dùng không loại trừ: có nghĩa là tiêu dùng của người này khôngngăn cản tiêu dùng của người khác Những người đang tiêu dùng không thểcấm những người chưa tiêu dùng, dùng hàng hoá như mình Trong ví dụ côngviên, những người ở trong công viên không thể cấm người khác đang đi vàocông viên với lý do rằng công viên này đang thuộc quyền sử dụng của nhữngngười đến trước Hay như việc nhà nước thực hiện các chương trình chăm sócsức khoẻ quốc gia (tiêm phòng chống bại liệt) mọi người dân đều được hưởngdịch vụ trên

Trang 18

Như vậy, chúng ta thấy rằng bản chất kinh tế của hàng hoá công cộng

là chi phí sản xuất vô cùng lớn (để phục vụ nhiều người) nhưng khi sản xuấtxong, chi phí để chấp nhận thêm một người sử dụng mới là 0.Vì vậy, đối vớihàng hoá dịch vụ việc sản xuất và cung ứng thường thuộc về nhà nước

* Đặc trưng mang tính đặc thù của hàng hoá dịch vụ phòng cháy chữa cháy

Trên cơ sở nghiên cứu và kế thừa các công trình nghiên cứu trước đây,

ta có thể rút ra các đặc trưng đặc thù của hàng hoá dịch vụ PCCC với tư cách

là hàng hoá công cộng như sau:

Thứ nhất, Dịch vụ PCCC là dịch vụ công ích mang tính xã hội cao, gắn

với an toàn và an ninh cuộc sống của mọi người, mọi doanh nghiệp, mọi cơquan

Như chúng ta biết, việc sử dụng dịch vụ PCCC đem lại nhiều lợi íchcho người sử dụng Mỗi một người dân khi sử dụng dịch vụ PCCC khôngnhững được hưởng những lợi ích nhất định (hay đúng hơn là tránh được thiệthại) mà còn là chủ thể tham gia vào dịch vụ này Chỉ cần một sơ suất củangười dân trong việc dùng lửa, dùng điện, một sự sơ suất của công nhân trongviệc sắp xếp, vận chuyển hàng hoá, nhất là những hàng hoá dễ cháy, nổ hoặc

là một sự thiếu thận trọng trong thiết kế xây dựng, như tính toán không đúnggiới hạn chịu lửa, chịu nhiệt của cấu điện, dùng vật liệu dễ cháy ở vách, trầnnhà…là có thể gây hoả hoạn làm thiệt hại tài sản và sinh mệnh của nhân dân

Nếu mọi người dân có ý thức cảnh giác phát hiện và báo kịp thời các vụhoả hoạn cho lực lượng PCCC thì sẽ làm tốt được dịch vụ PCCC, hạn chế,ngăn ngừa được thiệt hại và tổn thất không nhỏ do cháy, nổ gây ra

Như vậy, dịch vụ PCCC mang tính xã hội cao, bởi vậy việc tổ chức vàthực hiện dịch vụ này phải dựa trên cơ sở huy động các nguồn lực của nhândân, mỗi người dân đều có thể trở thành chủ thể tham gia công tác PCCC, mọiđơn vị kinh tế, mọi cơ quan phải chủ động chuẩn bị các phương tiện PCCC.Dịch vụ PCCC thực hiện trên nguyên tắc nhà nước và nhân dân cùng làm

Trang 19

Thứ hai, Phát triển dịch vụ phòng cháy chữa cháy rất cần vai trò quản

lý của nhà nước

Như phân tích ở phần trước, Dịch vụ PCCC là hàng hoá công cộng cóchi phí cận biên thấp hơn thu nhập cận biên rất nhỏ và có thể loại trừ nhưngkhông muốn loại trừ Vì vậy, hàng hoá này không chỉ dựa vào sự điều tiết củathị trường mà vai trò của nhà nước phải giữ vị trí chủ đạo nhằm huy độngnguồn lực của toàn dân trong việc cung ứng Muốn phát huy vai trò chủ đạocủa nhà nước trong quản lý và phát triển dịch vụ PCCC thì trước hết nhà nướcphải hoàn thiện luật pháp về PCCC, giám sát và kiểm tra nghiêm ngặt việctuân thủ các quy phạm pháp luật ấy; quy định rõ ràng trách nhiệm và quyềnhạn của mọi cấp mọi ngành, mọi công dân trong việc PCCC, xử lý nghiêmmọi hành vi phạm pháp Thực tế cho thấy: phòng cháy hơn chữa cháy, vì vậycông tác giám sát, kiểm tra, phát hiện sớm những sai phạm trong lĩnh vực này

có tầm quan trọng đặc biệt so với các lĩnh vực khác

Thứ ba, Dịch vụ phòng cháy chữa cháy chịu ảnh hưởng rất lớn của thời

tiết, khí hậu và thuộc tính lý, hoá của hàng hoá nhất là những hàng hoá dễcháy, dễ nổ

Cũng như các ngành dịch vụ khác, ngành dịch vụ PCCC chịu ảnhhưởng lớn của thời tiết, khí hậu và các thuộc tính lý, hoá… Những năm có khíhậu khô, hanh, hạn hán thường dễ gây cháy rừng Những doanh nghiệp sửdụng thiết bị tiêu thụ nhiều điện, nhiệt, sấy, chất nổ, xăng dầu…phải soạnthảo qui chế PCCC chặt chẽ, chuẩn bị phương án PCCC chu đáo, giáo dục ýthức PCCC cao cho mọi cán bộ, công nhân; phương tiện thông tin về cháynhanh nhạy, phải tăng cường kiểm tra chuyên đề

Đối với những cơ sở trọng điểm này phải có sự phối hợp giữa cơ quanquản lý nhà nước về PCCC với các đơn vị hữu quan, như Tổng công ty điệnlực, tổng công ty xăng dầu, tổng công ty dầu khí, tổng công ty hoá chất…

Trang 20

Thứ tư, Dịch vụ phòng cháy chữa cháy có mối quan hệ khăng khít với

quốc phòng, an ninh nói chung, bởi vậy cần phải lồng ghép dịch vụ PCCC vớicác chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, hệ thống quốc phòng toàndân

Trong các nguyên nhân gây cháy nổ có không ít trường hợp do âm mưuphá hoại, gây rối trật tự, như các thế lực phản động trong nước hoặc ngoàinước thâm nhập vào để phá kho xăng, nhà máy điện; hoặc kẻ phạm pháp gâycháy để phi tang tài liệu, chứng cớ nhằm che dấu tội ác… Trong nhữngtrường hợp này không thể tách riêng dịch vụ PCCC mà phải gắn nó với các cơquan hữu quan trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh mới thực hiện tốt dịch vụnày được

Thứ năm, Hoạt động dịch vụ PCCC có thể phân thành tám nhóm với

các đặc điểm mang tính chất đặc thù

Ở nước ta hiện nay có rất nhiều loại hình dịch vụ hoạt động thông quacác nghề có liện quan đến công tác đảm bảo an toàn PCCC Mỗi loại hình có mộtđặc thù riêng và do vậy công tác quản lý đối với mỗi loại hình dịch vụ này cũngkhác nhau Dựa trên những nhóm nghề hoạt động có cùng tính chất, đặc điểm cùngnhững yêu cầu cơ bản trong công tác quản lý nhà nước có thể phân loại hoạt độngdịch vụ PCCC thành tám nhóm sau:

+ Xuất nhập khẩu phương tiện PCCC: Là hoạt động mua bán, tạm nhậptái xuất, tạm xuất tái nhập hoặc chuyển khẩu của thương nhân Việt Nam vớithương nhân nước ngoài qua biên giới, qua lãnh thổ hoặc khu chế xuất bằng conđường chính ngạch, tiểu ngạch các loại phương tiện PCCC

+ Làm mới phương tiện PCCC: Hoạt động này bao gồm sản xuất mới,gia công, cải hoán, sửa chữa, san nạp, bảo dưỡng, bảo trì, các loại phương tiện, hệthống PCCC Dịch vụ này còn mang tính tự phát, chưa có sự quản lý của cơ quanhà nước, nhiều dịch vụ không có chuyên môn, nghiệp vụ PCCC mà chủ yếu làmkinh tế là chính

Trang 21

+ Kinh doanh phương tiện PCCC: Theo Điều 3 - Luật doanh nghiệp thìkinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trinhđầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trườngnhằm mục đích sinh lợi.

Do tính chất đặc thù riêng, hoạt động kinh doanh phương tiện PCCC làhoạt động mua bán, cung ứng của thương nhân với người tiêu dùng trongphạm vi lãnh thổ Việt Nam các phương tiện PCCC

+ Thiết kế hệ thống PCCC: Theo Từ điển tiếng Việt - thiết kế là thiếtlập các tài liệu kĩ thuật toàn bộ gồm có bản tính toán, bản vẽ…để có thể theo đó

mà xây dựng công trình, sản xuất thiết bị, sản phẩm…

Theo quy định tại Điều 16 - Luật PCCC, tất cả các công trình đều phảithiết kế hệ thống PCCC và phải được cơ quan quản lý nhà nước về PCCC phêduyệt Hiện nay, hoạt động thiết kế PCCC có thể chia thành hai loại chính đó

là thiết kế PCCC trong quy hoạch và thiết kế PCCC trong xây dựng côngtrình

+ Lắp đặt hệ thống PCCC: Hoạt động lắp đặt hệ thống PCCC là hoạtđộng thi công thực hiện các giải pháp phòng cháy chữa cháy theo các tài liệu thiết

kế đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt (lắp đặt hệ thống báo, chữa cháy tựđộng hoặc bán tự động, hệ thống đèn chỉ dẫn thoát nạn, hệ thống chiếu sáng sựcố…)

+ Tư vấn phòng cháy chữa cháy: Theo Từ điển Tiếng Việt, tư vấn làphát biểu ý kiến về những vấn đề được hỏi đến nhưng không có quyền quyết định.Trong thực tế PCCC, hoạt động tư vấn PCCC bao gồm tư vấn trong việc lựa chọnloại phương tiện PCCC, chọn đơn vị thiết kế, thi công hệ thống PCCC, tư vấn phápluật PCCC… Theo quy định pháp luật, chỉ có trung tâm nghiên cứu khoa học kỹthuật và ứng dụng trong PCCC của Cục cảnh sát PCCC và của trường Đại họcPCCC có đủ thẩm quyền hoạt động trong lĩnh vực này

Trang 22

+ Bảo hiểm cháy: Là sự phối hợp giữa công ty bảo hiểm với các cơquan và đơn vị hữu quan trong việc phòng cháy, huy động một phần thu từ bảohiểm cháy để làm kinh phí thực hiện dịch vụ phòng cháy và chữa cháy; đến bùthiệt hại do cháy giúp các cá nhân và đơn vị mua bảo hiểm có điều kiện khắc phụchậu quả của hoả hoạn, khôi phục kinh doanh và cuộc sống, đảm bảo anh ninh xãhội.

+ Huấn luyện, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ phòng cháy chữacháy Theo chức năng, nhiệm vụ, theo quy định của pháp luật hiện nay chỉ có trungtâm của Cục cảnh sát PCCC và trường Đại học PCCC có đầy đủ chức năng, trình

độ chuyên môn, nghiệp vụ tổ chức huấn luyện, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụphòng cháy chữa cháy nhằm trang bị kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ PCCC chocác đối tượng có nhu cầu

Từ sự phân tích các đặc điểm đặc thù của dịch vụ PCCC rút ra mấy nhận xét sau đây:

+ Dịch vụ PCCC là hàng hoá công cộng gắn với đặc trưng có thể loại trừ nhưng không muốn loại trừ

+ Ngành dịch vụ PCCC là ngành dịch vụ có thu, thực hiện theo quanniệm dịch vụ PCCC là HHCC và phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm,nên đòi hỏi phải tổ chức lại bộ máy ngành PCCC có tính chất của ngành dịch vụ

mà sản phẩm của nó là HHCC, phải có một cơ chế thu chi tài chính mới phù hợp

Như vậy, dịch vụ PCCC vừa mang tính chất dịch vụ và hàng hoá côngcộng nói chung vừa có tính chất riêng của một loại dịch vụ công ích có tính xãhội hoá cao, liên quan đến mọi người, mọi doanh nghiệp, mọi ngành, bảo đảm

an toàn cho sự phát triển kinh tế - xã hội

1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước về phòng cháy chữa cháy

PCCC là một lĩnh vực hoạt động có liên quan trực tiếp đến trật tự antoàn xã hội cho nên rất cần có sự quản lý, điều chỉnh và tác động của nhà

Trang 23

nước Nhận thức được tầm quan trọng đó, năm 1961 Nhà nước ta đã ban hànhPháp lệnh quy định việc quản lý nhà nước về PCCC Luật PCCC đã đượcQuốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 9 thông qua một lần nữa xác định trách nhiệmcủa các cơ quan nhà nước trong quản lý nhà nước về PCCC Là một bộ phậntrong quản lý nhà nước về an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, quản lý

nhà nước về PCCC là: sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực

pháp luật của nhà nước đối với các hoạt động trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy của các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy xảy ra và thiệt hại do cháy gây ra góp phần bảo vệ tính mạng, bảo vệ tài sản của nhà nước, của tổ chức, cá nhân, bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh và trật tư an toàn xã hội [10,

tr.10]

Như vậy, phòng cháy chữa cháy là một lĩnh vực cần có sự quản lý củanhà nước với mục tiêu kiềm chế sự gia tăng các vụ cháy và thiệt hại do cháygây ra, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ đắc lực sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước

Có nhiều cách tiếp cận vấn đề quản lý Nhà nước đối với dịch vụ PCCC,dưới quan điểm kinh tế chính trị học, nghiên cứu này sẽ tiếp cận theo hướngxem xét đối tượng quản lý Nhà nước về dịch vụ PCCC như là quản lý Nhànước về cung- cầu dịch vụ PCCC Trên cơ sở tiếp cận như vậy, nghiên cứucũng sẽ xem xét thêm một số cơ sở lý luận về cung- cầu dịch vụ PCCC

Khái niệm cung - cầu dịch vụ PCCC

Nhu cầu, trong kinh tế học thường được hiểu là mong muốn tiêu dùnghay còn được gọi là sở thích tiêu dùng Trong kinh tế học, nhu cầu nếu có khảnăng tài chính để đáp ứng thì sẽ được hiểu là cầu

Cầu là số lượng hàng hóa và dịch vụ mà người mua có khả năng và sẵnsàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định, với các điềukiện khác là không thay đổi Cầu khác nhu cầu vì nhu cầu là những mongmuốn và nguyện vọng của con người (thường là vô hạn) Sự khan hiếm làm

Trang 24

cho hầu hết các nhu cầu không được thỏa mãn Cầu là nhu cầu có khả năngthanh toán, tức là nhu cầu được đảm bảo bằng một số lượng tiền tệ để có thểmua được số hàng hóa Như vậy, cầu xoay quanh hai yếu tố: mong muốn sẵnsàng tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ và khả năng thanh toán.

Cầu được chia làm hai loại là cầu của cá nhân và cầu thị trường Nếunhư cầu của cá nhân phản ánh cầu của từng người tiêu dùng đối với một loạihàng hóa hoặc dịch vụ nào đó thì cầu của thị trường là cái mà ta có thể quansát được vì nó là tổng tất cả các cầu cá nhân của hàng hóa và dịch vụ đó

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cầu như: thu nhập của người tiêu dùng,giá cả của các loại hàng hóa liên quan, sở thích hay thị hiếu của người tiêudùng, các chính sách của Chính phủ…

- Nếu sản phẩm, dịch vụ mà người mua có nhu cầu là hàng hóa thiếtyếu hoặc hàng hóa xa xỉ hay hàng hóa cao cấp, thì khi thu nhập tăng, lượng cầusản phẩm, dịch vụ này cũng tăng

- Nếu là sản phẩm, dịch vụ thứ cấp, thì khi thu nhập tăng, lượng cầu mặt hàng lại giảm vì sở thích của khách hàng thay đổi

Vì vậy, trong phạm vi đề tài này chúng ta tập trung nghiên cứu cầu thịtrường về dịch vụ PCCC tức là tổng tất cả cầu cá nhân của hàng hóa dịch vụPCCC và xem xét dịch vụ PCCC như là một hàng hóa thiết yếu

Khác với cầu, cung là số lượng hàng hóa và dịch vụ mà nhà cung cấp

có khả năng và sẵn sàng cung ứng ở các mức giá khác nhau trong một thờigian nhất định với điều kiện các yếu tố khác không thay đổi Với dịch vụPCCC, đây là một hàng hóa cộng cộng nên nhà cung cấp chủ yếu ở đây làNhà nước, có những dịch vụ chỉ có thể là Nhà nước cung cấp như: tạo môitrường pháp lý, xây dựng cơ sở hạ tầng PCCC thanh tra, kiểm tra xử lý viphạm… nhưng cũng có những khâu dịch vụ có thể xã hội hóa: cung cấp thiết

bị PCCC, tư vấn, thiết kế an toàn PCCC…

Trang 25

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cung như chính sách và quy định của chính phủ, công nghệ, giá của các yếu tố sản xuất, số lượng nhà cung ứng…

Với cách tiếp cận như trên, có thể hiểu quản lý Nhà nước đối với cung dịch vụ PCCC trên 02 nội dung:

- Quản lý Nhà nước đối với cung dịch vụ PCCC về mặt vĩ mô: cung cấp cơ sở hạ tầng, tạo môi trường pháp lý, thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm

- Quản lý Nhà nước đối với cung dịch vụ PCCC về công tác hỗ trợ: đàotạo nguồn nhân lực, tư vấn thiết kế an toàn PCCC, cung cấp thông tin, chuyển giaokhoa học công nghệ

1.1.3 Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Theo luật doanh nghiệp, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng,

có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy địnhcủa pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh

Theo luật đầu tư, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồmdoanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu

tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổphần, sát nhập, mua lại và tham gia quản lý hoạt động đầu tư

Vậy doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu nhưthế nào? Như chúng ta biết, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tàisản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu

tư theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham giavới các hình thức đầu tư trực tiếp như:

- Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài

- Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước

và nhà đầu tư nước ngoài

Trang 26

- Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BTO, hợp đồng BT

- Đầu tư phát triển kinh doanh

- Mua cổ phiếu hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư

- Đầu tư thực hiện việc sát nhập và mua lại doanh nghiệp

- Các hình thức đầu tư trực tiếp khác

Trên cơ sở phân tích như trên có thể đưa ra khái niệm doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài như sau: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là

một phạm trù chỉ tất cả các loại hình doanh nghiệp có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài với tỷ lệ vốn góp không thấp hơn 49% vốn điều lệ của doanh nghiệp, được thành lập và hoạt động theo luật đầu tư, luật doanh nghiệp và các văn bản pháp luật có liên quan nhằm múc đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.

1.2 Vai trò quản lý nhà nước đối với dịch vụ phòng cháy chữa cháy trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.1 Nội dung quản lý nhà nước đối với dịch vụ phòng cháy chữa cháy trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Cũng như các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội, PCCC được đặttrong nội dung quản lý của nhà nước bởi đây là lĩnh vực rất nhạy cảm, liênquan trực tiếp đến sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội Quản lý nhànước đối với dịch vụ PCCC thể hiện đầy đủ tính chất của quản lý hành chínhnhà nước: đó là quá trình quản lý mang tính chính trị, tính khoa học, tính toàndiện, tính dân chủ Đồng thời thể hiện những đặc điểm cơ bản của quản lý là

sự tác động và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật, mang tính mệnh lệnh đơnphương của chủ thể quản lý đối với khách thể Sự tác động đó được chủ thểthực hiện thông qua các hình thức, phương pháp, biện pháp được pháp luậtquy định Theo quy định tại điều 58 luật PCCC, chủ thể quản lý nhà nước vềdịch vụ PCCC bao gồm: Chính phủ; Bộ công an và uỷ ban nhân dân các cấp

Trang 27

Quản lý nhà nước đối với dịch vụ PCCC phải gắn liền một cách tất yếuvới xã hội hoá công tác PCCC Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối vớidịch vụ này không loại trừ mà trái lại phải từng bước nâng cao về chất việc xãhội hoá công tác PCCC Có thể khẳng định PCCC là yêu cầu tự thân, là quyluật trong sự phát triển của bất kỳ nền kinh tế - xã hội nào Kinh tế càngmạnh, xã hội càng phát triển càng phải sử dụng nhiều hàng hoá dịch vụPCCC Việc làm cho mỗi thành viên trong xã hội, mỗi gia đình, mỗi cơ sở vàcác cấp các ngành quan tâm, tự giác thức hiện là điều kiện đảm bảo cho việcthực hiện tốt các nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với dịch vụ này.

Theo Điều 57 Luật Phòng cháy chữa cháy, nội dung quản lý nhà nước

về PCCC được xác định thông qua những nhiệm vụ cụ thể chủ yếu sau đây:

* Nhà nước quản lý dịch vụ PCCC trước hết là sự quản lý trên tầm vĩ

mô, thể hiện ở việc xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch

về hoạt động PCCC; Ban hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản quyphạm pháp luật về PCCC, đảm bảo cho hoạt động Phòng cháy và chữa cháy thốngnhất từ trung ương đến cơ sở

* Nhà nước quản lý các hoạt động đảm bảo việc thực hiện các quy định

về phòng cháy và chữa cháy như: tuyên truyền, giáo dục pháp luật và kiến thức vềphòng cháy và chữa cháy; tổ chức và chỉ đạo hoạt động PCCC trong từng ngành,từng địa phương, từng cơ sở, cụm dân cư…

* Nhà nước quản lý công tác đào tạo, xây dựng lực lượng, trang bị vàquản lý phương tiện PCCC; đảm bảo ngân sách cho hoạt động phòng cháy và chữacháy; tổ chức hoạt động bảo hiểm cháy, nổ gắn với hoạt động PCCC

* Nhà nước đảm bảo và trao quyền cho các cơ quan có trách nhiệmtrong việc đảm bảm bảo các yếu cầu PCCC như thẩm định, phê duyệt các dự án,thiết kế và nghiệm thu công trình xây dựng về PCCC; kiểm định và chứng nhận antoàn phương tiện; tiến hành thanh tra và kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếunại, tố cáo về PCCC; điều tra vụ cháy

Trang 28

* Nhà nước khuyến khích và có chính sách hợp lý nhằm thúc đẩy việcnghiên cứu, ứng dụng, phổ biến tiến bộ khoa học công nghệ về PCCC; thực hiệnhợp tác quốc tế về PCCC.

Để thực hiện được những nhiệm vụ trên nhà nước cần tiến hành các nộidung hoạt động cụ thể sau đây:

Một là, Ban hành hệ thống văn bản pháp quy quản lý các dịch vụPCCC

Để quản lý các hoạt động dịch vụ PCCC, nhà nước đã ban hành rấtnhiều các văn bản quy phạm pháp luật và đang từng bước bổ sung, hoàn thiệncác văn bản cho phù hợp với sự phát triển của kinh tế - xã hội Hệ thống cácvăn bản quản lý là cơ sở pháp lý, là công cụ để các cơ quan quản lý thực hiệnnhiệm vụ quản lý nhà nước đối với các dịch vụ PCCC

Hệ thống văn bản quản lý các hoạt động dịch vụ PCCC bao gồm cácvăn bản luật và các văn bản dưới luật được chia thành hai nhóm cơ bản:Nhóm các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở cho công tác quản lý nhànước đối với các hoạt động dịch vụ PCCC và nhóm các văn bản quy phạmpháp luật như tiêu chuẩn, quy phạm kĩ thuật an toàn phòng cháy…quy địnhyêu cầu an toàn PCCC, yêu cầu về chất lượng, chủng loại, loại phương tiệnPCCC cho tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội

Nhìn chung các văn bản quản lý đã phần nào đã phần nào đáp ứngnhững nguyên tắc cơ bản, xác định nội dung, mối quan hệ, trách nhiệm giữachủ thể và khách thể trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch

vụ PCCC Tuy nhiên, giữa các văn bản còn có chồng chéo, có nhiều nội dungcòn chung chung chưa đi vò cụ thể, có nhiều vấn để thực tiễn xã hội đã đặt racần thiết có văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể nhưng chưa đượcđáp ứng kịp thời Mặt khác, có một số văn bản đã ban hành nhưng ngay lúc đó

đã lạc hậu hoặc lại không giải quyết được yêu cầu thực tế đặt ra, hoặc tuy rađời do yêu cầu thực tiễn đòi hỏi nhưng đề cập đến những vấn đề quá lớn,

Trang 29

khá bao quát, thiếu cụ thể gây khoa khăn trong quá trình thực hiện Đây lànhững khó khăn tác động đến công tác quản lý nhà nước đối với hoạt độngdịch vụ PCCC.

Hai là, tổ chức các hoạt động quản lý hoạt động dịch vụ PCCC

Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật, các cấp, các ngành cần có

sự phối hợp với nhau trong quá trình quản lý hoạt động của dịch vụ PCCC

Cụ thể: Phải chịu trách nhiệm đăng ký, kiểm kê, nắm các cơ sở hoạt độngdịch vụ PCCC; Tiến hành thanh tra, kiểm tra các hoạt động dịch vụ PCCC vìvới hoạt động này sẽ xác định rõ cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt độngdịch vụ, loại hình dịch vụ đang hoạt động so với loại hình đã đăng ký, trình độchuyên môn của cán bộ trực tiếp tham gia hoạt động dịch vụ PCCC Mặtkhác, trong thực tế hiện nay công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lýnhà nước còn nhiều hạn chế Hầu hết cán bộ thực hiện công tác này chưa thựchiện hết chức năng của mình vì nếu thực hiện tốt sẽ không có tình trạng cácdịch vụ hoạt động tràn lan như hiện nay; Sau quá trình thanh tra, kiểm tra,trong phạm vi của mình cán bộ thanh tra có quyền lập biên bản vi phạm vàtiến hành xử lý Nếu mức vi phạm ngoài thẩm quyền, thì cán bộ thực hiệncông tác thanh tra, kiểm tra báo cáo lên cấp trên để giải quyết Xử lý vi phạmnhằm hướng các dịch vụ PCCC hoạt động đúng theo quỹ đạo của pháp luật

Ba là, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý nhà nước đốivới hoạt động dịch vụ PCCC

Đây là yếu tố cơ bản nhằm tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối vớidịch vụ PCCC Như chúng ta biết cơ sở phục vụ cho công tác quản lý nhànước đối với dịch vụ này thiếu thốn một cách báo động Các trung tâm thựcnghiệm khoa học kỹ thuật PCCC chưa xây dựng có chăng chỉ ở dạng bảnthảo, các phương tiện trang bị, phục vụ cho công tác kiểm tra PCCC còn lạchậu…Điều này đã gây khó khăn không nhỏ cho hoạt động quản lý và đó cũng

Trang 30

là một trong những nguyên nhân làm cho công tác quản lý nhà nước đối vớihoạt động dịch vụ PCCC kém hiệu quả.

1.2.2 Tầm quan trọng của quản lý nhà nước đối với dịch vụ phòng cháy chữa cháy trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta

Trong công tác PCCC, để đảm bảo an toàn không để cháy nổ xảy ra cầnthực hiện tốt phương châm “tích cực phòng ngừa” Để góp phần thực hiệnthắng lợi phương châm này cần thiết phải quản lý thật tốt các hoạt động dịch

vụ PCCC Nếu để các dich vụ này phát triển và hoạt động tự phát sẽ khôngthể đảm bảo an toàn PCCC do không quản lý được chất lượng, chủng loạiphương tiện PCCC đã và đang lưu hành trên thị trường, hơn nữa làm lũngđoạn thị trường trang thiết bị PCCC…

Công tác quản lý nhà nước đối với dịch vụ PCCC ở đây không chỉ đơnthuần là việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn quản lý các hoạt động dịch vụPCCC mà có mục đích chính nhằm tạo môi trường và điều kiện thuận lợi chocác hoạt động dịch vụ này phát triển: Xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật và hệthống văn bản quản lý nhằm hướng dẫn các cơ quan chức năng vận dụng cácquy luật khách quan của kinh tế thị trường đảm bảo thị phần phương tiệnPCCC Việt Nam có chỗ đứng Bên cạnh đó thực tế cho thấy, chỉ khi đưa vàoquản lý các hoạt động dịch vụ PCCC mới thống kê được số cơ sở, tính chấthoạt động của các cơ sở… từ đó mới phân loại được cơ sở và cấp quản lý,mới thực hiện nhiệm vụ công tác công an đấu tranh chống các loại tội phạmphá hoại chính trị, gây rối trật tự an toàn xã hội thông qua hoạt động dịch vụPCCC

Như vậy, có thể nói quản lý nhà nước đối với dịch vụ PCCC có ý nghĩahết sức to lớn đối với sự phát triển của mọi lĩnh vực trong xã hội Đặc biệt,trong sự phát triển của kinh tế thị trường như hiện nay, quản lý nhà nước đốivới dịch vụ PCCC ở các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp có vốn đầu

Trang 31

tư trực tiếp nước ngoài nói riêng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển.Biểu hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, Quản lý nhà nước đối với dịch vụ PCCC tốt sẽ hạn chế đượccác rủi ro do cháy, nổ gây ra

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới tác động nhiều mặt tới kinh tế - xãhội nhiều nước trong đó có nước ta Tình hình kinh tế - xã hội gặp nhiều khókhăn tuy vậy, kinh tế Việt Nam vẫn có sự tăng trưởng, nguồn vốn đầu tư nướcngoài vào nước ta vẫn tiếp tục tăng; nhiều khu đô thị mới được xây dựng, một

số công trình lớn khởi công xây dựng và đi vào hoạt động, Cùng với đó là tìnhtrạng thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, nắng nóng kéo dài gây ảnh hưởng khôngnhỏ đến tình hình cháy, nổ tạo ra nhiều khó khăn, thách thức mới đối với côngtác quản lý nhà nước về PCCC

Theo thống kê của Cục cảnh sát PCCC năm 2008 cả nước xảy ra 1.993

vụ cháy, trong đó có 1.734 vụ cháy ở các cơ sở, nhà dân và 259 vụ cháy rừngtrong đó nổi lên là các vụ cháy ở các cơ sở có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoàivới 24 vụ, gây thiệt hại 365 tỷ đồng, chiếm 59,9% tổng thiệt hại năm 2008

Với một vài nét về thực trạng cháy nói trên cho thấy nếu công tác quản

lý nhà nước về dịch vụ PCCC được thực hiện tốt sẽ cho phép hạn chế xuốngmức tối thiểu những thiệt hại về tính mạng và tài sản do cháy gây lên, giải toảnhững lo lắng, băn khoăn của các tổ chức và chủ thể kinh tế để họ yên tân đầu

tư sản xuất, kinh doanh, từ đó thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xãhội

Thứ hai, làm tốt công tác quản lý nhà nước về dịch vụ PCCC sẽ gópphần đảm bảo an ninh chính trị và an toàn xã hội

Nếu PCCC không tốt, để xảy ra các vụ cháy tại các khu công nghiệp,khu chế xuất… sẽ gây thiệt hại to lớn về người và của, mặt khác còn ảnhhưởng đến môi trường đầu tư, khiến các nhà kinh doanh e ngại đưa vốn vàothực hiện các dự án Có các doanh nghiệp sau khi bị cháy không thể hoặc

Trang 32

chậm khôi phục đã phải huỷ nhiều hợp đồng kinh tế, hợp đồng lao động, làmảnh hưởng đến kinh doanh của các doanh nghiệp hữu quan và khiến nhiềucông nhân lâm vào cảnh thất nghiệp.

Qua số liệu thống kê các phương tiện PCCC nhập khẩu hàng năm chothấy các dịch vụ PCCC đã cung cấp cho các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hộihàng chục vạn đầu phương tiện PCCC, hàng ngàn giải pháp an toàn PCCC.Thiết nghĩ chỉ có nhà nước chịu trách nhiệm về dịch vụ này thì khó có thể đápứng được đòi hỏi các tổ chức cá nhân phải tham gia hoạt động dịch vụ này

Như vậy, dịch vụ PCCC đóng một vai trò không nhỏ trong sự ổn định

và phát triển của kinh tế - xã hội của mỗi một quốc gia Sự phát triển của dịch

vụ PCCC cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ trong giai đoạn hiệnnay đòi hỏi phải từng bước xã hội hoá công tác PCCC Đây là xu hướng pháttriển đúng đắn nhằm phát huy vai trò, trách nhiệm của toàn xã hội, của mỗi cơ

sở, gia đình và từng cá nhân vào hoạt động PCCC Để thực hiện được điềunày, việc nâng cao vai trò quản lý nhà nước của các cấp chính quyền và đặcbiệt là của lực lượng Cảnh sát PCCC là điều kiện tiên quyết để xã hội hoácông tác PCCC đạt kết quả tốt đẹp

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về quản lý nhà nước đối với dịch vụ phòng cháy chữa cháy trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.3.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản, Trung Quốc, Nga

Thực hiện đường lối đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của Đảng vànhà nước ta, các dự án đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng Theothống kê của tổng cục Cảnh sát tính từ năm 1988 đến năm 2008 có 81 quốcgia đầu tư trực tiếp vào nước ta Trong số các quốc gia đó nổi lên có NhậtBản, Trung Quốc, Nga là các quốc gia giàu kinh nghiệm trong công tác quản

lý nhà nước đối với dịch vụ PCCC và có quan hệ giao lưu với nươc ta về lĩnhvực PCCC Qua nghiên cứu tài liệu về sự phát triển của dịch vụ PCCC của

Trang 33

các nước có nền kinh tế phát triển, đặc biệt là Nhật Bản, Trung Quốc, Nga cóthể rút ra được những nhận xét cơ bản sau về công tác quản lý nhà nước đốivới dịch vụ PCCC.

Thứ nhất, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật và kiến thức vềPCCC nhằm nâng cao nhận thức của người dân về dịch vụ PCCC

Đối với các nước phát triển từ rất lâu họ đã coi dịch vụ PCCC là mộthàng hoá công cộng, chính vì vậy để phát triển dịch vụ này các nước đều xácđịnh: cần có sự tham gia của chính phủ trong việc quản lý và cung ứng loạihàng hoá công cộng này, nhằm giảm rủi ro hoả hoạn và thiệt hại do hoả hoạngây ra Mặt khác, các nước này cũng xác định nhà nước quản lý nhưng không

có nghĩa là mọi thành viên trong xã hội đứng ngoài, ỷ lại mà nhà nước phải cóbiện pháp để huy động được các nguồn lực, động viên các thành viên trong xãhội tự giác tham gia Để làm được điều này vai trò của công tác tuyên truyền

có ý nghĩa vô cùng quan trọng

Cũng như các quốc gia khác, Nhật Bản đặc biệt coi trọng công táctuyên truyền giáo dục an toàn PCCC, phòng chống thiên tai và các tai nạnkhác Công tác này xuất phát từ đặc điểm nước Nhật, một quốc gia thườngxuyên phải đối mặt với bão lũ, động đất, núi lửa mà khi có động đất thườngkèm theo cháy (do chập điện, rò rỉ gas ), Hơn nữa, do kinh tế phát triển, côngnghiệp hoá nhanh nên các tai hoạ và hoả hoạn xảy ra với Nhật cũng nhiềuhơn

Để công tác tuyên truyền có hiệu quả Nhật sử dụng các hình thức như:

- Tận dụng các phương tiện thông tin đại chúng như tivi, radio, báo…

để phổ biến pháp luật và các biện pháp an toàn đối với thảm họa Thành lập cácbảo tàng cho nhân dân tham quan về cháy nổ, thảm họa…

- Tuyên truyền thông qua tổ chức, đoàn thể

- In các tờ rơi, quảng bá các biểu tượng PCCC, mở các triển lãm cuộc thi tìm hiểu, vẽ tranh về PCCC

Trang 34

- Thành lập các trung tâm giáo dục an toàn Tại đây mọi người đượcxem phim ảnh về các vụ động đất, các đám cháy lớn đã từng xảy ra và các biệnpháp an toàn để phòng tránh Mọi người được thực hành gọi điện báo cháy, thửcảm giác và cách xử lý khi bị kẹt trong khói lửa, thực hành sơ cấp cứu, thử cácphương tiện PCCC

- Ngoài ra, ở Nhật họ thành lập các đội PCCC thiếu niên với nhiệm vụchính là tuyên truyền PCCC tại trường học, thành lập các đội PCCC tình nguyện,đội PCCC cao tuổi, đội PCCC nữ (vì phụ nữ Nhật thường ở nhà chăm sóc gia đìnhnên có nhiều thời gian hơn) Mặt khác, họ còn mở Website về PCCC nhằm giớithiệu các thông tin hữu ích, tuyên dương các điển hình…

Với các hình thức tuyên truyền như vậy, chính phủ đã giáo dục cho mọingười thấy rõ dịch vụ PCCC rất cần thiết, nó đảm bảo an toàn về kinh tế choquốc gia và các thành viên trong xã hội, vì vậy mọi thành viên trong xã hộiphải có ý thức tham gia vào phát triển dịch vụ này

Cũng như Nhật Bản, Trung Quốc cũng rất coi trọng công tác tuyêntruyền PCCC Trung Quốc cũng đặt lên hàng đầu việc giáo dục cho người dânnhận thức đúng hơn về hàng hoá công cộng này để mọi người có trách nhiệmtham gia phát triển [4, tr.37]

Trước đây, Nga cũng coi công tác PCCC là việc riêng của nhà nước do

đó nhân dân không có trách nhiệm tham gia mà chỉ hưởng thụ Ngày nay, với

sự phát triển của kinh tế thị trường, chính phủ Nga cũng xác định dịch vụPCCC là HHCC cần có sự chăm lo của toàn xã hội Mọi người dân phải cótrách nhiệm phát triển loại dịch vụ này [31, tr.39]

Thứ hai, công tác huy động nguồn kinh phí và trang thiết bị phục vụdịch vụ PCCC theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm

Trước đây việc đầu tư trang thiết bị để hiện đại hoá dịch vụ PCCC là

do nhà nước sử dụng ngân sách để làm Nhưng ngày nay, các quốc gia đềuxác định ngoài nguồn thu chủ đạo từ ngân sách còn phải huy động từ cácdoanh

Trang 35

nghiệp, các hộ gia đình, từ bảo hiểm hoả hoạn để đầu tư cho lực lượng PCCCchuyên nghiệp và tình nguyện.

Nhật Bản xác định rủi ro cháy xảy ra gây thiệt hại không chỉ cho nhữngngười trực tiếp gặp nạn mà còn ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của cả nềnkinh tế - xã hội Kinh tế thị trường càng phát triển, rủi ro cháy càng lớn vàthiệt hại do cháy gây ra càng nhiều Để phòng chống, hạn chế rủi ro cháy xảy

ra đòi hỏi phải có những trang thiết bị tiên tiến, hiện đại cho dịch vụ PCCC,cần một nguồn kinh phí lớn, không thể chỉ dựa vào ngân sách nhà nước cấp

mà toàn xã hội phải tham gia, trước hết là các tập đoàn kinh tế và nguồn thutrích từ bảo hiểm hoả hoạn [36, tr.48]

Hầu hết các nước trên thế giới tập trung đầu tư hiện đại hoá trang thiết

bị cho lực lượng PCCC chuyên nghiệp và nâng cấp thêm phương tiện cho lựclượng tình nguyện, đồng thời chính phủ vận động các tổ chức, các doanhnghiệp tự đầu tư mua sắm trang thiết bị phục vụ cho công tác PCCC ở cơ sởmình

Thứ ba, công tác nghiên cứu khoa học và phát triển nguồn nhân lực chodịch vụ PCCC luôn được đề cao nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn đề ra

Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội và dưới tác độngcủa cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, các quốc gia trên thế giớiđều quan tâm đến công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học côngnghệ vào dịch vụ PCCC với mục đích hiện đại hoá dịch vụ PCCC Để làmđược điều này các chuyên gia PCCC kết hợp với các nhà khoa học, kỹ thuậtnghiên cứu các trang thiết bị phục vụ dịch vụ PCCC

Bên cạnh việc nghiên cứu khoa học, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực chodịch vụ PCCC được các nước rất quan tâm Công tác đào tạo dựa trên yêu cầuthực tế của từng khu vực, tuỳ theo đặc điểm và tính chất phát triển sản xuất,kinh doanh của từng nước mà đưa ra các hình thức đào tạo chính quy, tậptrung hay các hình thức đào tạo ngắn hạn khác

Trang 36

Ví dụ, ở Nhật, họ không tuyển học sinh tốt nghiệp phổ thông vào đàotạo chính quy dài hạn như Việt Nam mà họ tuyển các sinh viên đã tốt nghiệpcác trường đại học khoa học vào đào tạo thêm hai năm về chuyên môn nghiệp

vụ PCCC Qua tổng kết cách thức đào tạo này đạt kết quả tốt về chất lượng,một mặt tuyển chọn được những người đã có nền kiến thức chuyên môn sẵn,yêu nghề PCCC vào làm việc, mặt khác thời gian đào tạo nghiệp vụ PCCCngắn, sớm bổ sung lực lượng PCCC cho cơ sở [4, tr.38]

Ở Nhật, không có một trường đại học PCCC làm trung tâm đào tạo cán

bộ PCCC cho cả nước như Việt Nam mà từng khu vực đều có một trường đào tạonghiệp vụ PCCC, thời gian đào tạo, trình độ đào tạo tuỳ thuộc vào nhu cầu thực tế.Những cán bộ, chiến sĩ làm công tác PCCC phải giỏi về chiến thuật, nghiệp vụ

1.3.2 Những bài học rút ra cho Việt Nam

Nằm trong xu thế chung của quá trình hội nhập và phát triển của cácquốc gia trên thế giới, kinh tế Việt Nam có những bước phát triển lớn Sự pháttriển đó đặt ra các yêu cầu mới đối với sự phát triển của dịch vụ PCCC, đặcbiệt là vai trò quản lý nhà nước đối với dịch vụ này Trên cơ sở học hỏi vàphát triển các kinh nghiệm của các nước phát triển (cụ thể Nhật, Trung Quốc,Nga) có thể rút ra một số kinh nghiệm cơ bản đối với việc quản lý dịch vụPCCC như sau:

* Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về phòng cháy và chữacháy cần tích cực, thường xuyên, đồng bộ và sâu rộng ngang tầm với sự phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước Phải tuyên truyền và giáo dục để mọi người dân nhậnthức được dịch vụ PCCC là HHCC vì lợi ích chung, là nghĩa vụ của mọi tổ chức,đặc biệt là các tổ chức kinh tế và mọi thành viên trong xã hội

* Trước yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trongthời kỳ hội nhập, để giải quyết được các vụ cháy lớn, phức tạp việc nâng cao trình

độ chuyên môn cũng như phương tiện PCCC được đánh giá cao Chính

30

Trang 37

vì vậy, cần phải đa dạng hoá nguồn thu, nhà nước và nhân dân cùng góp kinhphí để hiện đại hoá dịch vụ PCCC, từng bước đưa lực lượng PCCC chính quyhiện đại.

* Ngày nay, với các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và côngnghệ hiện đại được áp dụng rộng rãi trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, đòi hỏiphải tăng cường công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực PCCC Bên cạnh đó,cần có cách nhìn mới trong việc xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức lực lượngPCCC theo hướng kết hợp lực lượng Phòng cháy chuyên nghiệp, chính quy với lựclượng tình nguyện, lực lượng PC ở các nhà máy, xí nghiệp, các địa phương

Như vậy, việc nghiên cứu kinh nghiệm về quản lý nhà nước đối vớidịch vụ PCCC ở các nước phát triển trong đó chủ yếu là ở Nhật, Trung Quốc

và Nga cho chúng ta cơ sở để nhìn nhận, đánh giá và vận dụng sáng tạo vàođiều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước mình Từ đó, tăng cường hơn nữa vai tròquản lý nhà nước đối với dịch vụ PCCC trên tất cả các mặt: Mô hình tổ chức,trình độ công nghệ, đào tạo nhân lực…

Như vậy, dịch vụ PCCC là hàng hoá cộng cộng nên trong kinh tế thịtrường phải đề cao vai trò của loại hàng hoá này Để quản lý các hoạt độngdịch vụ PCCC có hiệu quả, điều quan tâm đầu tiên là vấn đề tăng cường hơnnữa công tác quản lý của nhà nước đối với loại hàng hoá này

Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quý báu của các nước có nền kinh

tế thị trường phát triển như Nhật, Nga, Trung Quốc…về công tác tuyêntruyền, giáo dục ý thức người dân về PCCC; Kết hợp lực lượng PCCC chínhquy của nhà nước với lực lượng PCCC chuyên nghiệp ở các xí nghiệp, doanhnghiệp và các lực lượng PCCC tự nguyện; Coi trọng công tác nghiên cứukhoa học và đào tạo cán bộ PCCC… Đây là những bài học quý báu cho việctăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với dịch vụ PCCC nhằm phát triểnhàng hoá dịch vụ này ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Trang 38

Chương 2

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỊCH VỤ PHÕNG CHÁY CHỮA CHÁY TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

2.1 Thực trạng cầu về dịch vụ phòng cháy chữa cháy trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam

2.1.1 Tổng quan về khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta

Trong hơn 20 năm (1986 - 2008) thực hiện đường lối đổi mới toàn diệnđất nước do Đảng ta khởi xướng, nền kinh tế Việt Nam có tốc độ tăng trưởngGDP cao, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đạihoá Thành quả nổi bật những năm qua là duy trì được tốc độ tăng trưởngGDP khá cao, bình quân đạt 7,5%/năm trong 5 năm 2001 - 2005; 8,17% năm

2006 và 8,44% năm 2007 Với sự đúng đắn trong đường lối của Đảng và Nhànước ta, trong năm 2008 - vốn đầu tư thực hiện được tăng 22,2 % so với năm

2007, trong đó khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp một phầnkhông nhỏ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Bảng 2.1 Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện năm 2008

Nghìn tỷ Cơ cấu So với cùng kỳ năm

Khu vực ngoài Nhà nước 263,0 41,3 142,7

Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp 189,9 29,8 146,9

nước ngoài

Nguồn: Bộ Công an (2009), Báo cáo của Cục cảnh sát phòng cháy chữa cháy

Trang 39

2.1.1.1 Tình hình phát triển chung của các cơ sở có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài ở Việt Nam.

Cùng với quá trình hội nhập và phát triển kinh tế, các dự án đầu tưnước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng Tính từ giai đoạn năm 1988 - 2008

cả nước đã có 8.753 dự án (xem phụ lục 1a) của 81 nước và vùng lãnh thổ,với tổng số vốn đầu tư là 87.591 tỷ USD và tổng vốn thực hiện được là29,230 tỷ USD (xem phụ lục 1b) Trong tổng số 8.753 dự án đầu tư vào ViệtNam thì Hàn Quốc là quốc gia có nhiều dự án nhất (1.873 dự án), đứng thứhai là Đài Loan có 1810 dự án, thứ ba là Nhật Bản có 943 dự án, tiếp theo làTrung Quốc có 561 dự án, Singgapo có 551 dự án, Hồng Kông có 459 dự án,Hoa Kỳ có 381 dự án… các dự án trên đầu tư vào 64 tỉnh, thành phố trên cảnước, trong đó chủ yếu đầu tư vào các tỉnh, thành phố lớn, phát triển các khucông nghiệp như: Thành phố Hồ Chí Minh (2400 dự án); Bình Dương (1590

dự án); Hà Nội (1022 dự án); Đồng Nai (917 dự án), Long An, Vũng tàu…(xem phụ lục 2) Chỉ tính riêng trong quý một năm 2008, các doanh nghiệpđầu tư trục tiếp nước ngoài đã thực hiện được 1,68 tỷ USD, tăng 24% so vớivốn thực hiện được của cùng kỳ năm trước Doanh thu ước tính đạt 7600 triệuUSD, tăng 27% so với cùng kỳ năm trước; trong đó giá trị xuất khẩu đạt 5397triệu USD, tăng 20%, nhập khẩu đạt 6.100 triệu USD, tăng 39%, nộp ngânsách 355 triệu USD, tăng 19% so với cùng kỳ năm trước Tổng số lao độnglàm việc trong khu vực có vốn đầu tư của nước ngoài tính đến nay là khoảng1,2 triệu lao động

2.1.1.2 Về hình thức đầu tư

Trong tổng số 8.753 dự án của nước ngoài đầu tư trực tiếp vào ViệtNam thì có 6.799 dự án 100% vốn đầu tư nước ngoài (chiếm 77%), với tổng

số vốn đầu tư là 54,027 tỷ USD, chiếm 61%; các cơ sở liên doanh là 1.649 dự

án (chiếm 18%) với tổng số vốn đầu tư là 24,901 tỷ USD, chiếm 28%; còn lại

Trang 40

305 dự án (chiếm 5%) là đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh,công ty cổ phần… với tổng số vốn là 8,666 tỷ USD, chiếm 9%.

Bảng 2.2 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư 1988 - 2008

(chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

Hình thức đầu tư Số dự án Tổng vốn Vốn pháp định Vốn đầu tư

100% vốn nước ngoài 6799 54,027,332,700 22,063,212,760 11,324,296,112 Liên doanh 1649 24,901,316,936 9,321,596,262 11,144,796,904 Hợp đồng hợp tác KD 226 4,578,597,287 4,127,650,407 5,661,119,003

HĐ BOT, BT, BTO 8 1,710,925,000 456,185,000 727,030,774 Công ty cổ phần 70 2,278,799,822 616,379,442 326,746,513 Công ty Mẹ - Con 1 98,008,000 82,958,000 14,448,000

Tổng số 8,753 87,594,979,745 36,667,981,871 29,234,437,306

Nguồn: Bộ Công an (2009), Báo cáo của Cục cảnh sát phòng cháy chữa cháy

2.1.1.3 Về loại hình đầu tư

Cũng trong tổng số 8.753 dự án của nước ngoài đầu tư trực tiếp vào ViệtNam (2008) Có 6.790 dự án đầu tư về lĩnh vực sản xuất (chiếm 77%), vớitổng số vốn đầu tư là 56,056 tỷ USD, chiếm 64%, trong đó công nghiệp nhẹ là2.587 dự án, chiếm 38,1%; công nghiệp nặng là 2.448 dự án, chiếm 36%;nông - lâm nghiệp chiếm 11,9%; xây dựng chiếm 6,83 % còn lại là côngnghiệp thực phẩm là 4,63%, thuỷ sản 1,9%, công nghiệp dầu khí 0,58%.Ngoài ra còn 1,963 dự án, chiếm 36% tổng số vốn đầu tư là hướng vào kinhdoanh dịch vụ như: Bưu chính viễn thông, khách sạn - du lịch, tài chính -ngân hàng, văn phòng - căn hộ… Có thể thấy rõ các loại hình đầu tư thôngqua con số thống kê cụ thể (xem ở phụ lục 3a)

2.1.1.4 Các quốc gia đầu tư

Hiện nay có 81 quốc gia tham gia đầu tư trực tiếp vào nước ta, trong số

81 quốc gia đó thì Hàn Quốc là nước đầu tư vào Việt Nam nhiều nhất với1.873 dự án, chiếm 21% và tổng số vốn là 14,439 tỷ USD, chiếm 16,5% Tiếp

Ngày đăng: 16/10/2020, 21:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w