Phần I Những quy định quản lý nhà nước đối với học phí tại các trường đại học hiện nay Hằng năm các trường Đại học thực hiện mức thu học phí dựa trên chi thường xuyên, chi đầu tư của nhà trường và thực hiện theo lộ trình quy định của Chính phủ ban hành( hiện nay là QĐ862015NĐCP). Bộ Giáo dục chỉ đạo cho Vụ Giáo dục hướng dẫn, kiểm tra, việc thực hiện các chính sách về học phí, thu chi, lộ trình về thu chi và quản lý học phí do Chính phủ quy định. Theo luật giáo dục năm 2009 thì trường đại học được chia làm 2 loại là đại học công lập và đại học ngoài công lập( đại học dân lập) Đại học công lập là trường đại học do nhà nước (trung ương hoặc địa phương) đầu tư về kinh phí và cơ sở vật chất (đất đai, nhà cửa) và hoạt động chủ yếu bằng kinh phí từ các nguồn tài chính công hoặc các khoản đóng góp phi vụ lợi, khác với đại học dân lập hoạt động bằng kinh phí đóng góp của học sinh, khách hàng và các khoản hiến tặng. Đại học ngoài công lập là một cơ sở giáo dục đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, về tuyển sinh, đào tạo thì tuân theo quy chế của Bộ GDĐT, văn bằng có giá trị tương đương như văn bằng công lập. Là trường tư do cá nhân hoặc tổ chức trong một nước xin phép thành lập và tự đầu tư. Trường ngoài công lập chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Bộ, ngành, ủy ban nhân dân các cấp theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được giao; chịu sự quản lý trực tiếp của các cơ quan quản lý giáo dục theo quy định trong Điều lệ nhà trường của bậc học, cấp học tương ứng. Trường ngoài công lập có tư cách pháp nhân, có con dấu và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước hoặc Ngân hàng Thương mại để giao dịch. Các trường đại học công lập ở Việt có thể được chia thành đại học trực thuộc Bộ, Ngành, đại học trực thuộc tỉnh, đại học trực thuộc doanh nghiệp. Hằng năm, các trường đại học thực hiện cơ chế thu, quản lý học phí và các chính sách miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập theo nghị định của chính phủ về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập( hiện nay là nghị định 862015 NĐCP). Đối với giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp công lập: Học phí của các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư theo quy định của Chính phủ được xác định trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật, định mức chi phí do cơ quan có thẩm quyền ban hành và lộ trình tính đủ chi phí đào tạo. Học phí của các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp công lập chưa tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư theo quy định của Chính phủ được xác định trên cơ sở tính toán có sự cân đối giữa hỗ trợ của Nhà nước và đóng góp của người học, thực hiện theo lộ trình giảm dần bao cấp của Nhà nước. Cơ sở giáo dục công lập thực hiện chương trình chất lượng cao được thu học phí tương xứng để bù đắp chi phí đào tạo. Cơ sở giáo dục ngoài công lập tự quyết định mức thu học phí.
Trang 1PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
HỌC PHÍ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HIỆN NAY Phần I- Những quy định quản lý nhà nước đối với học phí tại các trường đại học hiện nay
Hằng năm các trường Đại học thực hiện mức thu học phí dựa trên chi thường xuyên, chi đầu tư của nhà trường và thực hiện theo lộ trình quy định của Chính phủ ban hành( hiện nay là QĐ86/2015NĐ-CP)
Bộ Giáo dục chỉ đạo cho Vụ Giáo dục hướng dẫn, kiểm tra, việc thực hiện các chính sách về học phí, thu chi, lộ trình về thu chi và quản lý học phí do Chính phủ quy định
Theo luật giáo dục năm 2009 thì trường đại học được chia làm 2 loại là đại học công lập và đại học ngoài công lập( đại học dân lập)
Đại học công lập là trường đại học do nhà nước (trung ương hoặc địa phương) đầu
tư về kinh phí và cơ sở vật chất (đất đai, nhà cửa) và hoạt động chủ yếu bằng kinh phí từ các nguồn tài chính công hoặc các khoản đóng góp phi vụ lợi, khác với đại học dân lập hoạt động bằng kinh phí đóng góp của học sinh, khách hàng và các khoản hiến tặng
Đại học ngoài công lập là một cơ sở giáo dục đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, về tuyển sinh, đào tạo thì tuân theo quy chế của Bộ GD&ĐT, văn bằng có giá trị tương đương như văn bằng công lập Là trường tư do cá nhân hoặc tổ chức trong một nước xin phép thành lập và tự đầu tư
Trường ngoài công lập chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Bộ, ngành, ủy ban nhân dân các cấp theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền
Trang 2được giao; chịu sự quản lý trực tiếp của các cơ quan quản lý giáo dục theo quy định trong Điều lệ nhà trường của bậc học, cấp học tương ứng
Trường ngoài công lập có tư cách pháp nhân, có con dấu và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước hoặc Ngân hàng Thương mại để giao dịch
Các trường đại học công lập ở Việt có thể được chia thành đại học trực thuộc Bộ, Ngành, đại học trực thuộc tỉnh, đại học trực thuộc doanh nghiệp
Hằng năm, các trường đại học thực hiện cơ chế thu, quản lý học phí và các chính sách miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập theo nghị định của chính phủ về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập( hiện nay là nghị định 86/2015 NĐ-CP)
Đối với giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp công lập: Học phí của các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư theo quy định của Chính phủ được xác định trên cơ sở định mức kinh tế
- kỹ thuật, định mức chi phí do cơ quan có thẩm quyền ban hành và lộ trình tính đủ chi phí đào tạo Học phí của các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp công lập chưa tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư theo quy định của Chính phủ được xác định trên cơ sở tính toán có sự cân đối giữa hỗ trợ của Nhà nước và đóng góp của người học, thực hiện theo lộ trình giảm dần bao cấp của Nhà nước
Cơ sở giáo dục công lập thực hiện chương trình chất lượng cao được thu học phí tương xứng để bù đắp chi phí đào tạo
Cơ sở giáo dục ngoài công lập tự quyết định mức thu học phí
Trang 3Các cơ sở giáo dục đại học phải công bố công khai mức học phí cho từng năm học cùng với dự kiến cho cả khóa học đối
Trong quá trình áp dụng thực hiện, Bộ giáo dục và đào tạo phối hợp với các cơ quan tiếp tục nghiên cứu điều chỉnh khung học phí của các cơ sở giáo dục đại học theo hướng có lộ trình xác định của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của các đơn
vị sự nghiệp công lập để kịp thời điều chính cho phù hợp
Các trường ĐH công lập Các trường ĐH ngoài công lập Nguyên tắc xác
định học phí
sinh viên 1 số trường như
sư phạm, quân đội, an ninh…không phải đóng học phí
Đối với giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp công lập: Học phí của các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên
và chi đầu tư theo quy định của Chính phủ
Cơ sở giáo dục công lập thực hiện chương trình chất lượng cao được thu học phí tương xứng để bù đắp chi phí đào tạo
Cơ sở giáo dục ngoài công lập tự quyết định mức thu học phí Họ không nhận được sự hỗ trợ về vốn của Nhà nước, nguồn tài chính để hoạt động của họ là từ học phí của sinh viên học tại trường, khách hàng và các khoản hiến tặng Học phí tại các trường này
có xu hướng lớn hơn nhiều so với trường đại học công lập
Quản lý tiền
học phí
Nộp toàn bộ số thu học phí của các ngành nghề được ngân sách nhà nước hỗ trợ chi phí đào tạo vào Kho bạc Nhà nước để quản lý
và sử dụng; nộp toàn bộ tiền thu học phí của các ngành, nghề không được ngân sách nhà nước hỗ trợ vào ngân hàng thương mại
để quản lý, sử dụng Toàn
Gửi toàn bộ số học phí thu được vào ngân hàng thương mại hoặc Kho bạc Nhà nước nơi mở tài khoản để đăng ký hoạt động
Trang 4bộ tiền lãi gửi ngân hàng thương mại được sử dụng
để lập các quỹ hỗ trợ sinh viên
Sử dụng học phí sử dụng học phí theo quy
định của Chính phủ về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập
sử dụng học phí theo quy định của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường
Thu học phí Học phí được thu định kỳ hàng tháng; nếu học sinh, sinh viên
tự nguyện, nhà trường có thể thu một lần cho cả học kỳ hoặc cả năm học Đối với cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục thường xuyên, đào tạo thường xuyên và các khóa đào tạo ngắn hạn, học phí được thu theo số tháng thực học Đối với cơ sở giáo dục phổ thông, học phí được thu 9 tháng/năm Đối với cơ sở giáo dục đại học, học phí được thu 10 tháng/năm Trong trường hợp
tổ chức giảng dạy, học tập theo học chế tín chỉ, cơ sở giáo dục
có thể quy đổi để thu học phí theo tín chỉ, song tổng số học phí thu theo tín chỉ của cả khóa học không được vượt quá mức học phí quy định cho khóa học nếu thu theo năm học
Phần II- Thực trạng chính sách học phí giáo dục đại học ở Việt Nam
Học phí là một trong những nguồn tài chính quan trọng nhất cho các trường đại học Học phí đại học của các trường đại học công lập ở Việt Nam do Chính phủ ban hành Những chính sách về học phí đại học của Việt Nam đã có nhiều thay đổi trong hơn 20 năm qua
i) Giai đoạn trước năm 1998
Trước năm 1987, tất cả các sinh viên đại học được trợ cấp hoàn toàn Trong giai đoạn này, giáo dục đại học theo cơ chế chỉ huy tập trung, phi thị trường chi phối,
Trang 5các chương trình giáo dục đại học có mục tiêu đáp ứng nhu cầu lao động của các
Bộ cụ thể
ii) Giai đoạn 1998 – 2009
Đây là giai đoạn Việt Nam thực hiện chính sách học phí đại học không thay đổi (tuition fees freeze) Giai đoạn này chính sách học phí đại học được thực hiện theo Quyết định số 70/1998/QĐTTg ngày 31/3/1998 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 54/1998/TTLT BGD&ĐT-BTC ngày 31/8/1998 hướng dẫn thực
hiện Quyết định số 70/1998/QĐ-TTg
Trong quá trình thực hiện đã tồn tại một số điểm không hợp
lý: Thứ nhất, khung học phí không có sự phân biệt ngành nghề, chương trình giáo dục đại học và không tính đến sự khác biệt về điều kiện kinh tế - xã hội ở các địa bàn khác nhau Thứ hai, mức thu học phí cố định, không được điều chỉnh Thứ ba, mức học phí đại học chưa gắn với chi phí giáo dục đại học
iii) Giai đoạn 2009 – 2015
Trong giai đoạn 2009 – 2015, Việt Nam thực hiện chính sách học phí đại học tăng theo Nghị định số 49/2010/NĐ-CP Việc sử dụng Nghị định 49 đã có những thay đổi so với giai đoạn 2009 trở về trước, nhưng việc cải cách này còn rất hạn chế như: Mức học phí bị cào bằng; Chính sách học phí không có sự phân biệt giữa các
cơ sở đào tạo có chất lượng cao và cơ sở đào tạo có chất lượng thấp Như vậy rất cần phải xây dựng một khuôn khổ để tiếp tục cải cách học phí, đặc biệt là việc xây dựng chính sách học phí áp dụng sau năm 2015, theo hướng khắc phục được các tồn tại nói trên
iv) Giai đoạn sau năm 2015
Trang 6Từ năm học 2015-2016, Việt Nam áp dụng khung chính sách học phí đại học theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ban hành ngày 2/10/2015 Theo Nghị định 86, mức thu học phí của giáo dục đại học công lập được thực hiện theo nguyên tắc về khả năng tự chủ tài chính của các cơ sở giáo dục Nghị quyết 77/NQ-CP của Chính phủ cho phép các cơ sở giáo dục đại học công lập sẽ được tự chủ một cách rộng mở hơn so với hiện nay trên tất cả các phương diện về tuyển sinh, ngành nghề giáo dục đại học và học phí Thế nhưng, việc cho các trường đại học công lập được quyết định mức học phí bình quân tối đa bằng mức trần học phí do Nhà nước quy định vẫn còn là “rào cản” để các trường có thể phát triển một cách toàn diện
Còn học phí ở các trường ngoài công lập được tự quyết định mức học phí nhưng phải công bố công khai trên website của trường Từ trước đến nay thì mức học phí của các trường ngoài công lập luôn có sự chênh lệch khác lớn với các trường công lập và giữa các trường ngoài công lập cũng có mức chênh lệch khác nhau
Phần III- Xu hướng về vai trò quản lý nhà nước đối với học phí của các trường đại học hiện nay
3 1 Xu hướng tự chủ tài chính đối với các trường đại học
Theo Nghị quyết số 29-NQ/TW với nội dung Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đảng và nhà nước xác định xu hướng hiện nay đó là nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các cơ sở giáo dục đại học
Tự chủ về tài chính là một nội dung quan trọng của tự chủ đại học
Trang 7Hiện nay Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định cho 14 trường đại học, cao đẳng được thực hiện tự chủ tài chính Theo đó, các trường sẽ không được cấp ngân sách đầu tư từ Nhà nước mà phải tự hạch toán thu – chi
Các trường đã được phê duyệt đề án tự chủ tài chính gồm: Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Tôn Đức Thắng, Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Hà Nội, Đại học Tài chính-Marketing, Đại học Ngoại thương, Đại học Công nghiệp Dệt May Hà Nội, Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Công nghiệp thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Điện lực, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, Trường Đại học Thương mại
3 2 Nội dung của cơ chế tự chủ tài chính
Nội dung của tự chủ tài chính đối với các trường đai học công lập theo Nghị định
số 43/2006/Nð-CP như sau:
- Thứ nhất, về mục tiêu là trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các nhà trường trong tổ chức, sắp xếp bộ máy, sử dụng lao động, nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ, cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho XH; tăng nguồn thu, tăng thu nhập cho người lao ñộng Thực hiện XHH về cung cấp dịch vụ cho XH, tăng sự đóng góp của cộng đồng, giảm dần sự bao cấp từ NS Phân biệt rõ cơ chế quản lý của nhà nước ñối với trường ĐHCL và cơ quan hành chính nhà nước
- Thứ hai, nguyên tắc thực hiện quyền tự chủ là phải hoàn thành nhiệm vụ được giao; các hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, khả năng chuyên môn và tài chính của nhà trường đảm bảo chế độ công khai, dân chủ, gắn với tự chịu trách nhiệm; chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà
Trang 8nước có thẩm quyền Bảo đảm lợi ích Nhà nước; quyền, nghĩa vụ của tổ chức,
cá nhân theo quy định của pháp luật
- Thứ ba, về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, trường ĐHCL được chia thành 3 loại: 1) đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động); 2) đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được NSNN cấp (gọi tắt là đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động); 3) đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp hoặc không có nguồn thu thì NSNN cấp 100% chi phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ (gọi tắt là đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi phí hoạt động) Việc phân loại trên được ổn định trong 3 năm, sau đó phân loại lại cho phù hợp
3.3 Ưu điểm và hạn chế của tự chủ tài chính
Các nhà hoạch định chính sách đang đặt câu hỏi liệu ngân quỹ nhà nước nên đóng góp bao nhiêu cho giáo dục đại học giữa những đòi hỏi đang cạnh tranh lẫn nhau: giáo dục phổ thông, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, phát triển giao thông công cộng, và nhiều thứ khác nữa mà ngân quỹ quốc gia phải lo liệu
Học phí ở hầu hết các nước tiêu biểu cho nguồn thu từ tư nhân lớn nhất của giáo dục đại học Nó cũng tiêu biểu cho điểm gặp nhau gần như trực tiếp giữa những lực lượng cung và cầu trong cán cân tài chính Xét về nguồn cung, học phí và hỗ trợ của ngân sách nhà nước đối với các trường là hai nguồn chính trang trải cho hoạt động của các trường công Đối với các trường tư, phi lợi nhuận, học phí là nguồn thu chính, cùng với quỹ hiến tặng, tài trợ, các khoản thu từ dịch vụ khác là các nguồn bổ sung Ở các trường vì lợi nhuận, học phí là nguồn thu cơ bản Cho nên, học phí ở tất cả các loại trường đều có thể dùng để xác định quy mô của
Trang 9trường thông qua số chỗ ngồi mà trường ấy có khả năng cung cấp Với trường công, học phí thường là một nguồn tài chính nhỏ hơn so với trường tư, vì ở hầu hết các nước, hỗ trợ của nhà nước đối với giáo dục đại học còn vượt xa những nguồn thu phát sinh trong các trường tư
Tự chủ cũng có thể được thể hiện ở hai cấp: cấp độ giữa trường đại học với nhà nước, và cấp độ giữa trường với các bộ phận trong trường Tự chủ cũng có thể chỉ
có tính chất thủ tục, hình thức (procedural) – quyền quyết định các phương tiện, cách thức để đạt đến mục tiêu đã được xác định trước, hoặc tự chủ có tính thực chất (substantial) – quyền quyết định các mục tiêu cũng như chương trình hoạt động Tự chủ cũng có thể được nhìn nhận như là các quyền lực có điều kiện: các trường chỉ có thể có quyền tự chủ khi đã đạt được các chuẩn mực quốc gia hoặc các chuẩn mực đã được định sẵn theo các chính sách công Tuy được nhìn nhận dưới nhiều khía cạnh khác nhau, tự chủ của trường đại học vẫn có thể được khái quát là khả năng của trường được hoạt động theo cách thức mình lựa chọn để đạt được sứ mạng và mục tiêu do trường đặt ra
Một nguyên lý cơ bản đằng sau tự chủ đại học là các cơ sở GDĐH sẽ vận hành tốt hơn nếu họ được nắm vận mệnh của chính mình Tự chủ sẽ tạo động lực để họ đổi mới nhằm đạt hiệu quả cao hơn trong hoạt động của mình, đồng thời cũng làm tăng tính cạnh tranh giữa các cơ sở GDĐH, tạo điều kiện để đa dạng hóa các hoạt động giáo dục Vì vậy, xu hướng chung trên toàn cầu hiện nay là chuyển dịch dần từ mô hình Nhà nước kiểm soát sang các mô hình có mức độ tự chủ cao hơn, từ Nhà nước kiểm soát (state control) sang Nhà nước giám sát (state supervison) Ví dụ như Nhật Bản thông qua Đạo luật Hiệp hội Đại học Quốc gia năm 2003 trao quyền tự chủ về mặt pháp lý cho tất cả các trường đại học với quyền lực nhiều hơn cho Giám đốc/Hiệu trưởng và Ban quản trị trường Năm 2005, Singapore cũng thông qua một luật tương tự trao quyền tự chủ cho 3 trường đại học của nước này Gần
Trang 10đây, bang Nord Rhein-Westfalia, Đức cũng trao quyền tự quyết định cho 33 trường đại học trong việc tuyển dụng các giáo sư và các khóa đào tạo của trường Bảng dưới đây trình bày một số ví dụ về quyền tự chủ đại học ở một số nước trên thế giới
3.3.1 Ưu điểm:
Các cơ chế, chính sách mới trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với giáo dục đã tạo cơ hội cho giáo dục đại học công lập nâng cao tính chủ động, sáng tạo trong quản lý tài chính và tài sản, sử dụng ngân sách nhà nước tiết kiệm, hiệu quả hơn; Phát triển nguồn thu sự nghiệp thông qua việc đa dạng hoá các hoạt động sự nghiệp và nâng cao chất lượng dịch vụ; Huy động được nhiều nguồn vốn
để đầu tư, tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị… thông qua các hoạt động hợp tác liên doanh, liên kết; Khai thác hiệu quả các nguồn thu… từng bước giảm dần sự bao cấp của nhà nước, đồng thời tăng thu nhập cho cán bộ, công chức trong đơn vị
Bên cạnh đó, chính sách thu học phí cũng có sự đổi mới theo hướng tạo sự chủ động cho các đơn vị giáo dục Cụ thể, Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 cũng đã phần nào khắc phục hạn chế về mức học phí không phù hợp với mặt bằng giá cả Chính sách học phí đã xác định trên nguyên tắc chia sẻ chi phí đào tạo giữa nhà nước và người học Học phí đối với giáo dục đại học công lập chương trình đại trà được căn cứ vào khung quy định của Nhà nước; Đồng thời, có tính đến đặc điểm, yêu cầu phát triển từng ngành, hình thức đào tạo và hoàn cảnh học của sinh viên Ngay cả cơ chế cấp trực tiếp tiền hỗ trợ miễn, giảm học phí cho các đối tượng được miễn, giảm học phí cũng đã được xem xét chỉnh sửa hợp lý, để các đối tượng này đóng học phí đầy đủ cho nhà trường Điều này, thể hiện rõ trách nhiệm của Nhà nước về chính sách xã hội, khắc phục hạn chế các đơn vị giáo dục