Với chương trình tiêm chủng mở rộng, bắt đầu triển khai ở ViệtNam từ đầu những năm 80, địa bàn được bao phủ dịch vụ TCMR tăng dần hàng năm ở cả 3 tuyến tỉnh, huyện và xã trên phạm vi toà
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
CUNG CẤP DỊCH VỤ Y TẾ TẠI VIỆT NAM
Nhóm 4-K12C
Hà Nội, 3-2015
1 Nguyễn Thị Hằng 5 Triệu Quốc Đạt
2 Nguyễn Thị Trang 6 Vũ Bảo Trung
4 Đinh Thị Khánh Hòa
Trang 4A ĐẶT VẤN ĐỀ
Dịch vụ y tế bao gồm tất cả các dịch vụ liên quan đến chẩn đoán và điều trị bệnhhay còn gọi là dịch vụ khám chữa bệnh, phòng bệnh, phục hồi chức năng, bao gồmnhững dịch vụ liên quan trực tiếp và gián tiếp đến con người Dịch vụ y tế là chức năng
rõ nhất của bất kì hệ thống y tế nào Nói đến cung cấp dịch vụ tức là nói đến cách mà cácnguồn lực đầu vào như tiền, con người, trang thiết bị và thuốc kết hợp với nhau cho phépngười cung cấp dịch vụ cung cấp các can thiệp y tế Để cải thiện sự tiếp cận, độ bao phủ
và chất lượng dịch vụ, các nhà quản lý y tế cần phải dựa vào những nguồn lực có sẵn này,dựa vào cách thức tổ chức và quản lý các dịch vụ y tế và dựa vào việc động viên, khuyếnkhích người cung cấp và người sử dụng dịch vụ
Với chức năng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của người dân, dịch vụ y tế mangnhiều nét khác biệt và đặc biệt Không giống như các ngành sản xuất và cung cấp dịch vụkhác, khách hàng có thể đánh giá thông qua sản phẩm cụ thể mà thực chất người bệnh chỉ
có thể đánh giá được bằng cảm nhận thông qua tiếp xúc với đội ngũ nhân viên y tế, trangthiết bị, cơ sở vật chất Đời sống xã hội phát triển, yếu tố sức khỏe ngày càng được mọingười chú trọng Bởi vì “sức khỏe là vàng”, người ta đến bệnh viện không chỉ để khámbệnh, chữa bệnh mà còn phòng ngừa bệnh Bởi vậy mà yêu cầu nâng cao chât lượng dịch
vụ y tế là một công việc hết sức cần thiết
Để có thể phát triển chất lượng của dịch vụ y tế hiệu quả, chúng ta cần phải đápứng theo đúng 9 nguyên tắc:
1 Toàn diện/ đầy đủ
Trang 5B DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DS-KHHGĐ Dân số kế hoạch hóa gia đình
ATVSTP An toàn vệ sinh thực phẩm
CSSKSS Chăm sóc sức khỏe sinh sản
Trang 6C NỘI DUNG CÁC NGUYÊN TẮC CUNG CẤP DỊCH VỤ Y TẾ
I Độ bao phủ
1 Khái quát
Việc cung cấp dịch vụ cần phải được tổ chức cho mọi người dân trong một quần thể xácđịnh được tiếp cận Độ bao phủ thường được đo lường qua chỉ số tỷ lệ người dân đủ tiêuchuẩn nhận được một gói can thiệp hay dịch vụ y tế cụ thể
2 Ưu, nhược điểm và giải pháp
2.1 Y tế dự phòng:
a.Ưu điểm
Với những nỗ lực không ngừng nghỉ của chính phủ đặc biệt là ngành y tế , ViệtNam đang ngày càng mở rộng độ bao phủ của các chương trình y tế dự phòng trên nhiềuphương diện ( địa lý,điều kiện kinh tế…) Những số liệu và thành tựu sau đây sẽ minhchứng cho luận điểm trên:
Về vấn đề nhân lực: hầu hết các địa phương đã ổn định tổ chức cơ cấu Ở tuyếntỉnh đã có 63 trung tâm YTDP tỉnh, 63 Chi cục DS-KHHGĐ, 62 trung tâm phòng chốngHIV/AIDS, 20 Chi cục ATVSTP và các trung tâm chuyên khoa Nội tiết, Lao, phòngchống bệnh xã hội Trung tâm y tế huyện với 15% cán bộ có trình độ đại học trở lên, trên80% cán bộ được đào tạo chuyên môn về YTDP được giao quản lý hoạt động của TYT
xã (55/63 tỉnh, thành phố) 74,1% số TYT xã đạt chuẩn quốc gia cũ hoặc tiêu chí quốcgia mới về y tế xã[19] Bên cạnh đó,bộ Y tế cũng đang tập trung củng cố mạng lưới y tếvùng biển, đảo với đề án Phát triển y tế biển, đảo Việt Nam đến năm 2020 được triển khaivào ngày 24/4/2013 Với chương trình tiêm chủng mở rộng, bắt đầu triển khai ở ViệtNam từ đầu những năm 80, địa bàn được bao phủ dịch vụ TCMR tăng dần hàng năm ở cả
3 tuyến tỉnh, huyện và xã trên phạm vi toàn quốc.Hiện chương trình đã bao phủ 100% số
xã, phường cả nước, đạt tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ hơn 90% với tám loại vắc-xin cơ bảnphòng bệnh lao, bại liệt, bạch hầu, ho gà, uốn ván, sởi, viêm gan vi-rút B và viêm phổi doHemophilus influenza cho trẻ em trong nhiều năm liên tục Một số con số dưới đây chothấy sự gia tăng vô cùng mạnh mẽ của độ bao phủ trong chương trình TCMR:
Tuyến tỉnh: Từ 27% năm 1982 tăng lên 100% số tỉnh thành đã có dịch vụ TCMRvào năm 1985, tức là chỉ 4 năm kể từ khi bắt đầu triển khai Chương trình.[20]
Trang 7 Tuyến huyện: Từ 9,8% năm 1982 đã đạt tỷ lệ 100% vào năm 1989, khoảng 8 nămsau khi khởi động Chương trình. [20]
Tuyến xã: Từ một tỷ lệ rất thấp (khoảng 5%) vào năm 1982, tỷ lệ bao phủ tăngnhanh trong vòng 8 năm đầu, đạt trên 90% vào năm 1989[20] Tuy nhiên, để có tỷ lệ 100%
số xã được bao phủ dịch vụ TCMR (xóa xã trắng) cũng phải mất 8 năm nữa Lý do đây lànhững xã, ấp, bản, buôn vùng sâu, vùng núi cao, hải đảo xa xôi, việc tiếp cận dịch vụ rấtkhó khăn, do chưa có đường giao thông, cơ sở y tế, lưới điện, dân trí chưa cao
Cụ thể với đối tượng trẻ em dưới 1 tuổi, kể từ năm 1994, sau khi 100% số xãphường trên toàn quốc đã được bao phủ Chương trình TCMR, tỷ lệ số trẻ dưới 1 tuổiđược tiêm chủng đầy đủ trở thành một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giáchất lượng của Chương trình Tỷ lệ này liên tục tăng lên theo các năm và kể từ năm 1995luôn được duy trì ở mức trên 90% ở quy mô tuyến tỉnh Kể từ năm 2004 tỷ lệ này luônđược duy trì mức trên 90% ở quy mô tuyến huyện (trừ năm 2007 do thiếu vacxin sởi)[20]
Biểu đồ: Kết quả tiêm chủng đầy đủ toàn quốc giai đoạn 1985 – 2012[21]
Cơ bản kiểm soát tốt bệnh dịch, không để xảy ra dịch lớn Duy trì tỷ lệ tiêm chủngcao và bảo vệ các thành quả của TCMR như thanh toán bại liệt, loại trừ uốn ván sơ sinh,sởi Đạt kế hoạch tất cả các chỉ tiêu về phòng chống lao và hầu hết các các chỉ tiêu về
Trang 8phòng chống HIV/AIDS Chương trình phòng chống lao bao phủ 100% lãnh thổ, giảm tỷ
lệ mắc còn 225/100 000 dân (2011); chữa khỏi cho 92% số bệnh nhân lao mới được pháthiện hằng năm Chương trình phòng chống lao đã bao phủ 100% vùng lãnh thổ; triển khaicác hoạt động chẩn đoán lao trẻ em; áp dụng công thức điều trị 8 tháng có kiểm soát(DOTS) với phác đồ thứ nhất cho bệnh nhân lao mới đạt tỷ lệ khỏi bệnh cho bệnh nhânAFB dương tính trên 91,1% và phác đồ lao thứ hai cho bệnh nhân tái phát và thất bại với
tỷ lệ khỏi đạt trên 80% Với chương trình phòng chống HIV/AIDS, trong thời gian gầnđây, chương trình HIV/AIDS Việt Nam chủ yếu phải dựa vào các nguồn lực trong nướctheo hướng phát triển bền vững và xã hội hoá Đã có rất nhiều đề án y tế dự phòng đượctriển khai thực hiện để tăng độ bao phủ của chương trình phòng chống lây nhiễmHIV/AIDS như bổ sung cán bộ, tăng cường nguồn tài lực, đẩy mạnh các công tác tuyềntruyền Giảm dần số trường hợp mắc và chết do HIV/AIDS qua các năm Các chươngtrình phòng chống bệnh không lây nhiễm được mở rộng cả về phạm vi bao phủ, đốitượng được sàng lọc, quản lý điều trị Chương trình phòng chống tăng huyết áp đã hoànthành vượt mức kế hoạch truyền thông; quản lý điều trị cho 58,3% số bệnh nhân đượcphát hiện (chỉ tiêu là 50%) Xây dựng mạng lưới tổ chức chương trình phòng chống đáitháo đường, triển khai sàng lọc 1.443.438 đối tượng (1,6% dân số) ở 18,5% tổng số xãtrên toàn quốc Triển khai có hiệu quả việc kiểm soát các bệnh gây mù có thể phòng chữađược theo Kế hoạch quốc gia phòng chống mù lòa giai đoạn 2009-2013 Thành lập Banquản lý dự án phòng chống bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản tại 10 tỉnhphía Bắc, khám sàng lọc cho 48 395 người và phát hiện 3575 bệnh nhân[22]
Bộ y tế cũng đã kết hợp với ngành giáo dục tổ chức nhiều chương trình phòngchống cận thị học đường, nha học đường,tai nạn thương tích cho trẻ em như Chươngtrình "phòng chống cận thị học đường" được Vụ Y tế dự phòng Bộ Y tế phát động từtháng 4/2003 với sự trợ giúp của thuốc bổ mắt Tobicom (được sản xuất bởi ICAPharmaceuticals); các chương trình Nha học đường cũng đã bao phủ hầu hết các tỉnh,thành phố; trong đó 7 tỉnh thành đã phủ kín chương trình như Lạng Sơn, Tuyên Quang,Thái Nguyên, Đà Nẵng, Hải Dương [23];bên cạnh đó, việc phòng chống tai nạn thươngtích cho trẻ em cũng được quan tâm nhiều với chương trình phòng, chống tai nạn, thươngtích trẻ em giai đoạn 2013 - 2015 Năm 2009 đã có 28,5% số trường họccó bố trí cán bộlàm công tác y tế tại trường 33,8% số trường học có tổ chức khám sức khỏe học sinh[24],
đã ban hành 50 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ATTP, 35 TCVN về phương pháp thử vàxây dựng hệ thống chứng nhận hợp quy cho 2 đơn vị có chức năng kiểm nghiệm
Trang 9VSATTP Giảm số vụ ngộ độc tập thể và số ca ngộ độc so với các năm trước[25] Đạt vàvượt kế y tiêu sức khỏe bà mẹ và chăm sóc thai sản năm 2012 như sàng lọc trước sinh và
sơ sinh, số người mới sử dụng các BPTT, quản lý và chăm sóc thai sản Tỷ lệ suy dinhdưỡng nhẹ cân ở trẻ em dưới 5 tuổi ước tính là 16,2%, giảm 0,6% so với năm 2011, vượtchỉ tiêu Quốc hội giao Bộ Y tế đang hoàn thiện và trình phê duyệt 5 gói can thiệp y tế tốithiểu về sức khỏe bà mẹ, trẻ em[26]
Chương trình phòng chống bệnh không lây nhiễm chưa đạt được phần lớn cácchỉ tiêu kế hoạch về xây dựng mạng lưới tổ chức, đào tạo nhân lực,sàng lọc phát hiện,quản lý đối tượng tại tuyến chăm sóc sức khoẻ ban đầu (CSSKBĐ) Kết quả chươngtrình VSAPTP chưa bền vững, đặc biệt là kiểm soátcác chỉ tiêu an toàn thực phẩm vàtình trạng ngộ độc thực phẩm Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai chung giảm từ 78,2%năm 2011 xuống còn 76,2% năm 2012, tỷ suất sinh thô tăng tương ứng từ 16,6‰ lên16,9‰ năm 2012, không đạt mục tiêu giảm tỷ lệ sinh 0,1‰[27] Tỷ lệ tăng dân số và quy
mô dân số cao so với mục tiêu, tỷ số giới tính khi sinh tiếptục tăng Một số chỉ tiêu KHHGĐ và CSSKSS vẫn chưa được kiểm soát tốt ở một số khu vực, địa phương nhưgiảm tỷ lệ sinh, cung cấp các biện pháp tránh thai ở miền núi, biên giới, hải đảo
DS-Công tác tuyên truyền tiếp cận cộng đồng còn gặp nhiều rào cản do giao thôngvùng đồi núi, rào cản về ngôn ngữ cũng như tập tục địa phương còn nhiều lạc hậu Bêncạnh đó, nguồn nhân lực cho công tác y tế dự phòng còn rất nhiều hạn chế do chế độ đãingộ kém, chưa thực sự quan tâm đến đời sống của cán bộ y tế
c Giải pháp
Cần có thay đổi về chính sách đãi ngộ, tăng cường số lượng đội ngũ CBYT dựphòng, từ đó tăng hiệu suất của các hoạt động Xã hội hóa y tế gắn liền xã hội hóagiáo dục, góp phần chuyển biến tư duy cho người dân
Trang 10Công tác dự phòng cần được quản lý thống nhất, đầu tư tương xứng với gánh nặngbệnh tật và các yếu tố nguy cơ trên cơ sở tình hiệu quả chi phí Mô hình tổ chức quản lý,cung ứng dịch vụ YTDP phải được tăng cường sự lồng ghép gắn kết.
Năng lực cung ứng dịch vụ YTDP và CSSK ban đầu cần được cải thiện, cần đượcđầu tư và thêm những cơ chế khuyến khích hợp lý Can thiệp cải thiện môi trường, hạnchế các yếu tố nguy cơ và nâng cao sức khoẻ phái được quan tâm nhiều hơn
2.2 Hệ thống khám chữa bệnh
a.Ưu điểm
Hệ thống bệnh viện Việt Nam được sắp xếp trên cơ sở phân bố rộng khắp, thuận tiện chokhả năng tiếp cận của người dân ở các vùng miền khác nhau Cả nước hiện có 1.356 bệnhviện, trong đó, bệnh viện công lập là chủ yếu với 1.179 bệnh viện, chiếm tới 87,3% tổng
số bệnh viện Bệnh viện công lập thuộc ngành y tế quản lý bao gồm 1.148 bệnh viện,được chia thành ba tuyến: trung ương, tỉnh và tuyến huyện Có 36 bệnh viện đa khoa vàchuyên khoa tuyến trung ương; 492 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa tuyến tỉnh tậptrung ở tỉnh lỵ Hầu hết các huyện (692) đều có bệnh viện đa khoa cung ứng dịch vụKCB ban đầu
*Mạng lưới bệnh viện và giường bệnh năm 2014:
Bảng 1 Tổng số bệnh viện và giường bệnh theo tuyến bệnh viện:
Tuyến bệnh viện
Tổng số bệnh viện2014
Tổng số giường bệnh2014
Số GB thực kêtăng so năm 2012
- Tổng số giường bệnh thực kê trên toàn quốc hiện là 260.058 giường bệnh, trong
đó giường bệnh tuyến tỉnh chiếm tỷ lệ lớn nhất 49,4%
Trang 11- Tổng số giường bệnh thực kê trên toàn quốc năm 2014 đã tăng 38.913 giường bệnh so với năm 2012 tương ứng với tỷ lệ là 17,5% (tăng 38.913 giường bệnh, so với năm 2012 là 221.145 giường bệnh)
- Số giường bệnh/vạn dân thực kê tại ba tuyến trung ương, tỉnh, huyện (bao gồm cả bệnh viện tư nhân và y tế ngành) là 28,1 giường, tăng được 3,4 giường bệnh/vạn dân so với năm 2012 (24,7 giường bệnh/vạn dân)
Tình hình khám chữa bệnh ở Việt Nam tính đến hết năm 2014:
Năm 2014, các bệnh viện đã khám và điều trị ngoại trú cho hơn 140 triệu lượtngười bệnh, tăng 9,7% (khoảng 3,1 triệu lượt người) so với năm 2013 Trong đó sốlượt khám bệnh tại các BV trực thuộc Bộ chiếm 6,6% trong tổng số lượt khám bệnhcủa cả nước; Có 43,7% người bệnh trong tổng số được khám, điều trị ngoại trú tạituyến; 39% tại các BV tuyến tỉnh, số liệu này cho thấy số lượng người bệnh khám vàđiều trị tại tuyến tỉnh và tuyến huyện vẫn chiếm chủ yếu
Số lượt điều trị nội trú tăng tại tất cả các tuyến, các bệnh viện trực thuộc Bộ tăng6%, các BV huyện tăng 6,5%; Đáng chú ý là số lượt điều trị nội trú tại các BV tưnhân tuy chiếm tỷ lệ nh so với ở các BV công, nhưng có số lượt điều trị nội trú tăngmạnh (23,7%) Năm 2014, tỷ lệ nhập viện điều trị nội trú là 1/9,6 người bệnh khámngoại trú Tỷ lệ điều trị nội trú giữa các tuyến bệnh viện thay đổi không đáng kể sovới năm 2013, trong đó 48,4% người bệnh được điều trị nội trú tại tuyến tỉnh, 36,8%được điều trị tại tuyến huyện; 7,6% được điều trị tại các BV trực thuộc Bộ
Độ bao phủ toàn dân của BHYT:
Những năm qua chính sách BHYT đã từng bước đi vào cuộc sống, góp phần quan trọngtrong việc giúp người dân tiếp cận với dịch vụ y tế một cách hiệu quả và giảm được chiphí sử dụng dịch vụ
Trang 122000 2002 2004 2006 2008 2010 2012 2014 0
Tính đến ngày 27/2/2015 đã có 45/63 tỉnh, thành phố xây dựng và ban hành văn bản quyphạm pháp luật hướng dẫn thực hiện Luật; một số địa phương thành lập Ban Chỉ đạo thựchiện Luật BHYT; 18 địa phương còn lại thì Sở Y Tế và Bảo hiểm xã hội tỉnh đã chủ độngphối hợp tổ chức triển khai các nội dung của Luật đến các cơ sở khám chữa bệnh trongtỉnh và Bảo hiểm xã hội các huyện
b Nhược điểm
- Tổ chức hệ thống bệnh viện dang chuyển đổi các tuyến – các hạng và đang nghiêncứu hoàn thiện mô hình
- Cơ chế tài chính: giá dịch vụ, phương thức thanh toán cần tiếp tục cải tiến
- Cơ sở vật chất các bệnh viện công còn hạn chế
- Nguồn đầu tư cho bệnh viện hạn chế
- Nguồn năng lực hạn chế về số lượng, chất lượng, phân bố
- Năng lực quản lý chưa theo kịp nhu cầu
- Y đức của 1 bộ phận nhỏ những người trong ngành chưa đáp ứng sự hài lòng củangười bệnh, gây bức xúc dư luận
c Giải pháp
Theo Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến, tiến tới thực hiện lộ trình BHYTtoàn dân năm 2014, mục tiêu trước mắt đến năm 2012 phải nâng cao độ bao phủ
Trang 13BHYT toàn dân lên 65%, tỷ lệ TYT xã thực hiện KCB BHYT lên 80% Tỷ lệ cơ sởKCB ban đầu áp dụng thanh toán theo định suất lên 40%[34] Bộ Y tế và BHXH sẽ tiếptục thực hiện chính sách hỗ trợ BHYT cho các nhóm đối tượng lao động tự do và laođộng ở các vùng nông thôn Tăng cường tuyên truyền để người dân hiểu và thực hiệnmua BHYT toàn dân Giảm tình trạng quá tải các bệnh viện tuyến cuối đồng thời cảitiến năng lực của y tế cơ sở.
Bộ Y tế đã xây dựng Dự án "Thí điểm đưa bác sỹ trẻ tình nguyện về công táctại miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xãhội đặc biệt khó khăn" Dự án sẽ tạo cơ hội cho đông đảo người nghèo, người dân
ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, biên giới, hải đảođược tiếp cận các dịch vụ y tế có chất lượng ngày một tốt hơn, hạn chế chuyểntuyến điều trị không cần thiết, góp phần giảm quá tải ở các bệnh viện tuyến trên,tránh lãng phí cho người dân và xã hội Với Lễ ra quân vào sáng 21/2/2014, tạihuyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái Chăm sóc liên tục phải được quan tâm nhiềuhơn Muốn vậy phải tăng cường hệ thống chuyển tuyến, sự phối hợp giữa cáctuyến Tăng cường quản lý y tế tư nhân, phát huy vai trò của y tế tư nhân tronggiảm quá tải và tăng cường bao phủ dịch vụ Liên kết với tư nhân trong bệnh việncông phải được kiểm soát tốt
II Sự chấp nhận được
1.Khái quát
Sự chấp nhận được là mức độ một dịch vụ y tế đáp ứng được các nhu cầu và chuẩn mực
về văn hoá của một cộng đồng Khi các nhu cầu và chuẩn mực của cộng đồng này đượcđáp ứng, thì người dân trong cộng động đó sẽ có xu hướng sử dụng dịch vụ y tế này.Ngược lại nếu dịch vụ y tế đó không phù hợp với các phong tục tập quán, văn hóa haykhông tạo dựng được niềm tin trong cộng đồng thì sẽ bị đào thải, nói cách khác, là khôngtạo được sự ủng hộ và không được cộng đồng sử dụng.(Ví dụ: Đối với người Tày ở CaoBằng, khi có người bị bệnh, thay vì tìm đến cơ sở y tế để sử dụng thuốc, người dân sẽ tìmđến các thầy Mo hay bà Then để cúng bái, tìm ra xem con ma nào đang làm hạimình…).Việt Nam là một nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Á đông với một bề dày lịch
sử phong kiến lâu đời, thêm vào đó với 54 dân tộc cũng làm thêm phần đa dạng cho vănhóa Nhưng bên cạnh đó, cụ thể trong việc chăm sóc sức khỏe cũng còn tồn tại nhiều hủtục tâm linh, phản khoa học, không những chữa được bệnh mà còn làm cho bệnh thêm
Trang 14trầm trọng, từ đó càng gây ra tâm lý lo lắng sợ hãi trong cộng đồng tạo điều kiện chonhưng hủ tục tiếp diễn, điều đó vô tình làm rào cản người dân tiếp cận các dịch vụ y tế.Những lý do trên cộng với điều kiện kinh tế khó khăn, thiếu kiến thức cơ bản đã khiếncho việc đạt được sự chấp nhận trong cộng đồng về các dịch vụ y tế thêm phần khó khăn.Trong những năm gần đây, chính phủ Việt Nam đã cùng hợp tác với các tổ chức y tếtrong và ngoài nước nhằm nâng cao hiểu biết của người dân, từ đó dần dần thay đổi suynghĩ, hành vi của cộng đồng nhằm đạt được sự chấp nhận cao hơn đối với các dịch vụ ytế.
2 Ưu, nhược điểm và giải pháp
2.1 Y tế dự phòng
Hiện nay, dịch vụ YTDP được hầu hết được đón nhận do có sự phù hợp nhất định đối vớiđiều kiện kinh tế, phong tục của người dân Đặc biệt, đối với các vùng miền có sự đặctrưng về văn hoá rõ rệt, dịch vụ YTDP cũng được thay đổi cho phù hợp với họ
Ví dụ như ngành y tế cung cấp thuốc tránh thai, bao cao su và các biện pháp tránh thaikhác miễn phí cho người dân, hướng dẫn người dân sử dụng các biện pháp tránh thai antoàn, phát tài liệu, poster cho người dân, thay đổi quan niệm trọng nam khinh nữ
Đối với đối tượng người dân tộc, các tài liệu, poster thường được viết bằng tiếng dân tộc,với hình ảnh minh hoạ dễ hiểu, ngôn ngữ ngắn gọn, súc tích
a Ưu điểm
- Hiện nay, Việt Nam đã và đang triển khai nhiều chương trình dự án để tăng sự
chấp nhận của người dân đối với các dịch vụ y tế thông qua việc nâng cao tríthức, tạo dựng niềm tin như tăng cường lực lượng cán bộ y tế các tuyến y tế địaphương, vùng sâu vùng xa, nơi người dân ít có các các phương tiện thông tinđại chúng để tiếp cận với các thông tin về sức khỏe đúng và đủ (Dự án thí điểmbác sỹ trẻ tình nguyện về công tác tại vùng khó khăn, biên giới hải đảo, ưu tiên
62 huyện nghèo do Bộ Y tế, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ ChíMinh và Hội Thầy thuốc trẻ ViệtNam phổi hợp tổ chức) hay có nhiều trìnhgiao lưu văn hóa giữa bộ đội biên phòng địa phương, người dân và cán bộ y tếnhằm tăng sự đoàn kết, thông qua những hoạt động thiết thực đó đã mang đếnnhiều thành công nhất định, tạo dựng được niềm tin của người dân với cán bộ ytế
Trang 15 Dự án phòng chống các bệnh truyền nhiễm: Thực hiện Chiến lược Quốc gia phát triển y tế dự phòng đến năm 2020, Chiến lược Quốc gia phòng chống HIV/AIDS đến năm 2020 tầm nhìn 2030, Kế hoạch bảo
vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011–2015 và chiến lược phòng chống một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác như sốt rét … và thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về y tế giai đoạn 2012–2015 , ngành y tế đã đạt được những thành quả lớn trong công tác kiểm soát bệnh dịch Ngành y tế cũng đã tiếp tục bảo vệ thành quả thanhtoán bại liệt, loại trừ uốn ván sơ sinh, các bệnh có vắc-xin dự phòng thuộc chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia (lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, viêm gan B, sởi), tỷ lệ mắc giảm dần hằng năm; triển khai tiêm chủng vắc-xin, tiêm chủng mở rộng (bao gồm cả tỷ lệ tiêm chủng cho trẻ dưới 1 tuổi) luôn đạt trên 90%, hạn chế tối đa phản ứng sau tiêm
Chương trình phòng chống lao Quốc gia đã đạt được nhiều thành tựu trong kiểm soát bệnh lao tại Việt Nam theo kế hoạch đề ra Chương trình chống lao đã bao phủ 100% vùng lãnh thổ Cụ thể là đã giảm tỷ lệ hiện mắc xuống còn 225/100 000 dân vào năm 2011 so với 375/100 000dân ở thời điểm năm 2000 Chương trình phòng chống HIV/AIDS: Chương trình phòng chống HIV/AIDS đã giảm được số người mắc và
tử vong do HIV/AIDS bắt đầu từ năm 2008 Cập nhật thực trạng hệ thống y tế 45 phát hiện 14 127 trường hợp nhiễm HIV, 6734 bệnh nhân AIDS và 2149 người tử vong do AIDS
- Các biện pháp tránh thai cũng đang ngày càng có được sự chấp nhận nhiều hơn
từ cộng đồng, đặc biệt là trong giới trẻ, đối tượng có nguy cơ cao nhất với việc
có thai ngoài ý muốn cũng như các bệnh lây lan qua đường tình dục
Trang 16Bảng ý kiến đánh giá của thanh thiếu niên về mức độ thuận lợi hay khó khăn khi muốn nhận và sử dụng một BPTT, theo độ tuổi và giới tính (%)
- Chương trình Tiêm chủng mở rộng (TCMR) được ngành y tế triển khai trên
phạm vi cả nước từ năm 1984, phòng các bệnh truyền nhiễm cho trẻ em, hàngtrăm triệu liều vắc-xin đã được tiêm miễn phí cho các cháu bé để phòng 11 loạibệnh như bạch hầu, ho gà, uốn ván, sởi, viêm não Nhật Bản, viêm gan B, tả
Trong những năm qua, về cơ bản đa số các trẻ em đều được tiêm văcxin phòngbệnh thuộc chương trình tiêm chủng mở rộng theo hình thức miễn phí Thống
kê cho thấy, nhờ vào sự hưởng ứng của người dân (tự đưa con đến các cơ sở ytế,tham gia các buổi tuyên truyền…), đến nay, tỷ lệ mắc bệnh sởi giảm 23 lần,bệnh bạch hầu giảm 167 lần, bệnh ho gà giảm 428 lần, ngoài ra bệnh uốn ván
sơ sinh đã được loại trừ, bệnh sởi dự kiến sẽ được thanh toán vào năm 2015 Ðây là một trong những thành tựu quan trọng và nhân đạo nhất của ngành y tếViệt Nam những năm qua Chương trình TCMR có tính xã hội hóa cao nhất vàđược Nhà nước ưu tiên thực hiện cho toàn bộ trẻ em Việt Nam Theo số liệunghiên cứu mới đây, đối với tiêm chủng mở rộng có 81,3% bà mẹ có kiến thức
về sự cần thiết phải tiêm ngừa, 33,3% có kiến thức về lịch tiêm ngừa, 30,8% cókiến thức về các bệnh phòng ngừa được 87,1% bà mẹ chấp nhận tiêm miễnphí Điều này chứng tỏ sự chấp nhận của người dân với chương trình tiêmchủng mở rộng là khá cao