LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách trong cung ứng dịch vụ y tế thích ứng với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có ảnh hưởng rất lớn tới vi
Trang 1đại học quốc gia hà nội Trường đại học kinh tế
Trương Bảo Thanh
chính sách CạNH TRANH TRONG CUNG
ứNG DịCH Vụ Y Tế ở VIệT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Hà Nội - 2015
Trang 2đại học quốc gia hà nội Trường đại học kinh tế
Trương Bảo Thanh
chính sách CạNH TRANH TRONG CUNG ứNG
DịCH Vụ Y Tế ở VIệT NAM
Chuyờn ngành : Kinh tế chớnh trị
Mó số : 62 31 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học 1: TS Vũ Đức Thanh
2: pgs, TS Đinh Văn Thông
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các số liệu, tài liệu trong Luận án là chính xác, trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Luận án có kế thừa kết quả nghiên cứu của một số nghiên cứu khác dưới dạng trích dẫn, nguồn gốc trích dẫn được liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo
Hà Nội, ngày 21 tháng 05 năm 2015
Tác giả
Trương Bảo Thanh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin được chân thành cảm ơn tới hai thầy giáo hướng dẫn của tôi: Thầy giáo TS Vũ Đức Thanh và Thầy giáo PGS, TS Đinh Văn Thông đã nhiệt tình giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình thực hiện Luận
án này
Xin chân thành cảm ơn tới các Thầy, Cô của Khoa Kinh tế chính trị - Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã góp ý và bổ sung cho tôi những ý kiến đóng góp quý báu để tôi hoàn thành Luận án
Xin cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo Học viện Chính trị Khu vực I, Các Anh, Chị và các bạn đồng nghiệp trong Khoa Kinh tế chính trị học đã luôn chia sẻ và ủng hộ tôi để tôi dành thời gian cho hoàn thành Luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám hiệu, các Anh, Chị phòng Đào tạo Sau Đại học, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình triển khai và hoàn thành Luận án
Tác giả
Trương Bảo Thanh
Trang 5MỤC LỤC Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục các sơ đồ, các hình vẽ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 4
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
6 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8
7 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 31
8 KẾT CẤU LUẬN ÁN 32
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH TRONG CUNG ỨNG DỊCH VỤ Y TẾ 33
1.1 DỊCH VỤ Y TẾ - MỘT LOẠI HÀNG HÓA DỊCH VỤ CÔNG ĐẶC THÙ 33
1.1.1 Những khái niệm cơ bản về hàng hoá dịch vụ công 33
1.1.2 Dịch vụ y tế với tư cách là một hàng hoá dịch vụ công đặc thù 37
1.1.3 Đặc điểm thị trường dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe 39
1.2 CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH TRONG CUNG ỨNG DỊCH VỤ Y TẾ 51
1.2.1 Vai trò của nhà nước trong cung ứng dịch vụ y tế và sự cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế 51
1.2.2 Khái niệm chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế 55
Trang 61.2.3 Nội dung của chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế 63 1.2.4 Các tiêu chí của chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế 65 1.2.5 Những nhân tố ảnh hưởng tới chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế 68
1.3 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH TRONG CUNG ỨNG DỊCH VỤ Y TẾ 70
1.3.1 Kinh nghiệm về xây dựng và hoàn thiện chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế ở một số nước trên thế giới 70 1.3.2 Bài học thiết thực cho Việt Nam 87
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH TRONG CUNG ỨNG DỊCH VỤ Y TẾ Ở VIỆT NAM 92 2.1 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ Y TẾ Ở
VIỆT NAM 92
2.1.1 Đặc thù về cung ứng trên thị trường dịch vụ y tế ở Việt Nam 92 2.1.2 Cầu trên thị trường dịch vụ y tế ở Việt Nam Việt Nam 98 2.1.3 Những tiền đề pháp lý và các chính sách khuyến khích hình thành chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam 102 2.1.4 Cơ chế đảm bảo tài chính cho các cơ sở cung ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam 113
2.2 HIỆN TRẠNG VỀ CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH TRONG CUNG ỨNG DỊCH VỤ Y TẾ Ở VIỆT NAM 120
2.2.1 Thúc đẩy các cơ hội bình đẳng và không phân biệt đối xử trong cạnh tranh giữa các chủ thể cung ứng dịch vụ y tế 120 2.2.2 Khuyến khích cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể cung ứng dịch vụ
y tế 137 2.2.3 Bảo đảm quyền lợi hợp pháp và trách nhiệm của các chủ thể tham gia cạnh tranh cung ứng dịch vụ y tế và các bên liên quan 139
2.3 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH TRONG CUNG ỨNG DỊCH VỤ Y TẾ 142
Trang 72.3.1 Những thành công của chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y
tế 142 2.3.2 Những hạn chế của chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế 145
2.4 NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ VÀ NHỮNG VẤN
ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH TRONG CUNG ỨNG DỊCH VỤ Y TẾ 150
2.4.1 Nguyên nhân của những hạn chế 150 2.4.2 Những vấn đề đặt ra 152
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH
SÁCH CẠNH TRANH TRONG CUNG ỨNG DỊCH VỤ Y TẾỞ VIỆT
NAM 155 3.1 BỐI CẢNH TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH TRONG CUNG ỨNG DỊCH VỤ Y TẾ TRONG THỜI GIAN TỚI 155
3.1.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế 155
3.1.2 Những định hướng chiến lược phát triển ngành y tế 159 3.2 QUAN ĐIỂM VỀ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH TRONG CUNG ỨNG DỊCH VỤ Y TẾ Ở VIỆT NAM 160
3.2.1 Bảo đảm bình đẳng trong cạnh tranh giữa các chủ thể cung ứng dịch vụ
y tế 160 3.2.2 Bảo đảm quyền lợi và trách nhiệm của các chủ thể và các bên liên quan tham gia cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế 161 3.2.3 Nhà nước phải kiểm soát chặt chẽ chất lượng dịch vụ y tế 161 3.2.4 Bảo đảm chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế phải phù hợp với những quy định của pháp luật và thông lệ quốc tế 162 3.2.5 Đa dạng hoá các loại hình cơ sở cung ứng dịch vụ, các phương thức cung ứng dịch vụ 163
3.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH TRONG CUNG ỨNG DỊCH VỤ Y TẾ Ở VIỆT NAM 164
Trang 83.3.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật và "luật chơi" kinh tế về cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế 164 3.3.2 Nhóm giải pháp khuyến khích các chủ thể tham gia cung ứng dịch vụ y
tế, tạo ra nhiều cơ hội lựa chọn cho người dân 165 3.3.3 Nhóm giải pháp tạo dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể cung ứng dịch vụ y tế 167 3.3.4 Nhóm giải pháp hoàn thiện các công cụ điều tiết, kiểm tra, giám sát chất lượng và hành vi cạnh tranh đối với các chủ thể cung ứng dịch vụ y tế 168 3.3.5 Nhóm các giải pháp hỗ trợ 170
KẾT LUẬN 174 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 176 TÀI LIỆU THAM KHẢO 177
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
BHYT Bảo hiểm y tế
BHXH Bảo hiểm xã hội
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới WHO World Health Organization Tổ chức y tế thế giới
OECD Organization for Economic Tổ chức hợp tác và phát Co-operation and Development triển kinh tế
ODA Official Development Aid Viện trợ phát triển
chính thức FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài GATS General Agreement on Trade Thỏa thuận chung về thương
in Services mại dịch vụ
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Bảng 2.1 Tổng hợp số liệu về y tế (2005 - 2013) 94
Bảng 2.2 Tỷ lệ giường bệnh ở bệnh viện công và bệnh viện tư 97
Bảng 2.3 Lựa chọn dịch vụ khám chữa bệnh khi ốm đau trong 4 tuần 101
Bảng 2.4 Số người tham gia bảo hiểm y tế qua các năm (2005-2010 115
Bảng 2.5 Số bệnh viện có dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu 132
Bảng 2.6 Tỷ lệ giường bệnh theo yêu cầu 133
Bảng 2.7 Vốn đăng ký, vốn thực hiện và địa bàn chủ yếu của các dự án FDI vào ngành y tế của Việt Nam phân theo mục tiêu đầu tư (1989-2008) 135
Bảng 2.8 Các vấn đề sức khỏe và liên quan đến thỏa thuận WTO 136
Sơ đồ 01 Tóm tắt khung nghiên cứu Luận án 7
Hình 1.1 Bức tranh hàng hóa công và hàng hóa tư 34
Hình 1.2 Hàng hóa dịch vụ công phân theo cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới 36
Hình 1.3 Cơ cấu tài chính chi trả dịch vụ y tế 81
Hình 2.1 Cơ cấu chi y tế, 1999 - 2010 114
Hình 2.2 Tỷ lệ chi y tế từ túi tiền hộ gia đình trong tổng chi cho y tế tại một số quốc gia châu Á, 2007 117
Hình 2.3 Tỷ lệ bao phủ BHYT tại Việt Nam, 2006 - 2012 118
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách trong cung ứng dịch vụ y
tế thích ứng với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có ảnh hưởng rất lớn tới việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, tạo ra nhiều cơ hội lựa chọn các cơ sở khám chữa bệnh của người dân, đảm bảo an sinh xã hội, góp phần nâng chất lượng cuộc sống của nhân dân
Hệ thống chính sách và cơ chế cung ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam hiện nay còn rất nhiều vấn đề bất cập, nguồn lực đầu tư lớn nhưng hiệu quả sử dụng nguồn lực này để cung ứng dịch vụ y tế chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra
- Ngành y tế Việt Nam chưa đáp ứng đủ cả về số lượng và chất lượng dịch vụ y tế cho người dân
- Khả năng tiếp cận của người dân đối với dịch vụ y tế là rất khó khăn, nhất là người nghèo, cận nghèo và dân cư vùng sâu vùng xa Sự bất bình đẳng trong việc cung ứng và thụ hưởng các dịch vụ y tế có xu hướng gia tăng
- Cơ chế chính sách trong quản lý điều hành lĩnh vực y tế còn nhiều bất cập Hệ thống thông tin quản lý về y tế còn thiếu đồng bộ, trùng chéo Hệ thống quản lý chất lượng dịch vụ y tế cũng như thanh tra chất lượng dịch vụ y
tế ở cả khu vực Nhà nước và tư nhân còn yếu Công tác quản lý giá thuốc tại các bệnh viện còn nhiều bất cập đẩy giá thành thuốc tăng cao tạo áp lực về phí bệnh viện cho người bệnh
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng kể trên Ngoài những nguyên nhân quan trọng bắt nguồn từ nguồn gốc lịch sử phát triển của hệ thống y tế, trình độ non yếu về cơ sở vật chất và đội ngũ các nhà chuyên môn, một nguyên nhân không kém phần quan trọng đó là chính sách và cơ chế cung
Trang 12ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam hiện nay còn thiếu vắng cơ chế cạnh tranh được vận dụng trong lĩnh vực này
Thực tiễn ở nhiều nước trên thế giới đã chứng minh rằng việc chính phủ các nước đã xây dựng và hoàn thiện chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế bằng việc tạo lập các cơ hội bình đẳng không phân biệt đối
xử trong cạnh tranh Bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của các chủ thể trong nền kinh tế, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh đã góp phần nâng cao hiệu quả, cải thiện chất lượng dịch vụ y tế và đảm bảo sự bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực; tạo thêm nhiều cơ hội lựa chọn và tiếp cận các dịch vụ y tế của người dân
Đối với Việt Nam, Chính phủ đã chủ trương thực hiện xã hội hoá trong cung ứng dịch vụ y tế, từng bước xây dựng và hoàn thiện chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cung ứng, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, tạo ra nhiều cơ hội cho người dân trong việc tiếp cận dịch vụ y tế Tuy nhiên, việc hoạch định và triển khai chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế, hạn chế cả về mặt nhận thức, chủ trương cho đến triển khai thực hiện chính sách Do vậy, việc nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế, chỉ ra những hạn chế, rào cản trong việc hoạch định, tổ chức triển khai thực hiện chính sách, đánh giá chính sách tìm ra nguyên nhân của những hạn chế, bất cập của chính sách cạnh tranh và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết, trên cơ sở đó hoàn thiện chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam hiện nay
Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu cả về mặt lý luận và
thực tiễn tác giả lựa chọn đề tài: “Chính sách cạnh tranh trong cung ứng
dịch vụ y tế ở Việt Nam” làm luận án tiến sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị
Trang 132 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là hệ thống hóa luận giải làm rõ hơn
cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế; Phân tích đánh giá thực trạng chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch
vụ y tế ở Việt Nam; Đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện hơn chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam
Để đạt được mục tiêu trên, luận án đặt ra 4 nhiệm vụ quan trọng sau đây:
- Hệ thống hóa và luận giải rõ hơn về cơ sở lý luận chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế;
- Khảo sát những kinh nghiệm cần thiết về xây dựng chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế ở một số nước trên thế giới từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;
- Phân tích đánh giá thực trạng về chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam hiện nay;
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp xây dựng và hoàn thiện chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: là “Chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch
vụ y tế ở Việt Nam”
Giới hạn đối tượng nghiên cứu của luận án là chính sách cạnh tranh
trong cung ứng dịch vụ y tế bao gồm các hoạt động dịch vụ khám, chữa bệnh tại các bệnh viện, phòng khám, phòng mạch, dịch vụ cung ứng thuốc chữa bệnh, cơ sở vật chất và các trang thiết bị y tế Luận án không đề cập đến lĩnh
vực y tế công cộng như phòng dịch, vệ sinh dịch tễ
Giới hạn không gian: Luận án tập trung chính vào giải quyết những
vấn đề về chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam Để
Trang 14có thêm cơ sở thực tiễn, luận án giới thiệu một số kinh nghiệm quan trọng của một số quốc gia tiêu biểu về xây dựng chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế như Đức, Anh, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Ấn Độ, Mê-hi-cô, Nam Phi
và Xinh-ga-po, v.v
Giới hạn thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu giai đoạn sau khi có
cơ chế chính sách đổi mới trong cung ứng dịch vụ y tế ở Việt nam (từ khi có Pháp lệnh hành nghề Y Dược công bố ngày 13/10/1993) Trong phân tích kinh nghiệm quốc tế về xây dựng chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch
vụ y tế, thời gian nghiên cứu tập trung vào những năm đầu của thập kỷ 2000s trở lại đây
4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Câu hỏi tổng quát:
Cần phải làm gì, làm như thế nào để hoàn thiện hơn chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam hiện nay?
Để trả lời câu hỏi trên, luận án cần phải trả lời những câu hỏi sau:
- Chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế là gì? Nội dung và tiêu chí của chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế?
- Khung lý thuyết cho xây dựng chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế?
- Những bài học kinh nghiệm quốc tế nào về chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế có thể áp dụng cho Việt Nam?
- Thực trạng chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
- Những tác động của việc thực thi các cam kết trong WTO đến hệ thống cung ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam là gì?
- Cần phải có những quan điểm và giải pháp gì để xây dựng và hoàn thiện chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế Việt Nam?
Trang 155 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu và nhiệm vụ đề ra, luận án kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
là phương pháp luận rất quan trọng cho phân tích và luận giải bản chất và quá trình vận động và phát triển của các hiện tượng, sự vật Hơn nữa, luận án còn
sử dụng các phương nghiên cứu khoa học cụ thể như trừu tượng hóa khoa học, phân tích và tổng hợp, so sánh, thống kê, phương pháp lô gic kết hợp với lịch sử, nghiên cứu tình huống, v.v
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: Trừu tượng hóa khoa học
đòi hỏi gạt bỏ những yếu tố ngẫu nhiên xảy ra trong những quá trình và những hiện tượng kinh tế, tách ra những cái điển hình, ổn định, bền vững, trong những hiện tượng và quá trình đó, trên cơ sở đó nắm được bản chất các hiện tượng, tiến tới khái quát và xây dựng phạm trù, quy luật phản ánh những bản chất đó
Phương pháp nghiên cứu này rất phù hợp với việc nghiên cứu chính sách Bởi vì như chúng ta biết chính sách thực chất là việc vận dụng các quy luật kinh tế khách quan vào thực tiễn, mà quy luật kinh tế chính là bản chất của các sự vật hiện tượng và quá trình kinh tế Chính vì vậy, nắm chắc phương pháp này sẽ thuận lợi cho việc nghiên cứu chính sách Tránh được cái nhìn phiến diện không bản chất Phương pháp trừu tượng hóa cũng đòi hỏi gắn liền với phương pháp kết hợp lô gíc với lịch sử, bởi lẽ lịch sử bắt đầu từ đâu thì quá trình tư duy lô gíc cũng phải bắt đầu từ đó
- Phương pháp lô gíc kết hợp với lịch sử: Phương pháp này cho phép
nhìn nhận bản chất hiện tượng nghiên cứu theo những cấu trúc hệ thống bền vững bên trong phù hợp với những điều kiện kinh tế, pháp luật ứng với từng giai đoạn phát triển nhất định của các chính sách đối với ngành y tế Xem xét
Trang 16chính sách cạnh tranh trong những điều kiện lịch sử nhất định Theo các chuỗi thời gian, yêu cầu và nội dung của chính sách cạnh tranh cũng thay đổi khác nhau Trong các điều kiện kinh tế chính trị khác nhau, vấn đề chính sách cạnh tranh cũng cần phải được cân nhắc theo những cách tiếp cận đặc thù riêng
- Phân tích - tổng hợp: Đây là các phương pháp chung được sử dụng
rộng rãi trong nghiên cứu khoa học Quá trình phân tích các hiện tượng, sự vật cần tiến hành một cách khoa học từ nhiều góc độ, sau đó những kết quả nghiên cứu có thể khái quát cho phát triển lý luận và vận dụng, áp dụng vào thực tiễn Bằng cách này, nhiều vấn đề của đối tượng nghiên cứu được phân tích từ những góc độ riêng rẽ, ngược lại kết quả nghiên cứu riêng đó được tổng hợp thành những điểm khái quát chung cho cả quá trình vận động của hiện tượng, sự vật
- Nghiên cứu tình huống: Lựa chọn các tình huống có vấn đề nghiên
cứu, hợp cảnh với những lập luận và thực tiễn phổ biến Tình huống lựa chọn nghiên cứu bao gồm tình huống trong nước và ngoài nước Trong Luận án này, tác giả lựa chọn nhiều tình huống thực địa trong nước và những kinh nghiệm thành công và thất bại của các nước như Đức, Anh, Mỹ, Xinh-ga-po, Bra-xin, Mê-hi-cô, Nam Phi, Ấn Độ về chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế đảm bảo xây dựng môi trường công bằng và bình đẳng hơn giữa các chủ thể cung ứng dịch vụ y tế
- Các phương pháp nghiên cứu được lựa chọn trong luận án là nghiên
cứu định tính Đây là phương pháp nghiên cứu phù hợp với đối tượng nghiên
cứu và mục tiêu nghiên cứu của luận án
Nghiên cứu định tính là một phương pháp nghiên cứu mà vấn đề nghiên cứu được nhìn nhận như một chuỗi các sự kiện liên kết chặt chẽ với nhau và cần được mô tả một cách đầy đủ để phản ánh vấn đề đang được quan tâm Nghiên cứu định tính cho phép cung cấp thông tin toàn diện vấn đề nghiên cứu và nó phù hợp
Trang 17với việc mô tả, tiếp cận và phân tích đặc điểm văn hóa và hành vi của con người
và của nhóm người từ quan điểm của nhà nghiên cứu Nghiên cứu định tính được cho là đặc biệt có giá trị trong lĩnh vực dịch vụ y tế vì nó cho phép khám phá, thăm dò những vấn đề khó và còn ít được biết đến; nhận biết được những tồn tại
và những chính sách can thiệp đang triển khai và đưa ra những giải pháp thích hợp đối với những tồn tại đó; thăm dò tính khả thi, chấp nhận và sự phù hợp của những chương trình, chính sách mới; đề ra những biện pháp, chính sách can thiệp phù hợp và phát hiện những quần thể cần được chú trọng
Đề tài dựa chủ yếu vào cơ sở dữ liệu thứ cấp để phân tích và khái quát
các luận đề nghiên cứu Số liệu thứ cấp có thể là số liệu thống kê được sưu tầm từ các trung tâm dữ liệu như Tổng cục thống kê, cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật của Chính phủ, Quốc hội, các Bộ v.v Nguồn tài liệu quan trọng là các công trình nghiên cứu liên quan được công bố trong và ngoài nước Những tài liệu khoa học này là căn cứ thực sự cần thiết cho kết quả nghiên cứu luận án này Danh sách những tài liệu được phân tích tổng hợp trong mục tình hình nghiên cứu
và Giải pháp Thu thập thông tin,
số liệu, tài liệu
Trang 186 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
a Một số nghiên cứu ở nước ngoài:
Tác giả khảo sát một số tài liệu nghiên cứu khoa học nước ngoài liên quan tới nội dung chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế Mỗi nghiên cứu dựa trên đặc điểm đặc thù của từng quốc gia
Pamela Halse, Nonkululeko Moeketsi, Sipho Mtombeni, Genna
Robb, Thando Vilakazi and Yu-Fang Wen, The role of competition policy
in healthcare markets, Competition Commission of South Africa [90]
Theo nhóm nghiên cứu, chính sách cạnh tranh đóng một vai trò rất quan trọng trong thị trường chăm sóc sức khỏe Phần 2 của Luật Cạnh tranh Nam Phi khẳng định mục đích của nó là: "Phát huy hiệu quả, khả năng thích ứng và phát triển của nền kinh tế" và "Để cung cấp cho người tiêu dùng với giá cả cạnh tranh và cơ hội lựa chọn sản phẩm" Phần 3 (1) của Đạo Luật đặt hoạt động kinh tế trong chăm sóc sức khỏe là lĩnh vực cần giám sát cạnh tranh Nghiên cứu đã khái quát được bức tranh tổng thể về chính sách cạnh tranh được phân tích từ kinh nghiệm quốc tế, đồng thời làm rõ cách cách thức
mà trong đó chính sách cạnh tranh được sử dụng để đảm bảo nâng cao chức năng hiệu quả của thị trường chăm sóc sức khỏe Nghiên cứu đã phân tích làm
rõ về đặc điểm của thị trường chăm sóc sức khỏe với đặc thù rất phức tạp là thông tin bất đối xứng, thông tin không hoàn hảo Những nhân tố hạn chế cạnh tranh trong thị trường chăm sóc sức khỏe bởi các rào cản ra nhập ngành Nghiên cứu đã mô tả thực trạng thị trường chăm sóc sức khỏe Nam Phi với tốc độ tăng chi phí y tế nhanh hơn lạm phát dự báo và đưa ra một số quan ngại liên quan đến cạnh tranh Nghiên cứu đã khái quát các bài học kinh nghiệm quốc tế về chính sách cạnh tranh ở một số nước như Đức, Hà lan, Anh, Colombia, Ấn độ, Pa-ki-xtan để trên cơ sở đó Nam Phi có thể vận dụng quản lý điều tiết hiệu quả hoạt động của thị trường chăm sóc sức khỏe Nam
Trang 19Phi Nhiều Bài học rút ra cho Nam Phi về xây dựng chính sách cạnh tranh trong thị trường chăm sóc sức khỏe đó chính là:
Thứ nhất nghiên cứu đã chỉ ra tính không hiệu quả của các chương
trình y tế của Nam Phi bởi vì các chương trình này đã không khuyến khích các đơn vị cung ứng dịch vụ y tế cạnh tranh với nhau để thu hút nguồn lực từ bảo hiểm như là mô hình bảo hiểm y tế của Đức Vai trò của các quỹ bảo hiểm ở Đức đã thay mặt người dân đàm phán với các nhà cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe, các công ty dược phẩm
Thứ hai, là Bộ Y tế và Ủy ban cạnh tranh chưa tạo các điều kiện thuận
lợi để các thành viên mới gia nhập thị trường chăm sóc sức khỏe như việc cấp phép, lựa chọn các thỏa thuận hợp đồng
Thứ ba, hệ thống cung ứng dịch vụ y tế của Nam Phi là kém minh bạch Thứ tư, tỷ lệ người dân Nam Phi chưa được phủ bảo hiểm y tế cơ bản ở
mức khá cao thể hiện ở chi tiêu tư nhân cho lĩnh vực y tế ở mức 56 phần trăm
Thứ năm, kiểm soát sự lạm dụng thống trị của độc quyền và gian lận
trong các hoạt động đấu thầu mua sắm trang thiết bị y tế, dược phẩm Những bài học thất bại và thành công này rất bổ ích và phù hợp với điều kiện của nền kinh tế Việt Nam là một nước kinh tế đang phát triển Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa làm rõ được nội hàm của chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch
vụ y tế; chưa phân tích sâu sắc đặc điểm khác biệt của thị trường dịch vụ y tế
so với thị trường hàng hóa dịch vụ thông thường khác là gì?
Meng - Kin Lim, Shifting the burden of health care finance: a case
study of public - private partnership in Singapore[85] Nghiên cứu đã khái
quát được kinh nghiệm thành công của Xinh-ga-po trong việc chuyển một phần gánh nặng chi phí y tế từ khu vực công sang khu vực tư nhân Cụ thể ngân sách của Xinh-ga-po dành cho y tế năm 1965 chiếm 50% tổng chi cho y
tế và năm 2000 còn số này là 25% nhưng hệ thống y tế của Xinh-ga-po vẫn
Trang 20đảm bảo được sự công bằng và hiệu quả Nghiên cứu của tác giả đã giới thiệu bối cảnh thay đổi chính sách y tế của Xinh-ga-po từ hệ thống chính sách y tế theo mô hình bị ảnh hưởng của Anh Quốc vì Xinh-ga-po là thuộc địa của Anh nên chủ yếu là phụ thuộc vào thuế của Chính phủ Nhưng sau khi Xinh-ga-po dành được độc lập, Chính phủ Xinh-ga-po đã xác định với chính sách phúc lợi dựa hoàn toàn vào nguồn lực của Chính phủ thông qua thuế là không khả thi, Chính phủ Xinh-ga-po đã xây dựng một chương trình y tế dựa vào cả hai khu vực, khu vực công và khu vực tư nhân Quan hệ đối tác công - tư trong việc tài trợ tài chính cho chăm sóc sức khỏe được Chính phủ Xinh-ga-po thiết lập với ba màng lưới Màng lưới thứ nhất đó là tài khoản tiết kiệm y tế (Medisave) bắt buộc thu từ 6- 8% theo lương Tài khoản tiết kiệm y tế là một phần mở rộng của quỹ tiết kiệm Trung ương (CPF) Tài khoản này được dùng
để chăm sóc bệnh nhân khi mắc những bệnh cấp tính, hiểm nghèo v.v Tài khoản này cũng được chia sẻ rủi ro cho các thành viên trong gia đình hoặc được chuyển quyền thụ hưởng tài khoản này cho thân nhân khi chủ tài khoản
bị chết Tiếp theo là bảo hiểm y tế (Medishield), bảo hiểm y tế cơ bản được thiết kế bắt buộc đối với toàn bộ dân chúng Xinh-ga-po phải mua trước khi mua các bảo hiểm bổ sung khác theo phương thức đồng chị trả Cuối cùng là bảo hiểm y tế cho người nghèo (Medifund) quỹ này dùng để thanh toán cho người nghèo không có khả năng chi trả các khoản thanh toán của bệnh viện
Cơ chế thanh toán các khoản chi phí y tế của Xinh-ga-po thực hiện theo phương thức đồng chi trả bao gồm: Chính phủ 25%, người sử dụng lao động 35%, thanh toán từ túi tiền người bệnh 25% và bảo hiểm tư nhân 5% Với cơ chế tài chính năng động đa tầng, đa diện Xinh-ga-po đã xây dựng được hệ thống bệnh viện bao gồm cả hệ thống bệnh viện công và bệnh viện tư nhân Bệnh nhân của Xinh-ga-po hoàn toàn được tự do lựa chọn và tiếp cận các cơ
sở khám chữa bệnh tư nhân với 80% và 20% đối với bệnh viện công lập trong
Trang 21khám và điều trị ngoại trú; và 80% bệnh viện công lập và 20% bệnh viện tư nhân cho điều trị nội trú Kinh nghiệm của Xinh-ga-po cho thấy việc kết hợp
sử dụng nguồn lực tư nhân và công cộng để tài trợ cho lĩnh vực chăm sóc sức khỏe mà vẫn đảm bảo cho hệ thống y tế của Xinh-ga-po đảm bảo mục tiêu hiệu quả và công bằng và nó rất phù hợp với điều kiện của Việt Nam hiện nay khi ngân sách nhà nước còn quá eo hẹp cần phải huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân
Nghiên cứu này chỉ tập trung vào nghiên cứu khía cạnh tài chính y tế đặc biệt là giới thiệu kinh nghiệm chuyển một phần chi phí y tế từ khu vực nhà nước sang khu vực tư nhân Nghiên cứu chưa đưa ra được một chính sách cạnh tranh mang tính tổng thể bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra dịch vụ y tế Nghiên cứu cũng chưa chỉ ra vai trò của luật cạnh tranh, các chính sách khuyến khích tác động như thế nào đến thị trường này
Piya Hanvoravongchai (2002), Medical Saving Accounts:Lessons
Learned from International Experience [91] Nghiên cứu đã khái quát được
kinh nghiệm về đổi mới tài chính trong lĩnh vực y tế của Xinh-ga-po đặc biệt
là nghiên cứu đã nhấn mạnh tới kinh nghiệm trong việc triển khai mô hình tài khoản tiết kiệm y tế (Madisave), song song cùng với bảo hiểm y tế bao gồm: bảo hiểm y tế cơ bản cho người dân (MediShield, bảo hiểm y tế cho người nghèo (Medifund) và bảo hiểm y tế bổ sung theo nguyên tắc đồng chi trả sau khi người dân đã mua bảo hiểm y tế cơ bản (MediShield Plus) Ngoài ra, nghiên cứu cũng đề cập tới kinh nghiệm của một số quốc gia khác như Hoa
Kỳ, Trung Quốc, Nam Phi và Hồng Kông Xinh-ga-po là những nước tiên phong trong việc triển khai tài khoản tiết kiệm y tế (Madisave) Tài khoản tiết kiệm y tế được coi là một trong những chính sách tài chính góp phần rất lớn tạo ra cơ chế cạnh tranh giữa các bệnh viện công và bệnh viện tư Các bệnh viện cạnh tranh với nhau để thu hút bệnh nhân đến khám, chữa bệnh nhằm thu
Trang 22hút nguồn lực tài chính cho chăm sóc sức khỏe ở Xinh-ga-po từ quỹ tiết kiệm
y tế bắt buộc và tạo điều kiện cho người dân có cơ hội lựa chọn các cơ sở khám chữa bệnh Tài khoản tiết kiệm y tế góp phần ngăn ngừa được rủi ro đạo đức trong sử dụng các dịch vụ Bệnh nhân sẽ lựa chọn mua các dịch vụ chăm sóc y tế một cách phù hợp và hiệu quả nhất Tuy nhiên, tài khoản tiết kiệm y tế cũng có một số các hạn chế nhất định đó là nó ít công bằng hơn trong tổng thể của hệ thống y tế Mô hình tài khoản tiết kiệm y tế có những giới hạn nhất định trong việc chia sẻ rủi ro giữa người khỏe và người bệnh, người giàu và người nghèo Một số trường hợp bệnh nhân là người thường xuyên bị thất nghiệp hay những bệnh nhân mắc các bệnh mãn tính sẽ khó có thể có đủ tiền để tích lũy vào tài khoản trang trải cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của mình Mô hình tài khoản tiết kiệm y tế cũng hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người nghèo Chính vì vậy, chính phủ Xinh-ga-po đã phải bổ sung bảo hiểm y tế (Medishield, Medishield plus) và Medifund bảo hiểm y tế chi người nghèo Ngoài ra, nghiên cứu cũng tổng kết những thử nghiệm tài khoản tiết kiệm y tế ở một vài quốc gia khác như Nam Phi, Hoa
Kỳ và Trung Quốc
Kinh nghiệm tài khoản tiết kiệm y tế của Hoa Kỳ theo hình thức tự nguyện đã không thu hút được nhiều người dân tham gia Tại Mỹ tài khoản tiết kiệm y tế quy định khối lượng tiền tối đa Thu nhập lãi từ tài khoản này sẽ được miễn thuế và được miễn một số khoản đóng góp Ngoài tài khoản tiết kiệm y tế, những người bị tai nạn, khuyết tật, chăm sóc thị lực, chăm sóc dài hạn sẽ được mua bảo hiểm bổ sung Tuy nhiên, chương trình này có rất ít người dân Mỹ đủ điều kiện tham gia Chương trình tài khoản tiết kiệm y tế của Mỹ chưa đưa ra đủ bằng chứng để chứng minh về tính hiệu quả của nó và
nó chưa mang tính phổ biến trên diện rộng trong toàn bộ dân chúng Mỹ Kinh nghiệm của Mỹ về tài khoản tiết kiệm y tế là rất hạn chế Sự quan tâm của
Trang 23chương trình tài khoản tiết kiệm y tế nhằm hướng tới mục tiêu kiềm chế chi phí cao trong chi tiêu chăm sóc sức khỏe và đồng thời khuyến khích lựa chọn giải pháp chăm sóc sức khỏe thích hợp và hiệu quả chi phí Nhưng một vài nghiên cứu cho thấy rằng cần phải cung cấp thêm bằng chứng để đưa ra những kết luận về những tác động của tài khoản tiết kiệm y tế mang tính vững chắc hơn
Kinh nghiệm về tài khoản tiết kiệm y tế của Trung Quốc bắt đầu từ nghiên cứu thí điểm tại thành phố Zhenjian và Jiujiang như là một phần của
dự án cải cách tài chính y tế Sự thay đổi quan trọng trong hai thành phố đó là
sử dụng tài khoản tiết kiệm y tế trong thanh toán đối với các nhà cung cấp dịch vụ y tế Chương trình tiết kiệm y tế là bắt buộc đối với các công nhân và nhân viên của Chính phủ Tỷ lệ đóng góp là 10% theo lương của người lao động, 4% do người sử dụng lao động trả, 6% do bảo hiểm xã hội chi trả Hệ thống tài chính y tế của Trung Quốc là ba tầng bao gồm: tài khoản tiết kiệm y
tế, thanh toán bằng túi tiền người bệnh và bảo hiểm xã hội Với mức 20% đồng thanh toán bắt buộc bất kể với mức chi tiêu nào, chi cho các dịch vụ chẩn đoán đắt tiền nhằm hạn chế việc lạm dụng sử dụng dịch vụ của các bệnh nhân Bảo hiểm xã hội chỉ thanh toán các khoản thuốc đăng ký trong danh mục thuốc thiết yếu của chương trình Bằng chứng cho thấy tại thành phố Zhẹnjian đã giảm 24,6% trong tổng chi tiêu y tế từ năm 1994 đến năm 1995 Tuy nhiên, thành công của cải cách tài chính y tế không có nghĩa là tài khoản tiết kiệm y tế có hiệu quả trong toàn bộ hệ thống y tế Một số bằng chứng cho thấy rằng người dân đã chuyển từ tài khoản tiết kiệm y tế sang bảo hiểm y tế Hạn chế của tài khoản tiết kiệm y tế đó là chỉ giới hạn cho người lao động ở khu vực chính thức và môi trường đô thị Do vậy, mô hình này khó có thể áp dụng rộng rãi cho các nhóm dân cư khác đặc biệt là khu vực nông thôn sẽ gặp nhiều khó khăn hơn nữa
Trang 24Tóm lại chương trình tiết kiệm y tế tùy vào đặc điểm của mỗi quốc gia
và các mục tiêu và hệ thống tài chính sẵn có để xây dựng hệ thống tài khoản tiết kiệm y tế theo hình thức bắt buộc hay hình thức tự nguyện Tuy nhiên, có nhiều bằng chứng cho thấy rằng không thể dụng tài khoản tiết kiệm y tế một mình Để huy động nguồn lực tài chính cho tài khoản tiết kiệm y tế phải mất nhiều thời gian Sử dụng tài khoản tiết kiệm y tế là để nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả nhưng tính bất công bằng trong tiếp cận các dịch vụ y tế của người dân sẽ gia tăng
Nghiên cứu này đã tập trung nghiên cứu tính hiệu quả của tài khoản tiết kiệm y tế trong việc ngăn ngừa rủi ro đạo đức và các tác động đối với xã hội khi thực hiện tài khoản tiết kiệm y tế Đặc biệt là đối với nhóm người thiệt thòi dễ bị tổn thương như người nghèo, các nhóm phi chính thức và người dân
ở khu vực nông thôn Có thể kết luận rằng tài khoản tiết kiệm y tế có nhiều ưu điểm đó là nó sẽ tạo ra một sân chơi cạnh tranh công bằng và bình đẳng để các chủ thể cung ứng dịch vụ y tế cạnh tranh với nhau trong việc thu hút nguồn lực tài chính từ hệ thống tài khoản tiết kiệm y tế, đồng thời tạo nhiều
cơ hội lựa chọn cho người dân trong việc lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh Tuy nhiên, để tăng tính công bằng và khả năng tiếp cận và cơ hội lựa chọn của người dân tới hệ thống y tế thì cần phải bổ sung thêm hệ thống các lưới an sinh khác như bảo hiểm y tế cơ bản, bảo hiểm y tế bổ sung và bảo hiểm y tế cho người nghèo
Nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào khía cạnh tài chính y tế, đặc biệt
là nghiên cứu đã giới thiệu hệ thống các lưới an sinh trong lĩnh vực y tế như tiết kiệm y tế, bảo hiểm y tế, bảo hiểm y tế cho người nghèo Nghiên cứu chưa đề cập đến vai trò của Luật cạnh tranh, Luật chống độc quyền đối với với thị trường dịch vụ y tế và các chính sách khuyến khích cạnh tranh khác trong cung ứng dịch vụ y tế ở Xinh-ga-po
Trang 25OECD 2005 Policy Roundtables, Competition in the Provision of
Health Services [88] Tài liệu này là tập hợp các tóm tắt của hội nghị và các
tài liệu bài viết tại hội nghị bàn tròn do chuyên gia Mr Sean Ennis của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) ghi chép tại hội nghị bao gồm các nước Ác-hen-ti-na, Bra-xin, Ca-na-đa, Đan Mạch, Ủy ban Châu Âu, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Mê-hi-cô, Hà Lan, Niu Di-lân, Đài Loan, Hoa Kỳ, Anh quốc
v.v
Phần tóm tắt hội nghị, tác giả đã khái quát được những nội dung chính được thảo luận trong hội nghị bàn tròn bao gồm: Vai trò của cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ bệnh viện Các bài tham luận đều cho rằng cơ chế định hướng thị trường có thể giúp cho việc giảm chi phí cung ứng dịch vụ bệnh viện Nghiên cứu cũng chỉ ra một số điều kiện phải được đáp ứng để cho các lực lượng thị trường tác động đến lĩnh vực chăm sóc sức khỏe Một trong những điều kiện quan trọng nhất để cơ chế thị trường có thể vận hành trong thị trường này đó là sự tài trợ tài chính cho các bệnh viện, liên quan tới số lượng bệnh nhân đến điều trị và hiệu suất và hiệu quả điều trị của họ Do vậy, bệnh viện phải nâng cao chất lượng, giảm giá dịch vụ để tăng cường thu hút bệnh nhân đến khám và điều trị góp phần gia tăng thu nhập cho bệnh viện Lợi ích của dịch vụ bệnh viện sẽ gia tăng do tác động của cạnh tranh Tuy nhiên, cũng có những ảnh hưởng, tác động khác nhau của cạnh tranh, đặc biệt
là đối với khu vực nông thôn Các bệnh viện đặt tại các vùng nông thôn thì cạnh tranh dường như ít hiệu quả trong việc khuyến khích các bệnh viện sử dụng nguồn lực tốt hơn Khi bệnh viện được đặt tại khu vực với nhiều đối thủ cạnh tranh, cạnh tranh sẽ làm cho các đổi thủ cạnh tranh sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả hơn Hành vi chống hạn chế cạnh tranh trong việc sử dụng nguồn lực lao động như các chuyên gia và các nhân viên y tế nhằm cho phép sử dụng linh hoạt hơn các nguồn lực, đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân và
Trang 26nguồn lực của bệnh viện Chính phủ không trực tiếp tham gia điều hành bệnh viện hoặc cung ứng dịch vụ bệnh viện thường dẫn đến kết quả tốt hơn và do
đó nó rất có giá trị để chúng ta lựa chọn Mô hình cạnh tranh dựa theo chuẩn đặc biệt có hiệu quả trong việc khuyến khích cung ứng dịch vụ của các bệnh viện để đạt được nhiều thành tựu tốt hơn Ngân sách và cơ chế mua dịch vụ y
tế có thể do các bác sĩ hoặc công ty bảo hiểm thay mặt người dân đàm phán, thương lượng với các cơ sở cung ứng để mua dịch vụ sẽ mang lại những cải thiện đáng kể trong tổng số dịch vụ bệnh viện từ nguồn lực tài chính hiện có Người tiêu dùng được quyền tự do lựa chọn các cơ sở khám chữa bệnh Chính sách cạnh tranh được áp dụng cho các bệnh viện Áp dụng cơ chế thị trường trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ y tế đòi hỏi chính phủ phải quan tâm đến các điều kiện và cấu trúc của thị trường cung ứng dịch vụ bệnh viện (thông qua kiểm soát việc sáp nhập) và sự liên doanh, liên kết, hợp tác giữa các nhà cung ứng (thông qua chương trình chống độc quyền)
Phần 2 cạnh tranh và cơ chế liên quan đến việc thúc đẩy hiệu quả trong cung ứng dịch vụ bệnh viện Nghiên cứu này cho thấy một số cơ chế thúc đẩy hiệu quả trong cung ứng dịch vụ y tế Mỗi cơ chế sẽ có ít nhất một quốc gia thử nghiệm là thành viên của tổ chức hợp tác phát triển (OECD) Thậm chí một số mô hình với những khuyến khích tài chính rất yếu kém nhưng cũng có thể có những tác động giảm chi phí y tế đáng kể hoặc tác động gia tăng chất lượng dịch vụ y tế Nếu các kết quả nghiên cứu và được kiểm định cho thấy
cơ chế thị trường phù hợp với thị trường dịch vụ bệnh viện thì sẽ triển khai áp dụng mô hình hiệu quả cho tất cả các quốc gia trong tổ chức hợp tác và phát triển (OECD), góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng và tiết kiệm đáng kể các nguồn lực Cơ chế thị trường nhằm gia tăng mức độ cạnh tranh hoặc gia tăng các lực lượng của thị trường được xác định trong nghiên cứu này bao gồm: Thu thập và phân phối, cải thiện thông tin về hiệu suất cung ứng; Hỗ trợ
Trang 27các thành viên mới gia nhập ngành khi chi phí đầu vào và giá dịch vụ đầu ra thấp; Khuyến khích tăng cường tính độc lập và tăng cường cơ sở vật chất của các cơ sở y tế tư nhân; Cải thiện việc phân bổ nguồn lực con người, đặc biệt
là thông qua đánh giá các hành vi hạn chế cạnh tranh của các chuyên gia y tế;
Áp dụng cơ chế hợp đồng mà thưởng hiệu suất và đầu ra; Cung cấp cho người tiêu dùng nhiều cơ hội lựa chọn, đặc biệt là khi phải chờ đợi trong thời gian dài; Nhấn mạnh đến các trung tâm khu vực với các thủ tục hành chính phức tạp; Xem xét cấp giấy phép cho các trung tâm chăm sóc bệnh nhân nội trú, ngoại trú và các bệnh viện chuyên khoa; Áp dụng cơ chế quản lý chặt chẽ đối với các bệnh viện, và áp dụng Luật cạnh tranh
Những khu vực chính để áp dụng Luật cạnh tranh bao gồm: Sáp nhập bệnh viện; Cấp giấy phép; Đàm phán hệ thống và ràng buộc đầy đủ; Liên kết bệnh viện - thỏa thuận của bác sĩ; Độc quyền của bệnh viện; và hầu hết các hợp đồng được hưởng ưu đãi
Phần ba là nội dung đóng góp việc áp dụng cơ chế thị trường vào thị trường dịch vụ y tế với những đặc thù của các quốc gia khác nhau bao gồm: Ca-na-đa, Đan Mạch, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Hàn Quốc, Mê-hi-cô, Hà Lan, Niu Di-lân, Na Uy, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Anh Quốc, Hoa Kỳ, Ủy ban Châu Âu, Ác-hen-ti-na, Bra-xin, Đài Loan, BIAC
Phần 4 là tóm tắt các cuộc thảo luận Ở rất nhiều quốc gia có một hệ thống chăm sóc sức khỏe phổ quát cho toàn bộ dân số Đối với nhiều quốc gia các bệnh viện hoặc là tất cả hay là một phần do chính phủ điều hành Ngay cả khi các bệnh viện là các bệnh viện tư nhân, các bệnh nhân thường không thích trả tiền, thay vào đó các công ty bảo hiểm hoặc các chương trình thông thường của chính phủ sẽ có trách nhiệm thanh toán cho các dịch vụ bệnh viện Thu nhập của bệnh viện thường có nguồn gốc từ chuyển nhượng của chính phủ, các bệnh viện thường không có động lực mạnh mẽ để giảm thiểu chi phí
Trang 28hoặc cải thiện chất lượng Cách tiếp cận ngày càng phổ biến trong số các quốc gia thành viên của tổ chức hợp tác phát triển (OECD) nhằm gia tăng hiệu quả trong cung ứng dịch vụ bệnh viện đồng thời để tăng cường mức độ cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ bệnh viện khác nhau Tuy nhiên, có một vấn đề trong hệ thống cung ứng dịch vụ y tế tại các bệnh viện tư nhân đó là họ sẽ hạn chế nguồn cung đáp ứng ở mức trung bình chứ không phải mức cung ứng đáp ứng đầy đủ và tốt nhất các nhu cầu dịch vụ y tế Đối với thị trường dịch vụ bệnh viện, các bệnh viện không thể dùng biện pháp hạn chế nguồn cung để tăng giá như các hàng hóa dịch vụ thông thường đó là điều không thể chấp nhận trong thị trường dịch vụ bệnh viện Chính vì vậy, cần phải có sự giám sát điều tiết chặt chẽ của chính phủ thậm chí điều tiết cả năng lực cung ứng của các bệnh viện để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người dân, gia tăng hiệu quả và phúc lợi của người dân trong khám và điều trị bệnh
Mô hình cạnh tranh và khu vực công cung ứng dịch vụ bệnh viện Hai quốc gia đại diện cho mô hình này là Anh Quốc và Hà Lan Các bệnh viện cung ứng dịch vụ y tế ở Anh quốc có quyền tự do tiếp cận các nguồn lực của chính phủ dành cho cung ứng dịch vụ bệnh viện và cải thiện chất lượng dịch
vụ và giảm chi phí thấp hơn giá trung bình quy định của nhà nước Càng giảm chi phí các bệnh viện càng nâng cao được hiệu suất và hiệu quả Cơ chế thị trường trong cung ứng dịch vụ bệnh viện ở Anh Quốc là cạnh tranh theo giá trung bình do nhà nước quy định Mô hình của Hà Lan là do các công ty bảo hiểm cạnh tranh với nhau về chất lượng và giá cả trong khuôn khổ các tiêu chuẩn về dịch vụ chăm sóc sức khỏe Các công ty bảo hiểm ký các hợp đồng chăm sóc sức khỏe đối với các bệnh viện với các bảng giá và chất lượng dịch
vụ trên cơ sở đó các bệnh nhân mua bảo hiểm của các công ty bảo hiểm Các công ty bảo hiểm đại diện cho người dân trong việc giám sát, kiểm tra, thúc đẩy các cơ sở cung ứng dịch vụ y tế nâng cao chất lượng và tiết kiệm chi phí
Trang 29khám chữa bệnh Nếu bệnh viện nào cung ứng dịch vụ y tế không tốt hoặc không kiểm soát được chi phí các công ty bảo hiểm sẽ không ký hợp đồng
Mô hình cạnh tranh và khu vực tư nhân cung ứng dịch vụ y tế Điển hình cho mô hình này là Mỹ Các bệnh viện của Mỹ cạnh tranh với nhau trong cung ứng dịch vụ bệnh viện như các doanh nghiệp cung ứng hàng hóa dịch vụ thông thường khác Do vậy tại Mỹ họ đã sử dụng hệ thống luật để điều chỉnh đối với thị trường này như Luật cạnh tranh, Luật chống độc quyền để điều tiết Tuy nhiên, mô hình cạnh tranh bệnh viện của Mỹ được cho là không hiệu quả do Mỹ áp dụng cạnh tranh như hàng hóa dịch vụ thông thường trong khi thị trường dịch vụ bệnh viện là một loại hàng hóa dịch vụ đặc thù cần phải có
sự giám sát điều tiết chặt chẽ của chính phủ do vậy thị trường dịch vụ bệnh viện của Mỹ đang có sự điều chỉnh, học hỏi kinh nghiệm áp dụng mô hình ở các quốc gia khác hiệu quả hơn để nâng cao hiệu quả, chất lượng dịch vụ và giảm giá dịch vụ bệnh viện Ngoài ra, nghiên cứu cũng khái quát được kinh nghiệm của các quốc gia khác trong việc áp dụng cơ chế định hướng thị trường và các chính sách khuyến khích cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ bệnh viện nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu suất và công bằng về cơ hội tiếp cận các nguồn lực cũng như công bằng trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế của người dân và cơ hội lựa chọn các cơ sở cung ứng dịch vụ y tế trong việc khám chữa bệnh của người dân
Nghiên cứu này đề cập khá toàn diện đến chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế bao gồm cả việc phân tích các trường hợp tại các quốc gia trong việc áp dụng thí điểm cơ chế cạnh tranh định hướng thị trường trong thị trường dịch vụ y tế Việc áp dụng Luật cạnh tranh, Luật chống độc quyền như: sáp nhập bệnh viện, cấp giấy phép, độc quyền trong lĩnh vực y tế, các hợp đồng ưu đãi Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ đề cập đến kinh nghiệm của
Trang 30các nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển (OECD) chưa đề cập đến các nước khác ngoài tổ chức này như Việt Nam
Alexander S Preker - April Harding, The Economics of Public and
private Roles in Health Care: Insights from Institutional Economics and Organizational Theory [76] Nghiên cứu đã khái quát đặc điểm thị trường
dịch vụ y tế, bao gồm thị trường đầu vào và đầu ra với những đặc điểm và rào cản gia nhập ngành khác nhau của thị trường dịch vụ y tế Trên cơ sở phân tích đầu vào và đầu ra của thị trường dịch vụ y tế với những đặc trưng ở mức
độ cạnh tranh và khả năng đo lường cao, trung bình và thấp, đối với từng loại hàng hóa đầu vào và đầu ra sẽ có các phương thức mua thích hợp tại các cơ sở
y tế công lập làm sao cho hiệu quả nhất Các phương thức mua có thể được áp dụng như đấu thầu (dựa trên giá cả và chất lượng sản phẩm và dịch vụ sau bán hàng của các đơn vị cung ứng để lựa chọn) các nhà cung ứng trong và ngoài nước có cơ hội như nhau trong việc tham gia dự thầu Hình thức sử dụng chuẩn mua (dựa trên các chi phí ước tính liên quan) Khi cơ sở y tế công lập quyết định mua các yếu tố đầu vào, tất cả các nhà sản xuất tiềm năng đều
có cơ hội như nhau trên một sân chơi bình đẳng Nghiên cứu cũng chỉ ra đối với từng loại hàng hóa khác nhau thì chính phủ phải có các biện pháp can thiệp khác nhau để đảm bảo tính hiệu quả và công bằng Nghiên cứu cũng chỉ
ra sự cần thiết của việc thiết lập môi trường cạnh tranh trong thị trường dịch
vụ y tế Các nhà cung ứng dịch vụ y tế đều thừa nhận sức mạnh của thị trường, trong chức năng của thị trường, sức mạnh của cạnh tranh sẽ dẫn đến phân bổ các nguồn tài nguyên hiệu quả hơn so với một nền kinh tế phi thị trường, thông qua các giải pháp mang tính mệnh lệnh hành chính Theo nghiên cứu, hầu hết các thị trường dịch vụ y tế là không hoàn hảo nhưng vẫn
có thể khắc phục được thông qua các quy định phù hợp và thỏa thuận hợp đồng Các đơn vị cung ứng dịch vụ y tế dù là công hay tư đều có quyền tiếp
Trang 31cận bình đẳng tới vốn và luật chống độc quyền, hạn chế sức mạnh của các tập đoàn độc quyền chuyên nghiệp, điều này có thể làm giảm đáng kể rào cản đối với thị trường chăm sóc sức khỏe
Nghiên cứu đã khái quát được thị trường đầu vào và đầu ra của thị trường dịch vụ y tế và chỉ ra những rào cản hạn chế gia nhập ngành của các chủ thể cung ứng dịch vụ y tế; Chỉ ra sự cần thiết phải xây dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể cung ứng đảm bảo cho các chủ thể cung ứng dịch vụ y tế có cơ hội ngang nhau trong việc tiếp cận các nguồn lực
và thừa nhận cơ chế phân bổ nguồn lực thông qua thị trường hiệu quả hơn là các giải pháp mang tính mệnh lệnh hành chính phi thị trường Nghiên cứu cũng chưa đề cập cụ thể tới thị trường dịch vụ y tế của Việt Nam
David M Cutler Jill R Horwitz [80], Converting hospitals from not -
for – profit to for profit status: why and what effects? Nghiên cứu đã chỉ ra
tính hiệu quả của việc chuyển đổi mô hình bệnh viện từ hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận sang hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận thông qua hai trường hợp – Wesley Medical Center in Wichita, Kansas và Colombia/HealthOne Symtem in Denver, Colorado Việc chuyển sang mô hình hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận của hai trường hợp này khác nhau Trường hợp Wesley Medical Center in Wichita tiền thân là Wesley Hospital hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhưng do gặp khó khăn về tài chính không thể trả được các khoản nợ đồng thời đứng trước áp lực phải đổi mới nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như cơ sở vật chất của bệnh viện, Wesley Hospital đã bị bán lại cho tập đoàn bệnh viện của Mỹ đó là Hospital Corporation of America
“HCA” là một tập đoàn bệnh viện hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận lớn nhất nước Mỹ và qua nhiều lần mua bán sáp nhập và cuối cùng trở thành Wesley Madical Center
Trang 32Tập đoàn thứ hai là Columbia – HealthOne cũng gặp phải tình trạng tương tự đó là khó khăn về tài chính với những khoản nợ lớn đặc biệt là gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn để giải quyết tình trạng này Hai tập đoàn Columbia/HCA và HealthOne chuyển sang mô hình hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận thông qua việc thành lập liên doanh mới Columbia - HealthOne chứ không thực hiện hình thức mua bán hoàn toàn Việc chuyển sang mô hình hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận của hai tập đoàn y tế lớn nhất nước Mỹ này đã giúp cho họ dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn, giảm bớt được gánh nặng nợ nần đồng thời có điều kiện đầu tư các trang thiết bị mới, xây dựng mới cơ sở vật chất trong khi đó hầu hết các cơ sở cung ứng dịch vụ y tế không vì mục tiêu lợi nhuận rất khó khăn và bị giới hạn trong việc tiếp cận với những nguồn vốn Hai tập đoàn này sau khi chuyển sang mô hình hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận đã hoạt động hiệu quả hơn, sử dụng các nguồn lực hiệu quả hơn, chi phí giảm và lợi nhuận tăng, cơ sở vật chất được cải thiện rõ rệt, chi phí khám chữa bệnh không tăng, thậm chí giảm so với trước khi chuyển đổi Nghiên cứu cũng không tìm thấy bằng chứng về các bệnh viện hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận giảm chất lượng và giảm bớt cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế của người nghèo, mặc dù thước đo tính hiệu quả vẫn chưa được hoàn thiện Việc gia tăng các bệnh viện vì mục tiêu lợi nhuận dẫn tới sự phân hóa mạnh trong thị trường dịch vụ chăm sóc sức khỏe giữa người giàu và người nghèo Nghiên cứu này cũng chỉ ra sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa mô hình bệnh viện vì mục tiêu lợi nhuận và bệnh viện không vì mục tiêu lợi nhuận Nếu như trước đây các bệnh viện không vì mục tiêu lợi nhuận có chất lượng chăm sóc sức khỏe cao thì các bệnh viện vì mục tiêu lợi nhuận học tập theo Trong nghiên cứu này, nhấn mạnh đến mô hình bệnh viện vì mục tiêu lợi nhuận với những thành công vượt trội và các bệnh viện không vì mục tiêu lợi nhuận đang học tập làm theo Nếu các bệnh viện vì mục tiêu lợi nhuận giữ
Trang 33được chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe thì các bệnh viện không vì mục tiêu lợi nhuận có thể sẽ theo mô hình này Sự ảnh hưởng của các bệnh viện vì mục tiêu lợi nhuận sẽ gia tăng bởi họ đã chiếm lĩnh một thị phần rất lớn trên thị trường dịch vụ bệnh viện Nghiên cứu này đã chỉ ra việc chuyển đổi mô hình bệnh viện từ hoạt động phi lợi nhuận sang hoạt động vì lợi nhuận đã tạo
ra cơ hội dễ dàng hơn trong việc tiếp cận nguồn lực vốn để các bệnh viện đổi mới hoàn thiện cung ứng dịch vụ y tế
Nghiên cứu này chỉ đề cập đến những tác động tích cực của việc mua bán sáp nhập và chuyển đổi mô hình bệnh viện từ hoạt động phi lợi nhuận sang mô hình hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận của các bệnh viện mà chưa đề cập đến những tác động tiêu cực của các vụ mua bán, sáp nhập bệnh viện đến thị trường dịch vụ y tế Mỹ
Qua khảo sát các tài liệu nghiên cứu nước ngoài thấy rằng cho tới thời điểm này rất hiếm các học giả nước ngoài bàn một cách toàn diện về chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế nói chung và ở Việt Nam nói riêng mà các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc phác thảo khung lý thuyết về chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế trên cơ sở đó đưa ra các mô hình để áp dụng thí điểm tại các quốc gia, nếu mô hình hiệu quả sẽ triển khai trên diện rộng đối với tất cả các quốc gia thuộc tổ chức hợp tác và phát triển (OECD) Do vậy, đây là vấn đề rất mới cần được quan tâm nghiên cứu nhằm xây dựng các luận cứ lý thuyết và luận cứ thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện hơn chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế ở nước ta
b Tình hình triển khai nghiên cứu ở trong nước:
Ở Việt Nam cho đến thời điểm này chưa có công trình nghiên cứu nào của các tác giả trong nước bàn luận một cách tập trung và có hệ thống về chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam
Trang 34TS Đinh Văn Ân – Hoàng Thu Hoà [3] (đồng chủ biên) “Đổi mới
cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam” Nghiên cứu đã chỉ ra tính tất yếu phải
đổi mới cung ứng dịch vụ công trong đó có dịch vụ y tế Tác giả khẳng định, những thập kỷ qua, trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công, nhà nước đã thực hiện quá nhiều hoạt động mà lẽ ra có thể chuyển giao một phần cho thị trường hay xã hội dân sự Việc nhà nước ôm đồm quá nhiều các dịch vụ công sẽ không đưa đến một xã hội phát triển Tác giả đề nghị cần phải đẩy mạnh sự tham gia của khu vực phi nhà nước trong cung ứng dịch vụ công Đối với lĩnh vực y tế đó chính là phát triển y tế tư nhân như là một cách thức tạo ra sự cạnh tranh để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tại các cơ sở y tế công và góp phần tăng nguồn cung dịch vụ y tế cho người dân Nghiên cứu cho rằng việc phát triển y tế như nhân như là một giải pháp tạo dựng thị trường cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam hiện nay
Nghiên cứu mới chỉ đề cập đến một khía cạnh của chính sách cạnh tranh đó là chính sách tạo dựng dựng thị trường cạnh tranh thông qua việc thúc đẩy phát triển thành phần kinh tế tư nhân
TS Vũ Thanh Sơn Luận án tiến sỹ [49]“Cạnh tranh đối với khu vực
công: Kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt Nam” Luận án đã khảo
sát kinh nghiệm quốc tế về vận dụng cơ chế cạnh tranh đối với khu vực công
và bài học cho Việt Nam đặc biệt là kinh nghiệm của Singapore và Trung Quốc, Malaisia trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ y tế Luận án cũng phác họa thực trạng cạnh tranh đối với khu vực công bao gồm nhiều lĩnh vực trong đó
có lĩnh vực y tế và đề xuất các giải pháp thúc đẩy cạnh tranh đối với khu vực này Tuy nhiên, phạm vi đề cập của luận án rộng bao gồm nhiều lĩnh vực thuộc khu vực công như bưu chính, viễn thông, điện lực, y tế, giáo dục vv…
do vậy các giải pháp mang tính chung chung cho khu vực công nên chưa có được những giải pháp riêng cụ thể cho ngành y tế đặc biệt là những khuyến
Trang 35nghị liên quan đến việc xây dựng chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch
vụ y tế ở Việt Nam
TS Trịnh Hoà Bình, Viện Xã hội học “Bài toán công bằng và hiệu
quả trong vấn đề tài chính ở các bệnh viện tư Việt Nam hiện nay” [5] Chủ đề
chính của nghiên cứu là vấn đề tài chính và khả năng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ của các bệnh viện tư, một thành tố mới của hệ thống y tế Việt Nam Nghiên cứu này chỉ ra rằng y tế tư nhân (YTTN) có tốc độ phát triển mạnh mẽ và đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người dân Tuy nhiên, nhóm này không được hưởng những ưu đãi cần thiết, đặc biệt là ưu đãi về tài chính, điều này làm tăng thêm tính bất bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe giữa các nhóm thu nhập Từ đó tác giả khuyến cáo các chính sách cần thực hiện nhằm thúc đẩy sự phát triển của các bệnh viện tư như các chính sách khuyến khích về tài chính, chính sách giá, chính sách đất đai…
Nghiên cứu chỉ đề cập đến khía cạnh tài chính cho y tế tư nhân và tạo dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể cung ứng dịch vụ y tế thông qua các chính sách trong việc tiếp cận các nguồn lực như: tài chính, giá, đất đai Nghiên cứu chưa đề cập đến chính sách tài chính tổng thể bao gồm tất cả các cơ sở y tế thuộc các thành phần khác nhau
Trần Quang Trung [65] lại tập trung vào YTTN Hà Nội, nơi có mật
độ các cơ sở YTTN cao Tác giả đã chỉ ra những ưu điểm nổi bật của YTTN như đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của gần một nửa số bệnh nhân trong toàn thành phố, đáp ứng nhu cầu đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân với chất lượng phục vụ cao Tuy nhiên, kết quả điều tra cụ thể của nghiên cứu cũng đã chỉ ra tình hình cơ sở vật chất nghèo nàn, chật chội của các phòng khám (do hạn chế về mặt bằng, suất đầu tư cao…) Nhiều đơn vị còn vi phạm các quy chế chuyên môn, quy chế về giá…
Trang 36Nghiên cứu mới đề cập đến thực trạng cung ứng dịch vụ y tế của khu vực y tế tư nhân và chỉ ra những hạn chế bất cập trong quản lý nhà nước đối với khu vực này, các cơ sở cung ứng dịch vụ y tế chưa tuân thủ các quy định của nhà nước trong cung ứng dịch vụ y tế
Michel Grignon, Phụ trách nghiên cứu tại CREDES; Phạm Huy Dũng, Phó viện trưởng Viện chiến lược và Chính sách y tế, Bộ y tế với bài
viết:“Tiếp cận dịch vụ y tế và bảo đảm tài chính cho mạng lưới y tế ở Việt
Nam” được đăng trong cuốn: "Báo cáo kết quả các nghiên cứu, Vì một sự tăng trưởng và một xã hội công bằng" [5] Nghiên cứu này đề cập đến khả
năng tiếp cận các dịch vụ y tế cơ bản ít tốn kém một cách công bằng và khả năng chi trả các khoản phí dịch vụ y tế này Nghiên cứu đưa ra khuyến nghị
về cơ chế đảm bảo tài chính thông qua loại hình bảo hiểm tự nguyện cộng đồng và khuyến nghị về các khoản chi ngân sách của nhà nước cho lĩnh vực y
tế nên đầu tư ngân sách cho các quỹ bảo hiểm cộng đồng và các quỹ bảo hiểm
y tế miễn phí để cho các quỹ này tự tìm các giải pháp cần thiết nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả khám, chữa bệnh Theo họ thì bảo hiểm y tế như một giải pháp cơ bản nhằm nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ y tế cho người dân đồng thời đảm bảo tính bền vững tài chính cho mạng lưới y tế ở Việt Nam Hai ông cho rằng bảo hiểm y tế toàn dân và bảo hiểm y tế dựa vào cộng đồng
là cách tốt nhất để người nghèo, người dân nông thôn có thể tiếp cận với dịch
vụ y tế thay vì chỉ biết đến hiệu thuốc để mua thuốc không có đơn của bác sĩ khi ốm đau
Nghiên cứu chỉ đề cập đến khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân và đảm bảo tài chính cho mạng lưới y tế của Việt Nam Nghiên cứu cũng chỉ ra những điều kiện để người dân nông thôn có thể tiếp cận dịch vụ y tế thông qua mô hình bảo hiểm y tế toàn dân và bảo hiểm y tế cộng đồng
Trang 37Nghiên cứu chưa đề cập đến việc tạo dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các chủ thể cung ứng dịch vụ y tế trong việc tiếp cận các nguồn lực
Claude Evin, Nguyên Bộ trưởng Bộ đoàn kết, Y tế và Bảo trợ xã hội,
Nguyên Đại biểu quốc hội nước Pháp với bài viết: “Tính công bằng và cấp
tài chính cho khu vực y tế trong các nước đang chuyển đổi” được đăng trong
cuốn "Báo cáo tổng kết, Vì một sự tăng trưởng và một xã hội công bằng" [6]
Nghiên cứu nhấn mạnh chỉ có cơ chế trả trước chi phí (BHYT) mới có thể đảm bảo tính công bằng trong tiếp cận chăm sóc y tế Nghiên cứu cũng chỉ ra nhiều rủi ro nếu cơ chế BHYT này được trao cho tư nhân đảm nhiệm, đó là người không có tiền mua BHYT sẽ bị bỏ rơi, các công ty bảo hiểm vì động cơ lợi nhuận sẽ lựa chọn rủi ro để bảo hiểm và thu phí cao và hạn chế sự lựa chọn của người được bảo hiểm trong việc lựa chọn bác sĩ tư hay bệnh viện
Phạm Thành, Phó Tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam với bài
viết“Hệ thống bảo hiểm xã hội và các vấn đề chi trả bảo hiểm y tế ở Việt
Nam” được đăng trong cuốn "Báo cáo tổng kết, Vì một sự tăng trưởng và một
xã hội công bằng" [6] Nghiên cứu đã hệ thống hoá quá trình phát triển hệ
thống bảo hiểm xã hội nói chung và bảo hiểm y tế nói riêng qua các thời kỳ
về vấn đề chi trả bảo hiểm y tế và đề xuất những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu nhằm đổi mới hệ thống bảo hiểm y tế tiến tới thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân cũng như hoàn thiện chế độ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế theo mục tiêu chất lượng - công bằng - hiệu quả Việc chi trả chi phí khám chữa bệnh theo chế độ bảo hiểm y tế với các cơ sở khám chữa bệnh được thực hiện thông qua hợp đồng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế ký kết hàng năm giữa cơ quan bảo hiểm xã hội và cơ sở khám chữa bệnh, bao gồm các cơ sở y tế nhà nước, cơ sở y tế bán công và y tế tư nhân Để đảm bảo chất lượng, công bằng
và hiệu quả trong khám chữa bệnh đồng thời phòng tránh lạm dụng thuốc cũng như sử dụng phương tiện kỹ thuật cao trong điều trị trong trường hợp
Trang 38bảo hiểm y tế chi trả toàn bộ chi phí khám chữa bệnh, từ năm 1999 việc thanh toán chi phí khám chữa bệnh tại Việt Nam được áp dụng theo phương thức đồng chi trả Người bệnh chi trả 20% chi phí khám chữa bệnh theo giá viện phí Bên cạnh đó, việc thực hiện thí điểm một số phương thức thanh toán khác như thanh toán theo chuẩn đoán, định xuất chi phí khám chữa bệnh theo gói dịch vụ y tế cơ bản, chi phí bảo hiểm bổ sung, khoán chi theo ngày giường bệnh… cũng đang được nghiên cứu làm cơ sở cho việc đổi mới trong thanh toán bảo hiểm y tế Mục tiêu hướng tới bảo hiểm y tế toàn dân, phát triển và
đa dạng hóa các loại hình bảo hiểm y tế tự nguyện cũng như hoàn thiện chế
độ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế theo mục tiêu chất lượng, công bằng và hiệu quả
Hai nghiên cứu trên chỉ đề cập đến khía cạnh tài chính bảo hiểm và cơ chế thanh toán bảo hiểm cho các cơ sở khám chữa bệnh đồng thời nghiên cứu
cơ chế bảo hiểm để người dân có khả năng tiếp cận dịch vụ y tế mà nghiên cứu chưa đề cập đến cơ chế tài chính bảo hiểm làm như thế nào để các chủ thể cung ứng dịch vụ y tế cạnh tranh với nhau nâng cao chất lượng dịch vụ, thu hút bệnh nhân đến khám chữa bệnh nhằm thu hút nguồn lực tài chính từ bảo hiểm, tiến tới người dân có bảo hiểm được tự do lựa chọn các cơ sở khám chữa bệnh cho mình
TS Nguyễn Quang A [1] "Cải cách hệ thống chăm sóc sức khỏe"
Nghiên cứu đề cập đến một số vấn đề phương pháp luận, xem xét một số khía cạnh kinh tế của cải cách hệ thống chăm sóc sức khỏe Theo tác giả cần phải xác định rõ sứ mạng hệ thống y tế là gì, những mục tiêu của hệ thống là gì Tác giả cũng đồng tình với M Feldstein [2006] đưa ra ba mục tiêu cho hệ thống chăm sóc sức khỏe (1) ngăn chặn việc bị tước đoạt chăm sóc sức khỏe
do bệnh nhân không có khả năng chi trả; (2) tránh chi tiêu lãng phí; (3) cho phép sự chăm sóc phản ánh những sở thích khác nhau của bệnh nhân Muốn
Trang 39đạt được các mục tiêu này của hệ thống điều trước tiên là phải phân tích đánh giá được hiện trạng của hệ thống (các quỹ bảo hiểm y tế, các cơ sở y tế cung cấp dịch vụ sức khỏe) Trên cơ sở này nhà nước có các chính sách khuyến khích để hướng hệ thống tiến theo hướng đạt các mục tiêu đề ra Nhà nước
"lái nhưng không chèo thuyền" Nghiên cứu tập trung vào phân tích hệ thống chăm sóc sức khỏe về mặt kinh tế gồm hai mặt: cấp tài chính và cung cấp dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe Bên cấp tài chính bao gồm: ngân sách nhà nước, bảo hiểm y tế và người bệnh (hay gia đình người bệnh), các tổ chức từ thiện, là các bên mua hàng Tổng số tiền mà các bên cấp tài chính có sẵn để dùng tạo thành cầu Tác giả đã khái quát những kinh nghiệm về cấp tài chính cho y tế ở một số nước trên thế giới như Xinh-ga-po, các nước Tây âu và thực trạng cấp tài chính ở Việt Nam hiện nay qua các hình thức như ngân sách cấp, bảo hiểm y tế bắt buộc và bảo hiểm y tế tự nguyện, tài khoản tiết kiệm y tế và cũng đưa ra những điều kiện để vận dụng kinh nghiệm của các nước này vào điều kiện cụ thể của Việt Nam Mặt thứ hai là cơ sở cung ứng dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe bao gồm: các bác sĩ, thầy thuốc, y tá, dược sĩ, các nhà chuyên môn khác trong lĩnh vực y tế, các bệnh viện, phòng khám, các cơ sở chăm sóc sức khỏe khác là những người hay các tổ chức cung ứng các loại dịch vụ chăm sóc sức khỏe tạo thành cung Cải cách ở bên cung là phát triển,
tổ chức lại toàn bộ bên cung như các cá nhân hành nghề độc lập, hệ thống bệnh viện, phòng khám chữa bệnh sao cho chúng hoạt động có hiệu quả Nghiên cứu cũng khái quát được bức tranh toàn cảnh về các loại hình cơ sở khám chữa bệnh thuộc các loại hình sở hữu khác nhau ở các nước trên thế giới và xu hướng các cơ sở thuộc sở hữu công lập đổi mới theo hướng tự chủ
và tự chịu trách nhiệm cạnh tranh bình đẳng với các loại hình cơ sở cung ứng dịch vu y tế khác Thứ ba là quyền lựa chọn của bệnh nhân, theo tác giả các
cơ sở cung ứng dịch vụ y tế phải có sự cạnh tranh với nhau vì sức khỏe bệnh
Trang 40nhân Bệnh nhân phải có quyền lựa chọn cơ sở khám, chữa bệnh Các tổ chức bảo hiểm y tế với tư cách là người mua dịch vụ, phải đàm phán, mặc cả về giá của gói dịch vụ mà mình mua cho những người đóng bảo hiểm Bệnh nhân phải có quyền lựa chọn mặc dù chỉ là sự lựa chọn có giới hạn vì các công ty bảo hiểm y tế đã đàm phán với các nhà cung cấp dịch vụ nhưng nếu bệnh nhân không có sự lựa chọn nào, như các bệnh nhân có bảo hiểm ở Việt Nam hiện nay thì không có cạnh tranh Nếu chi tiền cho điều trị là của họ, tất nhiên
họ có quyền lựa chọn đầy đủ Mô hình tài khoản tiết kiệm Y tế tạo cho người bệnh cái quyền lựa chọn có giới hạn đó ở mức cao nhất
Nghiên cứu đã khái quát được kinh nghiệm từ các quốc gia về đổi mới
hệ thống cung ứng dịch vụ y tế đặc biệt là những khuyến nghị về cơ chế tài chính thuộc về bên cầu và cả bên cung để tạo ra được cơ chế cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế giữa các chủ thể cung ứng Theo tác giả với cơ chế tài chính cũng như bảo hiểm y tế như hiện nay ở Việt Nam thì không thể hình thành được thị trường dịch vụ y tế cạnh tranh
PGS Ngô Toàn Định [29] Nghiên cứu khẳng định phải đổi mới cơ chế
quản lý bệnh viện công bằng việc xã hội hóa hoạt động khám chữa bệnh Nghiên cứu đã chỉ ra rất nhiều bất cập trong quản lý kinh tế của bệnh viện và gợi ý các giải pháp xã hội hóa để khắc phục những hạn chế đã nêu như: thành lập bệnh viện bán công, khoa bán công và tổ chức khám chữa bệnh ngoài giờ; thu đủ viện phí đối với bệnh nhân vượt tuyến và bệnh nhân khám chữa bệnh theo yêu cầu
Nghiên cứu mới chỉ đề cập đến các giải pháp tạo dựng thị trường bằng các chính sách xã hội hóa hoạt động khám chữa bệnh nhằm xây dựng thị trường cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đề cập đến những hạn chế của chính những giải pháp này