1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa giáo dục và di động xã hội của cá nhân

20 288 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 108,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo dục có mối quan hệ chặt chẽ với di động xã hội cá nhân, giáo dục cung cấp phương tiện để cá nhân có năng lực di động xã hội. Nói cách khác, giáo dục tạo ra di động xã hội nhờ có giáo dục cá nhân có thể dễ dàng thay đổi vị trí làm việc và vị trí xã hội trong cấu trúc xã hội. Mối quan hệ giữa giáo dục và di động xã hội được xem xét ở nhiều khía cạnh, điều quan trọng nhất là nhờ có giáo dục mà cá nhân có sự cơ động dễ dàng hơn.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA NGỮ VĂN

TIỂU LUẬN MÔN XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG

Mã LHP: POLI13001

CHỦ ĐỀ 5: MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁO DỤC

VÀ DI ĐỘNG XÃ HỘI CỦA CÁ NHÂN

Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2019

Trang 2

MỤC LỤC

1 Giáo dục……… …… 1

1.1 Giáo dục là gì………1

1.2 Các hình thức giáo dục……… … 1

1.3 Vai trò và nhiệm vụ của giáo dục……… 4

2 Di động xã hội………7

2.1 Di động xã hội là gì……… ……7

2.2 Các hình thức di động xã hội………7

2.3 Yếu tố ảnh hưởng đến di động xã hội……….… 8

2.4 Vai trò của di động xã hội……… ……10

3 Mối quan hệ giữa giáo dục và di động xã hội của cá nhân……… … 11

3.1 Tác động của giáo dục đến di động xã hội của cá nhân………….….…11

3.2 Tác động của di động xã hội cá nhân đối với giáo dục………… ……14

3.3 Cách duy trì mối quan hệ giữa giáo dục và di động xã hội của cá nhân 16

4 Kết luận………17

Tài liệu tham khảo………18

Trang 3

1 Giáo dục

1.1 Giáo dục là gì

Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người Định nghĩa này nhấn mạnh về sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến yếu tố dạy học, nhưng không đề cập đến mục đích sâu xa hơn, mục đích cuối cùng của việc đó

Theo ông John Dewey (1859 – 1952), nhà triết học, nhà tâm lí học và nhà giáo dục học nổi tiếng của Chủ nghĩa thực dụng Mỹ, ông cho rằng cá nhân con người không bao giờ vượt qua được quy luật của sự chết và cùng với sự chết thì những kiến thức, kinh nghiệm mà cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất Tuy nhiên, tồn tại xã hội lại đòi hỏi phải những kiến thức, kinh nghiệm của con người phải vượt qua được sự khống chế của sự chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã hội Giáo dục là “khả năng” của loài người để đảm bảo tồn tại xã hội Ngoài ra, ông John Dewey cũng cho rằng, xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, nhưng còn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy ấy Như vậy, theo quan điểm của ông John Dewey, ông cũng đề cập đến việc truyền đạt, nhưng ông nói rõ hơn về mục tiêu cuối cùng của việc giáo dục, là dạy dỗ

1.2 Các hình thức giáo dục

Hoạt động giáo dục chính quy liên quan đến việc dạy và học trong môi trường trường học và theo một chương trình học nhất định Chương trình học này được thiết lập tùy theo mục đích đã được xác định trước của trường học trong hệ thống giáo dục Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân ở nước ta bao gồm: Giáo dục mầm non gồm giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo; Giáo dục phổ thông gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở và giáo dục

Trang 4

trung học phổ thông; Giáo dục nghề nghiệp đào tạo các trình độ sơ cấp, trung cấp

và cao đẳng; Giáo dục đại học đào tạo các trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ

Giáo dục mầm non

Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo, tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi theo chương trình giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời

Giáo dục phổ thông

Giáo dục phổ thông kéo dài 12 năm và được chia thành 3 cấp: cấp I (tiểu học), cấp II (trung học cơ sở), và cấp III (trung học phổ thông)

Tiểu học: Bắt đầu năm 6 tuổi đến hết năm 10 tuổi Cấp I là một cấp học phổ cập, gồm có 5 trình độ, từ lớp 1 đến lớp 5 Đây là cấp học bắt buộc đối với mọi công dân Để kết thúc bậc tiểu học, học sinh được xét tốt nghiệp bằng các thành tích được tích luỹ trong 5 năm

Trung học cơ sở: Cấp II gồm có 4 trình độ, từ lớp 6 đến lớp 9, bắt đầu từ năm 11 đến năm 14 tuổi Đây cũng là một cấp học phổ cập, một cấp học bắt buộc

để công dân có thể có một nghề nghiệp nhất định (tốt nghiệp cấp II có thể học nghề

Trang 5

hay trung cấp chuyên nghiệp) Trước khi lên cấp THPT, học sinh phải thi qua một

kỳ thi xét tốt nghiệp

Trung học phổ thông: Cấp III gồm 3 trình độ, từ lớp 10 đến lớp 12, bắt đầu

từ năm 15 tuổi đến hết năm 17 tuổi Để tốt nghiệp cấp III, học sinh phải tham gia Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông tại Việt Nam của Bộ Giáo dục và Đào tạo Học sinh muốn được theo học tại các trường trung học phổ thông công lập phải

dự một kỳ thi tuyển sinh sau khi học hết cấp trung học cơ sở và xét tuyển theo học

bạ của 4 năm học cấp II Các kỳ thi này được tổ chức hàng năm, do Sở Giáo dục và Đào tạo của các địa phương chủ trì

Giáo dục nghề nghiệp

Gồm các chương trình đào tạo trình độ trung cấp tiếp nhận người tốt nghiệp

tối thiểu trung học cơ sở; các chương trình đào tạo trình độ cao đẳng tiếp nhận người tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc tốt nghiệp trình độ trung cấp; cùng với đào tạo trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng, đào tạo trình độ sơ cấp nhằm giúp người học có kỹ năng thực hiện được các công việc đơn giản của một nghề

Giáo dục Đại học, thạc sĩ và tiến sĩ

Đại học: Giáo dục trình độ đại học và giáo dục trình độ thạc sĩ có 2 định hướng: nghiên cứu và ứng dụng; Giáo dục trình độ tiến sĩ theo định hướng nghiên cứu Các chương trình đào tạo trình độ đại học tiếp nhận người đã tốt nghiệp trung học phổ thông; người đã tốt nghiệp trình độ trung cấp và đã học và thi đạt yêu cầu

đủ khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Các chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ tiếp nhận người tốt nghiệp trình độ đại học Thời gian đào tạo trình độ thạc sĩ tương đương 1 đến 2 năm học tập tùy theo yêu cầu của ngành đào tạo Các chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ tiếp nhận người tốt nghiệp trình độ thạc sĩ hoặc người tốt nghiệp trình độ đại

Trang 6

học nếu đáp ứng được các yêu cầu của chương trình đào tạo Thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ tương đương 3 đến 4 năm học tập tùy theo yêu cầu của ngành đào tạo và trình độ đầu vào của người học

1.3 Vai trò và nhiệm vụ của giáo dục

Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển xã hội, muốn phát triển xã hội phải chăm lo nhân tố con người về thể chất và tinh thần, nhất là về học vấn, nhận thức về thế giới xung quanh để họ có thể góp phần xây dựng và cải tạo xã hội Giáo dục là hiện tượng xã hội có ảnh hưởng to lớn và quan trọng đối với

sự phát triển con người và sự phát triển của xã hội

Vai trò giáo dục:

Giáo dục có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn, phát triển và truyền bá văn minh nhân loại

Giáo dục - đào tạo cung cấp nguồn nhân lực có trình độ góp phần phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Giáo dục - đào tạo nhằm phát huy năng lực nội sinh “đi tắt, đón đầu” rút ngắn thời gian công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Là những tác động tích cực của giáo dục đến các quá trình sản xuất nhằm tạo ra sự phát triển về mặt kinh tế - xã hội Nếu muốn đưa xã hội càng phát triển, đòi hỏi phải có những người có trình độ cao, có kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn lao động sản xuất, có những phẩm chất cần thiết của người lao động mới Muốn có nguồn nhân lực như vậy thì xã hội cần phải có giáo dục Giáo dục đã trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến các nguồn lực cần thiết cho xã hội, làm cho xã hội ngày càng phát triển

Theo quan điểm của Mác, con người không chỉ là lực lượng làm chủ tự nhiên một cách thực sự và có ý nghĩa, không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật

Trang 7

chất mà còn là yếu tố hàng đầu, yếu tố đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất của xã hội Khi nguồn lực con người được coi là yếu tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia thì phát triển giáo dục và đào tạo là phương tiện chủ yếu để quyết định chất lượng con người, là nền tảng của chiến lược con người Con người vừa là trung tâm của mọi sự phát triển, vừa là mục tiêu, động lực của sự phát triển Với tư cách là động lực cho sự phát triển, giáo dục và đào tạo chuẩn bị cho con người sự phát triển bền vững trên tất cả các lĩnh vực, cho lợi ích hiện tại và tương lai của đất nước

Trong các xã hội có giai cấp, giáo dục nó sẽ trực tiếp tác động đến cấu trúc

xã hội, tác động đến việc hình thành các tầng lớp, các nhóm xã hội Bởi vì giáo dục

ở đây chính là quyền lợi của tầng lớp thống trị, và trong xã hội này thường tồn tại

hệ thống hai nhà trường Ví dụ: Trong xã hội có giai cấp đầu tiên là xã hội Chiếm hữu nô lệ; giáo dục luôn nhằm mục đích đào tạo cho con em tầng lớp chủ nô trở thành những quan chức, chủ nô con, cho nên trường học là dành cho con em tầng lớp chủ nô Còn con em của nô lệ thì không được đến trường, chỉ có thể được bố

mẹ chúng dạy ở nhà

Trong xã hội chủ nghĩa, giáo dục luôn có những tác động đến chính trị - xã hội theo chiều hướng tích cực Giáo dục có thể nâng cao đến trình độ văn hóa, vị trí

xã hội giữa các thành viên, giúp cho các thành viên trong xã hội thay đổi nghề nghiệp Giáo dục đã mở rộng các cơ hội để cho mọi thành phần dân cư, không phân biệt đều được tiếp nhận giáo dục một cách bình đẳng và dân chủ để phát triển; làm thay đổi vị trí xã hội của mỗi cá nhân và cộng đồng Giáo dục vừa là mục tiêu, vừa

là phương tiện hữu hiệu cho các cuộc cách mạng xã hội trên phạm vi toàn nhân loại cũng như ở mỗi quốc gia

Để giáo dục phát triển cần:

Trang 8

Nâng cấp đội ngũ giáo viên: lĩnh vực giáo dục, đào tạo nếu thầy cô giáo bất cập thì phải trả giá đắt nhất, nguy hiểm nhất Thậm chí sẽ là có tội đối với thế hệ trẻ, nếu chúng ta vẫn tiếp tục duy trì đội ngũ giáo viên dạy kém, dạy yếu Vì thế, nâng cấp, sàng lọc, đổi mới giáo viên để đảm bảo chất lượng đào tạo là một việc làm thường xuyên, tất yếu của mọi cơ sở đào tạo, nếu họ thực sự vì tiền đồ đất nước

Đổi mới cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo: Chất lượng giáo dục lệ thuộc khá nhiều ở chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục các cấp Những người quản lý giáo dục đào tạo hiện nay phải hội đủ 3 tiêu chuẩn: Trí tuệ, bản lĩnh và trách nhiệm

Đổi mới giáo trình, giáo án

Tăng cường kỷ cương thi cử: Để đánh giá đúng chất lượng, qua đó biết người giỏi để đào tạo, người yếu để bồi dưỡng, biết bức tranh chung về chất lượng mũi nhọn và đại trà để đổi mới giáo dục đào tạo thì thi mãi mãi cần Vì thế tăng cường kỷ cương thi cử trong giáo dục đào tạo là 1 yêu cầu cần thiết để phản ánh chính xác chất lượng học sinh nhằm phân loại, phân luồng giáo dục đạo tạo quốc dân đạt hiệu quả cao nhất

Tích cực xã hội hóa giáo dục, đào tạo: Sức mạnh tổng hợp của ngành Giáo dục, Đào tạo được đo bằng thước đo xã hội hóa Xã hội hóa là cách tốt nhất để huy động mọi nguồn lực từ học sinh, phụ huynh, doanh nghiệp, các tổ chức tài trợ quốc

tế, ngân sách 4 cấp (xã, huyện, tỉnh, trung ương) cùng vào cuộc đầu tư nâng cấp cơ

sở vật chất, thiết bị dạy và học phù hợp với nền kinh tế đất nước, sớm ngang tầm với khu vực và quốc tế

2 Di động xã hội

Trang 9

2.1 Di động xã hội là gì

Di động xã hội (social mobility) còn gọi là sự cơ động xã hội hay dịch chuyển xã hội, là khái niệm xã hội học dùng để chỉ sự chuyển động của những cá nhân, gia đình, nhóm xã hội trong cơ cấu xã hội và hệ thống xã hội Do vậy di động

xã hội liên quan đến sự vận động của con người từ một vị trí xã hội này đến một vị trí xã hội khác trong hệ thống phân tầng xã hội

2.2 Các hình thức di động xã hội

Căn cứ vào việc di động xã hội diễn ra cùng một tầng hay khác tầng, các nhà xã hội học chia ra hai loại:

Di động xã hội theo chiều ngang: Là sự dịch chuyển vị thế xã hội của một người hay một nhóm người trên cùng một tầng lớp hay cùng một thang bậc trong

cơ cấu xã hội

Di động xã hội theo chiều dọc: Là sự dịch chuyển vị trí xã hội của một hay một nhóm người sang một vị trí xã hội khác không cùng tầng Sự di động này liên quan đến sự thăng tiến hay giảm sút vị thế xã hội của mỗi người

Căn cứ vào số lượng chủ thể của di động xã hội là các nhân hay tập thể (tập thể, giai cấp, dân tộc) người ta chia làm hai loại:

Di động xã hội chuyển đổi: là sự trao đổi vị trí xã hội giữa các cá nhân ở các tầng xã hội khác nhau, còn gọi là di động xã hội thay thế Một người hay một nhóm người được đề bạt vào vị trí xã hội của người khác, nhóm khác

Di động xã hội theo cơ cấu xã hội: Là sự thay đổi địa vị của một số người do kết quả của sự thay đổi về cơ cấu xã hội Loại di động này xuất hiện trong những giai đoạn cách mạng kỹ thuật, cách mạng cơ cấu kinh tế hoặc cách mạng chính trị

Trang 10

Căn cứ vào nguyên nhân, nguồn gốc dẫn đến sự di động:

Di động xã hội tinh: là di động do năng lực chủ quan và ý chí vươn lên của các nhân

Di động xã hội thô có nguyên nhân là những yếu tố khách quan

Căn cứ vào tính thế hệ trong di động:

Di động xã hội trong cùng thế hệ: là sự di động xã hội của cá nhân trong suốt cuộc đời của họ do có sự thay đổi về nghề nghiệp, nơi cư trú, hay địa vị xã hội…

mà không phụ thuộc vào thế hệ trước hay sau họ

Di động xã hội giữa các thế hệ: là hình thức di động có sự chuyển dịch vị trí giữa các thế hệ Đây là loại di động xã hội đặc trưng cho xã hội phong kiến

2.3 Yếu tố ảnh hưởng đến di động xã hội

Điều kiện kinh tế - xã hội:

Tùy thuộc sự phát triển của xã hội, di động xã hội diễn ra ít hay nhiều Trong

xã hội khép kín như xã hội đẳng cấp, cá nhân ít có cơ hội thay đổi vị trí của mình Trái lại, trong xã hội mở, di động xã hội diễn ra nhanh hơn Các cá nhân, nhóm xã hội có tính năng động cao Xã hội công nghiệp là xã hội mở

Những yếu tố cá nhân:

Nguồn gốc xuất thân: Cá nhân thường chịu sự chi phối rất lớn của truyền thống, đặc biệt là nguồn gốc xuất thân Bởi vì địa vị xã hội, nghề nghiệp, trình độ học vấn hoàn cảnh kinh tế- chính trị xã hội của ông bà cha mẹ có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của cá nhân Một người xuất thân trong giai tầng cao thì sẽ

có điều kiện thuận lợi để nắm giữ địa vị xã hội cao và dễ thăng tiến trong sự

Trang 11

nghiệp Như vậy điều kiện sống và làm việc của cha mẹ ảnh hưởng nhiều đến sự di động của thế hệ con cái

Lứa tuổi và thâm niên nghề nghiệp: Đây là một biến số quan trọng, tuổi thường gắn liền với thâm niên nghề nghiệp, kinh nghiệm nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, học vấn, tích lũy tri thức cũng như khả năng tiếp nhận thông tin và thành tựu khoa học công nghệ Mặt khác, tuổi tác cũng có thể là những cản trở đối với việc tiếp nhận những cái mới trong tư duy và hành động Ở Việt Nam lứa tuổi

có tính di động cao từ 30 đến 55 tuổi Thâm niên công tác cũng là yếu tố khiến cá nhân dễ có cơ hội thăng tiến hoặc tìm việc làm mới

Yếu tố giới tính: Giới tính cũng tác động đến sự di động xã hội Ngày nay vẫn còn nhiều khác biệt giữa nam và nữ, sự khác nhau này có nguồn gốc từ sự khác biệt tự nhiên, đặc biệt là sự khác nhau về mặt xã hội giữa nam và nữ Nam giới có tính di động cao hơn phụ nữ Về mặt giới tính, phụ nữ và nam giới có những khác biệt nhất định, sự khác biệt này bị khuếch đại và tạo ra sự bất bình đẳng giữa nam

và nữ trong xã hội

Nơi cư trú: Thường gắn liền với nó là điều kiện môi trường sống có ảnh hưởng đáng kể đến tính năng động xã hội của cá nhân Những người sống ở đô thị

có nhiều điều kiện để thăng tiến hơn so với những người sống ở khu vực nông thôn, rừng núi và vùng sâu vùng xa Mặc dù ngày nay công nghệ thông tin, vô tuyến viễn thông đã có nhiều bước phát triển kỳ diệu, khoảng cách địa lý được thu ngắn lại, mọi người có thể trao đổi thông tin trên các phương tiện hiện đại được dễ dàng

Ngoài những yếu tố trên thì những yếu tố khác như chủng tộc tôn giáo, sức khỏe, hình thức, bề ngoài … cũng có sự chi phối nhất định đến di động xã hội của

cá nhân Bên cạnh đó, một yếu tố phải kể đến, nó là yếu tố tác động mạnh nhất và

có tính chất quyết định đến di động xã hội cá nhân ở Việt Nam đó là trình độ học

Ngày đăng: 08/04/2019, 18:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w