1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề thi HSG Sử L12 chuyên 08-09

10 749 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề thi HSG Sử L12 chuyên 08-09
Trường học Sở Giáo Dục Và Đào Tạo Thừa Thiên Huế
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Đề thi
Năm xuất bản 2008-2009
Thành phố Thừa Thiên Huế
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 156,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm cuối XIX, song song với các cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần Vương còn có các cuộc đấu tranh chống Pháp tự phát của nhân dân các địa phương ở trung du và miền núi, nổi

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI HỌC SINH GIỎI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ KHỐI 12 CHUYÊN- NĂM HỌC 2008-2009

ĐỀ THI CHÍNH THỨC Môn: Lịch sử

Thời gian làm bài: 180 phút

A Lịch sử Việt Nam (14 điểm)

Câu 1 (3,5 điểm)

Trình bày tóm tắt cuộc khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913) Tại sao cuộc khởi nghĩa này có thể tồn tại gần 30 năm?

Câu 2 (4,5 điểm)

Phân tích thời cơ của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 Đảng Cộng sản Đông Dương đã đề ra chủ trương, biện pháp gì để đứng ở địa vị làm chủ đất nước đón tiếp quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật?

Câu 3 (6 điểm)

Bằng những kiến thức lịch sử từ 1954 đến 1975, chứng minh: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu

là Chủ tịch Hồ Chí Minh, với đường lối chính trị, quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo…” ( SGK Lịch sử lớp 12 nâng cao, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2008, trang 260 )

B- Lịch sử thế giới (6 điểm)

Câu 1 (2 điểm)

Tại sao nói: Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỷ XVIII là cuộc cách mạng tư sản triệt để nhất ? Những nhân tố nào đã tạo ra sự triệt để này ?

Câu 2 (4 điểm)

Vì sao nói: Toàn cầu hoá vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với các nước đang phát triển?

HẾT

Trang 2

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI HỌC SINH GIỎI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ KHỐI 12 CHUYÊN - NĂM HỌC 2008 -2009

ĐỀ THI CHÍNH THỨC Môn: Lịch sử

ĐÁP ÁN VÀ THANG ĐIỂM

A- LỊCH SỬ VIỆT NAM ( 14 ĐIỂM)

Câu 1

(3,5

điểm)

Trình bày tóm tắt cuộc khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913).

Tại sao cuộc khởi nghĩa này có thể tồn tại gần 30 năm?

1 Trong những năm cuối XIX, song song với các cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần Vương còn có các cuộc

đấu tranh chống Pháp tự phát của nhân dân các địa phương

ở trung du và miền núi, nổi bật nhất là cuộc khởi nghĩa Yên

Thế Cuộc khởi nghĩa này bắt đầu từ 1884 đến 1913 thì kết

thúc Lãnh đạo cuộc khởi nghĩa là nông dân, tiêu biểu nhất

là Đề Nắm và Đề Thám

2 Cuộc khởi nghĩa trải qua bốn giai đoạn Giai đoạn

1 (1884 - 1892), nghĩa quân còn họat động lẻ tẻ, hàng chục

toán nghĩa quân tung hoành khắp khu vực Yên Thế, chưa có

sự chỉ huy thống nhất nhưng đã đẩy lùi nhiều trận càn của

Pháp.Đến tháng 4-1892, Đề Thám trở thành thủ lĩnh tối cao

Giai đoạn 2 ( từ 1893 đến 1897), nghĩa quân mở rộng địa

bàn hoạt động ra nhiều vùng thuộc Bắc Giang, Bắc Ninh,

xây dựng căn cứ ở Hố Chuối Thực dân Pháp tập trung lực

lượng đánh lên Yên Thế Để có điều kiện củng cố lực lượng,

Đề Thám lập mưu bắt cóc một số tên thực dân gây xôn xao

dư luận trong giới tư sản và địa chủ Pháp Chính quyền thực

dân buộc phải đàm phán giảng hòa, rút quân khỏi Yên Thế,

đồng ý để Đề Thám cai quản bốn tổng (…) từ tháng

10/1894 Tranh thủ thời gian hòa hoãn, nghĩa quân ra sức

sản xuất, chuẩn bị lực lượng cho cuộc chiến đấu mới Đến

tháng 11/1895, Pháp tấn công trở lại và bị thiệt hại nặng nên

phải đề nghị Đề Thám giảng hòa lần thứ hai vào tháng

12-1897 Giai đoạn 3 ( từ 1898 đến 1908 ), suốt 11 năm đình

chiến, nghĩa quân Yên Thế giữ vững tinh thần chiến đấu, ra

sức sản xuất, sắm sửa vũ khí, luyện tập quân sự chuẩn bị

chống trả kẻ thù, phối hợp hoạt động với các sĩ phu yêu

nước đầu thế kỷ XX Giai đoạn 4 ( từ 1909 đến 1913), thực

dân Pháp tập trung lực lượng tấn công Từ đây cuộc khởi

nghĩa suy yếu dần rồi đi đến thất bại

0,5 điểm

`

1,5 điểm

Trang 3

3 Tuy thất bại, nhưng cuộc khởi nghĩa là biểu hiện

cụ thể sinh động tinh thần quật khởi, đấu tranh bất khuất của

nhân dân ta trước sự xâm lược của thực dân Pháp

4 Cuộc khởi nghĩa kéo dàigần 30 năm nhờ căn cứ Yên Thế được xây dựng trên một điạ hình hiểm trở ở phía

tây Bắc Giang, có đường thông sang Tam Đảo, Thái

Nguyên, xuống Bắc Ninh, Phúc Yên, Vĩnh Yên Nhờ có

địa hình này, nghĩa quân có thể cơ động và linh hoạt trong

tấn công và phòng thủ Mặt khác nhờ có phương thức tác

chiến linh hoạt, chủ yếu tiến hành đánh du kích, lấy ít đánh

nhiều, nghĩa quân thường đánh những trận nhỏ, dựa vào địa

hình hiểm trở và công sự dã chiến để đánh gần, đánh nhanh

rồi rút lui Lúc kẻ thù cũng như lực lượng nghĩa quân gặp

khó khăn, Đề Thám biết tận dụng điều kiện hòa hoãn với

Pháp nhằm tranh thủ thời gian củng cố và phát triển lực

lượng Nghĩa quân đã dựa chặt chẽ vào dân, phần nào đã

giải quyết được yêu cầu ruộng đất của nông dân nên đã tập

hợp được nông dân trong cuộc đấu tranh chống Pháp

0,5 điểm

1 điểm

Câu 2

(4,5

điểm)

Phân tích thời cơ của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng

Tám 1945 Đảng Cộng sản Đông Dương đã đề ra chủ

trương, biện pháp gì để đứng ở địa vị làm chủ đất nước

đón tiếp quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật?

1 Thời cơ của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945

a.Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 diễn ra

trong một thời cơ thuận lợi nhưng cũng có những khó khăn

Đến đầu tháng 8/1945, sau khi trải qua một thời gian trực

tiếp chuẩn bị chu đáo về tất cả các mặt từ 1939 – 1945,

những điều kiện chủ quan của một cuộc tổng khởi nghĩa

giành chính quyền đã chín muồi

b- Cao trào kháng Nhật cứu nước phát triển đến đỉnh cao, chiến tranh du kích kết hợp khởi nghĩa từng phần và

đấu tranh chính trị diễn ra sôi nổi ở nông thôn và thành thị

Không khí chuẩn bị tổng khởi nghĩa sôi sục trong cả nước

Quần chúng cách mạng đã sẳn sàng đứng lên khởi nghĩa

giành chính quyền khi có lệnh của Đảng

c- Trong bối cảnh đó, trước sự tấn công mạnh mẽ của

Mỹ và Liên Xô (…), ngày 9/8/1945, Hội đồng tối cao chiến

tranh của Nhật đã họp bàn về những điều kiện đầu hàng

Đồng minh Ngày 14/8/1945, Hội đồng tối cao chiến tranh,

Nội các và Nhật hoàng quyết định đầu hàng Đồng minh

không điều kiện Trưa 15/8/1945, Nhật hòang tuyên bố đầu

hàng phe Đồng minh Điều kiện khách quan cho tổng khởi

0,25 điểm

0,75 điểm

0,75 điểm

Trang 4

nghĩa đã đến Quân đội Nhật ở Đông Dương rệu rã Chính

phủ thân Nhật Trần Trọng Kim hoang mang, tê liệt Những

sự kiện trên làm cho những điều kiện (thời cơ) của cuộc

tổng khởi nghĩa chín muồi trong toàn quốc

d- Bên cạnh thuận lợi trên, cách mạng Việt Nam

cũng gặp khó khăn Đó là theo thỏa thuận của phe Đồng

Minh, quân Anh và quân Trung Hoa Dân Quốc sẽ vào Việt

Nam giải giáp quân Nhật và nhân cơ hội đó sẽ tìm mọi cách

bóp chết thành quả của cách mạng Việt Nam, tạo điều kiện

cho Pháp trở lại xâm lược và thống trị như đã diễn ra sau khi

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công

2 Chủ trương và biện pháp của Đảng…

a Trước tình hình trên, Đảng Cộng sản Đông Dương

đã kịp thời đề ra những chủ trương và biện pháp đúng đắn

và sáng tạo: Đó là chớp lấy thời cơ phát động toàn dân tổng

khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân Đồng minh

vào Đông Dương giải giáp quân Nhật, để đứng ở địa vị làm

chủ đất nước, ta đón tiếp quân Đồng minh vào thực thi

nhiệm vụ nhằm ngăn chặn âm mưu của chúng Ngay sau khi

nghe tin Nhật đầu hàng, ngày 13/8/1945, Trung ương Đảng

và Tổng bộ Việt Minh lập tức thành lập Ủy ban khởi nghĩa

toàn quốc 23 giờ cùng ngày, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc

ra Quân lệnh số 1, chính thức phát động tổng khởi nghĩa

trong cả nước

b Tiếp đó, ngày 14 và 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc

của Đảng đã thông qua kế hoạch lãnh đạo toàn dân tổng

khởi nghĩa giành chính quyền với ba nguyên tắc: kịp thời,

thống nhất và tập trung, quyết định chính sách đối nội, đối

ngoại của nước Việt Nam sau khi giành độc lập

c Từ ngày 16 đến 17/8/1945, Quốc dân Đại hội được

triệu tập tại Tân Trào, tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa

của Đảng, thông qua 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh,

cử ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh

làm Chủ tịch

d Để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân,

28/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến hành cải tổ Ủy ban

Dân tộc Giải phóng Việt Nam thành Chính phủ Lâm thời

nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Để đảm bảo cơ sở pháp

lý cho những thành quả đã giành được trong cuộc Tổng khởi

nghĩa tháng 8/1945, Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí

Minh đã quyết định tổ chức lễ tuyên bố độc lập, công bố

thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ra mắt Chính

phủ Lâm thời, khẳng định cuộc Cách mạng tháng Tám 1945

0,5 điểm

0,5 điểm

0,5 điểm

0,5 điểm

0,5 điểm

Trang 5

hoàn tất thắng lợi vào ngày 2-9-1945.

e.Đứng trước thời cơ thuận lợi song cũng có nhiều

khó khăn, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp

thời chớp lấy thời cơ phát động toàn dân tổng khởi nghĩa

giành chính quyền đồng thời đề ra nhiều chủ trương, biện

pháp đúng đắn và sáng tạo để đứng ở địa vị làm chủ đất

nước đón tiếp quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật

Nhờ đó, cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 đã giành

được thắng lợi nhanh chóng (15 ngày) với thành quả trọn

vẹn

0,25 điểm

Câu 3

(6 điểm)

Bằng những kiến thức lịch sử từ 1954 đến 1975, chứng

minh: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi

nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ

tịch Hồ Chí Minh, với đường lối chính trị, quân sự độc

lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo…”

1 Sau Hiệp định Giơnevơ (7-1954), Mỹ âm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới…Đất nước tạm

thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính tri khác

nhau

2 Trước tình hình trên, Đảng ta đã đề ra đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền

khác nhau: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách

mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Hai nhiệm vụ

chiến lược này kết hợp chặt chẽ với nhau nhằm thực hiện

một mục tiêu, nhiệm vụ chung của cả nước: giải phóng miền

Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc, hoàn thành

cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước Cách

mạng miền Bắc có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ sự

nghiệp cách mạng trong cả nước Cách mạng miền Nam có

ý nghĩa quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng

miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành cách mạng dân

tộc dân chủ Với đường lối này, cách mạng nước ta huy

động được sức mạnh của cả nước chống Mỹ xâm lược, tận

dụng được sức mạnh của phe xã hội chủ nghĩa, phong trào

giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân

chủ và tiến bộ trên thế giới Đây là đường lối chính trị độc

lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta đồng thời là

nhân tố hàng đầu tạo nên thắng lợi của cuộc kháng chiến

chống Mỹ cứu nước

3 Đảng ta đã đề ra phương pháp đấu tranh linh hoạt, kết hợp đấu tranh quân sự - chính trị - ngoại giao

a Sau hiệp định Giơnevơ 1954, Mỹ - Diệm âm mưu

0,25 điểm

1,5điểm

Trang 6

chia cắt đất nước ta làm hai miền, không thực hiện tổng

tuyển cử thống nhất đất nước, Đảng ta chủ trương phải

chuyển từ đấu tranh vũ trang chống Pháp sang đấu tranh

chính trị hòa bình, đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ để giữ

gìn và phát triển lực lượng cách mạng

Đến năm 1959, Mỹ - Diệm đàn áp và khủng bố ác

liệt với Luật 10/59 Đáp ứng nguyện vọng của đồng bào

miền Nam, Đảng ta đề ra Nghị quyết 15 (1/1959) chủ trương

cách mạng miền Nam phải sử dụng bạo lực cách mạng đánh

đổ đế quốc và phong kiến, phải tiến hành giành chính quyền

về tay nhân dân bằng lực lượng chính trị của quần chúng là

chủ yếu kết hợp với lực lượng vũ trang Chủ trương này dẫn

đến phong trào “Đồng Khởi” 1959 – 1960, đánh dấu bước

nhảy vọt của cách mạng miền Nam từ đấu tranh giữ gìn lực

lượng chuyển sang thế tiến công, mở ra thời kỳ khủng hoảng

của chế độ Sài Gòn

b Từ 1961 – 1965, Mỹ tiến hành chiến lược “chiến

tranh đặc biệt” với ba chỗ dựa chủ yếu: quân đội Sài Gòn,

chính quyền Sài Gòn và quốc sách “ấp chiến lược” do cố

vấn Mỹ chỉ huy Trước âm mưu mới của Mỹ, Đảng ta chủ

trương giữ vững thế tiến công chiến lược, kết hợp đấu tranh

quân sự với đấu tranh chính trị, đánh địch bằng ba mũi giáp

công trên ba vùng chiến lược Với chủ trương đó, cách mạng

miền Nam từ khởi nghĩa từng phần phát triển lên chiến tranh

cách mạng, kết hợp khởi nghĩa với chiến tranh, tiến công và

nổi dậy, làm thất bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của

Mỹ vào giữa năm 1965: với các thắng lợi An Lão, Ba Gia,

Đồng Xoài, quân đội Sài Gòn không có khả năng chống lại

quân giải phóng Địch chỉ còn quản lý 2200 ấp/16000 ấp

chiến lược Chính quyền Sài Gòn lâm vào tình trạng khủng

hoảng trầm trọng Từ sau cuộc đảo chính 1/11/1963 đến

giữa 1965 diễn ra 10 cuộc đảo chính

c “Chiến tranh đặc biệt” bị phá sản, Mỹ leo thang

chiến tranh, tiến hành “chiến tranh cục bộ” (1965-1968) ở

miền Nam và chiến tranh phá hoại ở miền Bắc Trước tình

thế khó khăn đó, Đảng ta quyết định phải giữ vững thế chiến

lược tiến công Kháng chiến chống Mỹ cứu nước trở thành

nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc Miền Bắc phải vừa

chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa tiếp tực xây dựng

chủ nghĩa xã hội trong điều kiện có chiến tranh, đồng thời

tiếp tục chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam Miền Nam

tiếp tục tiến hành chiến tranh cách mạng để chống Mỹ xâm

lược Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng hai miền Nam,

0,75 điểm

0,75 điểm

0,75điểm

Trang 7

Bắc đã phối hợp chiến đấu chặt chẽ làm thất bại âm mưu

của Mỹ Miền Bắc vừa sản xuất, vừa chiến đấu, đánh bại

cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, bắn rơi 3243 máy

bay Miền Nam từng bước đánh bại các cuộc hành quân “tìm

diệt” và “bình định” (Vạn Tường, hai cuộc phản công chiến

lược mùa khô 1965 – 1966, 1966 – 1967) Từ thắng lợi của

quân và dân hai miền Nam Bắc, đầu 1967, Đảng ta mở thêm

mặt trận đấu tranh ngoại giao để kết hợp với đấu tranh quân

sự và đấu tranh chính trị Đầu năm 1968, tranh thủ thời cơ

thuận lợi, trên cơ sở so sánh lực lượng, Đảng ta chủ trương

mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy trên khắp miền Nam vào

Xuân Mậu Thân 1968 Mặc dù còn có những hạn chế, nhưng

cuộc tổng tiến công và nổi dậy đã có ý nghĩa to lớn: cùng

với thắng lợi của quân và dân miền Bắc đã giáng một đòn

mạnh mẽ, làm lung lay ý chí xâm lược của quân Mỹ, buộc

Mỹ phải tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc không điều

kiện (1/11/1968), tuyên bố “phi Mỹ hóa” chiến tranh và

chấp nhận đàm phán ở Pari

d.Từ 1969 – 1973, Mỹ tiếp tục tăng cường và mở

rộng chiến tranh bằng các chiến lược: “Việt Nam hóa chiến

tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh” với nhiều âm mưu

thâm độc Cách mạng miền Nam gặp nhiều khó khăn

Trước bối cảnh mới, Đảng ta đã đoàn kết chặt chẽ

với cách mạng Lào và Campuchia (Hội nghị cấp cao ba

nước Đông Dương 24 - 25/4/1970 quyết tâm đoàn kết chống

Mỹ), kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và

đấu tranh ngoại giao, từng bước kiềm chế đánh thắng Mỹ và

buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh Cuộc tiến công

chiến lược 1972 cùng trận“Điện Biên Phủ trên không” ở Hà

Nội cuối 1972 buộc Mỹ phải tuyên bố chấm dứt ném bom

miềm Bắc không điều kiện và đi đến ký Hiệp định Pari

1973, công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn

lãnh thổ của nước ta, rút quân về nước, tạo ra điều kiện

thuận lợi để giải phóng hoàn toàn miền Nam

e Sau Hịêp định Paris 1973, Mỹ và chính quyền Sài

Gòn lấn chiếm vùng giải phóng, “tràn ngập lãnh thổ”, Đảng

ta quyết định cách mạng miền Nam phải tiếp tục cuộc cách

mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trong bất kỳ tình huống nào

cũng phải tiếp tục con đường cách mạng bạo lực, giữ vững

chiến lược tiến công, kiên quyết đấu tranh trên ba mặt trận:

quân sự, chính trị, ngoại giao.Chấp hành chủ trương của

Đảng, cách mạng miền Nam không những đánh bại các cuộc

hành quân lấn chiếm mà còn mở các cuộc tiến công giành

0,75 điểm

1,0 điểm

Trang 8

thắng lợi to lớn, mở ra khả năng để giải phóng hoàn toàn

miền Nam Tiêu biểu là chiến thắng Đường 14- Phước Long

(6/1/1975)

Cuối 1974 đầu 1975, trên cơ sở phân tích tình hình,

so sánh lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường, Đảng ta

đã đề ra kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm 1975

– 1976, đồng thời dự kiến nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối

1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975

Để tạo ra thời cơ chiến lược, cuộc tổng tiến công và

nổi dậy mùa Xuân 1975 được mở đầu bằng chiến dịch Tây

Nguyên Đầu tháng 3-1975, sau khi đánh nghi binh ở Plâycu

và KonTum, ta chọn Buôn Ma Thuột làm điểm đột phá và

giành được thắng lợi Với thắng lợi của chiến dịch Tây

Nguyên đã chuyển cuộc tiến công chiến lược thành cuộc

tổng tiến công chiến lược trên toàn miền Nam Thấy thời cơ

chiến lược đến nhanh, Đảng ta chủ trương giải phóng hoàn

toàn miền Nam trước mùa mưa 1975, trước hết là mở chiến

dịch Huế - Đà Nẵng (21đến 29/3) giành được thắng lợi Phối

hợp các chiến dịch Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng, các chiến

trường phối hợp đã tiến công và nổi dậy, lần lượt giải phóng

các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, đẩy địch vào

thế phòng ngự bị động, đứng trước sự sụp đổ hoàn toàn, tạo

ra thời cơ thuận lợi để Đảng ta quyết định mở chiến dịch Hồ

Chí Minh

Sau khi tiến công xóa bỏ các hệ thống phòng ngự từ

xa (Phan Rang, Xuân Lộc) bảo vệ Sài Gòn, ngày 26/4 với

phương châm thần tốc, táo bạo, bất ngờ, với hỏa lực và lực

lượng cơ động mạnh, năm cánh quân đã tập trung lực lượng

tấn công vào năm mục tiêu đầu não của địch ở Sài Gòn Đến

11 giờ 30 phút, chiến dịch Hồ Chí Minh hoàn toàn thắng lợi

e Có thể nói, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

tháng lợi do nhiều yếu tố tạo nên nhưng sự lãnh đạo của

Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối

chính tri, quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo là

điểm

Trang 9

B- LỊCH SỬ THẾ GIỚI (6 ĐIỂM)

Câu 1

(2 điểm) Tại sao nói: Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỷ XVIII là cuộc cách mạng tư sản triệt để nhất ? Những nhân tố

nào đã tạo ra sự triệt để này ?

1.Cách mạng tư sản Pháp 1789 là cuộc cách mạng triệt để nhất vì cuộc cách mạng này đã hoàn thành những nhiệm vụ của một cuộc cách mạng tư sản:

.- Lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế, thành lập chế độ cộng hòa

- Tuyên bố xác lập chế độ tư bản cùng các quyền

tự do dân chủ, xóa bỏ đẳng cấp, thể hiện trong bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền (1789), Hiếp pháp 1793,

mở đường cho kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển

- Xóa bỏ quan hệ ruộng đất phong kiến, chia ruộng đất cho nông dân thể hiện trong Đạo luật tháng 6/ 1973

2.- Những nhân tố nào đã tạo ra sự triệt để này

- Do giai cấp tư sản Pháp mạnh

- Quần chúng nhân dân có tinh thần cách mạng cao

- Tác động mạnh mẽ của tư tưởng khai sáng:

Vonte, Rutxô, Mêliê, nhóm Bách khoa toàn thư

2-1,25 điểm

0,75 điểm

Câu 2

(4 điểm)

Vì sao nói: Toàn cầu hoá vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với các nước đang phát triển?

1- Xu thế toàn cầu hóa

Đầu những năm 80 của thế kỷ XX, nhất là sau Chiến tranh lạnh, trên thế giới đã diễn ra xu thế toàn cầu hóa Đây là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất

cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới

Toàn cầu hóa là xu thế khách quan, là một thực tế không thể đảo ngược Nó có mặt tích cực và tiêu cực, vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với các nước đang phát triển

2- Cơ hội đối với các nước đang phát triển

Tạo ra những điều kiện thuận lợi để các nước đang phát triển thúc đẩy mạnh mẽ, nhanh chóng việc phát triển

và xã hội hóa lực lượng sản xuất, đem lại sự tăng trưởng, tạo ra sự chuyển biến về cơ cấu kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế

1 điểm

1,5 điểm

Trang 10

3- Thách thức đối với các nước đang phát triển

Toàn cầu hóa đòi hỏi các nước đang phát triển phải

tiến hành cải cách sâu rộng để nâng cao sức cạnh tranh và

hiệu quả của nền kinh tế, phải biết tận dụng nguồn vốn, kỹ

thuật để phát triển kinh tế, nếu không sẽ bị tụt hậu, lệ

thuộc

Toàn cầu hóa làm trầm trọng thêm sự bất công xã

hội, đào sâu hố ngăn cách giàu nghèo trong từng nước, làm

cho mọi mặt hoạt động và đời sống con người kém an toàn

hơn (từ kém an toàn về kinh tế, tài chính dẫn đến kém an

toàn về chính trị), tạo ra nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc,

nền độc lập tự chủ quốc gia dễ bị xâm phạm

1,5 điểm

Ngày đăng: 27/08/2013, 10:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình hiểm trở và công sự dã chiến để đánh gần, đánh nhanh - Đề thi HSG Sử L12 chuyên 08-09
Hình hi ểm trở và công sự dã chiến để đánh gần, đánh nhanh (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w