Trong những năm cuối XIX, song song với các cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần Vương còn có các cuộc đấu tranh chống Pháp tự phát của nhân dân các địa phương ở trung du và miền núi, nổi
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI HỌC SINH GIỎI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ KHỐI 12 CHUYÊN- NĂM HỌC 2008-2009
ĐỀ THI CHÍNH THỨC Môn: Lịch sử
Thời gian làm bài: 180 phút
A Lịch sử Việt Nam (14 điểm)
Câu 1 (3,5 điểm)
Trình bày tóm tắt cuộc khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913) Tại sao cuộc khởi nghĩa này có thể tồn tại gần 30 năm?
Câu 2 (4,5 điểm)
Phân tích thời cơ của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 Đảng Cộng sản Đông Dương đã đề ra chủ trương, biện pháp gì để đứng ở địa vị làm chủ đất nước đón tiếp quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật?
Câu 3 (6 điểm)
Bằng những kiến thức lịch sử từ 1954 đến 1975, chứng minh: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu
là Chủ tịch Hồ Chí Minh, với đường lối chính trị, quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo…” ( SGK Lịch sử lớp 12 nâng cao, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2008, trang 260 )
B- Lịch sử thế giới (6 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
Tại sao nói: Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỷ XVIII là cuộc cách mạng tư sản triệt để nhất ? Những nhân tố nào đã tạo ra sự triệt để này ?
Câu 2 (4 điểm)
Vì sao nói: Toàn cầu hoá vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với các nước đang phát triển?
HẾT
Trang 2
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI HỌC SINH GIỎI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ KHỐI 12 CHUYÊN - NĂM HỌC 2008 -2009
ĐỀ THI CHÍNH THỨC Môn: Lịch sử
ĐÁP ÁN VÀ THANG ĐIỂM
A- LỊCH SỬ VIỆT NAM ( 14 ĐIỂM)
Câu 1
(3,5
điểm)
Trình bày tóm tắt cuộc khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913).
Tại sao cuộc khởi nghĩa này có thể tồn tại gần 30 năm?
1 Trong những năm cuối XIX, song song với các cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần Vương còn có các cuộc
đấu tranh chống Pháp tự phát của nhân dân các địa phương
ở trung du và miền núi, nổi bật nhất là cuộc khởi nghĩa Yên
Thế Cuộc khởi nghĩa này bắt đầu từ 1884 đến 1913 thì kết
thúc Lãnh đạo cuộc khởi nghĩa là nông dân, tiêu biểu nhất
là Đề Nắm và Đề Thám
2 Cuộc khởi nghĩa trải qua bốn giai đoạn Giai đoạn
1 (1884 - 1892), nghĩa quân còn họat động lẻ tẻ, hàng chục
toán nghĩa quân tung hoành khắp khu vực Yên Thế, chưa có
sự chỉ huy thống nhất nhưng đã đẩy lùi nhiều trận càn của
Pháp.Đến tháng 4-1892, Đề Thám trở thành thủ lĩnh tối cao
Giai đoạn 2 ( từ 1893 đến 1897), nghĩa quân mở rộng địa
bàn hoạt động ra nhiều vùng thuộc Bắc Giang, Bắc Ninh,
xây dựng căn cứ ở Hố Chuối Thực dân Pháp tập trung lực
lượng đánh lên Yên Thế Để có điều kiện củng cố lực lượng,
Đề Thám lập mưu bắt cóc một số tên thực dân gây xôn xao
dư luận trong giới tư sản và địa chủ Pháp Chính quyền thực
dân buộc phải đàm phán giảng hòa, rút quân khỏi Yên Thế,
đồng ý để Đề Thám cai quản bốn tổng (…) từ tháng
10/1894 Tranh thủ thời gian hòa hoãn, nghĩa quân ra sức
sản xuất, chuẩn bị lực lượng cho cuộc chiến đấu mới Đến
tháng 11/1895, Pháp tấn công trở lại và bị thiệt hại nặng nên
phải đề nghị Đề Thám giảng hòa lần thứ hai vào tháng
12-1897 Giai đoạn 3 ( từ 1898 đến 1908 ), suốt 11 năm đình
chiến, nghĩa quân Yên Thế giữ vững tinh thần chiến đấu, ra
sức sản xuất, sắm sửa vũ khí, luyện tập quân sự chuẩn bị
chống trả kẻ thù, phối hợp hoạt động với các sĩ phu yêu
nước đầu thế kỷ XX Giai đoạn 4 ( từ 1909 đến 1913), thực
dân Pháp tập trung lực lượng tấn công Từ đây cuộc khởi
nghĩa suy yếu dần rồi đi đến thất bại
0,5 điểm
`
1,5 điểm
Trang 33 Tuy thất bại, nhưng cuộc khởi nghĩa là biểu hiện
cụ thể sinh động tinh thần quật khởi, đấu tranh bất khuất của
nhân dân ta trước sự xâm lược của thực dân Pháp
4 Cuộc khởi nghĩa kéo dàigần 30 năm nhờ căn cứ Yên Thế được xây dựng trên một điạ hình hiểm trở ở phía
tây Bắc Giang, có đường thông sang Tam Đảo, Thái
Nguyên, xuống Bắc Ninh, Phúc Yên, Vĩnh Yên Nhờ có
địa hình này, nghĩa quân có thể cơ động và linh hoạt trong
tấn công và phòng thủ Mặt khác nhờ có phương thức tác
chiến linh hoạt, chủ yếu tiến hành đánh du kích, lấy ít đánh
nhiều, nghĩa quân thường đánh những trận nhỏ, dựa vào địa
hình hiểm trở và công sự dã chiến để đánh gần, đánh nhanh
rồi rút lui Lúc kẻ thù cũng như lực lượng nghĩa quân gặp
khó khăn, Đề Thám biết tận dụng điều kiện hòa hoãn với
Pháp nhằm tranh thủ thời gian củng cố và phát triển lực
lượng Nghĩa quân đã dựa chặt chẽ vào dân, phần nào đã
giải quyết được yêu cầu ruộng đất của nông dân nên đã tập
hợp được nông dân trong cuộc đấu tranh chống Pháp
0,5 điểm
1 điểm
Câu 2
(4,5
điểm)
Phân tích thời cơ của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng
Tám 1945 Đảng Cộng sản Đông Dương đã đề ra chủ
trương, biện pháp gì để đứng ở địa vị làm chủ đất nước
đón tiếp quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật?
1 Thời cơ của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945
a.Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 diễn ra
trong một thời cơ thuận lợi nhưng cũng có những khó khăn
Đến đầu tháng 8/1945, sau khi trải qua một thời gian trực
tiếp chuẩn bị chu đáo về tất cả các mặt từ 1939 – 1945,
những điều kiện chủ quan của một cuộc tổng khởi nghĩa
giành chính quyền đã chín muồi
b- Cao trào kháng Nhật cứu nước phát triển đến đỉnh cao, chiến tranh du kích kết hợp khởi nghĩa từng phần và
đấu tranh chính trị diễn ra sôi nổi ở nông thôn và thành thị
Không khí chuẩn bị tổng khởi nghĩa sôi sục trong cả nước
Quần chúng cách mạng đã sẳn sàng đứng lên khởi nghĩa
giành chính quyền khi có lệnh của Đảng
c- Trong bối cảnh đó, trước sự tấn công mạnh mẽ của
Mỹ và Liên Xô (…), ngày 9/8/1945, Hội đồng tối cao chiến
tranh của Nhật đã họp bàn về những điều kiện đầu hàng
Đồng minh Ngày 14/8/1945, Hội đồng tối cao chiến tranh,
Nội các và Nhật hoàng quyết định đầu hàng Đồng minh
không điều kiện Trưa 15/8/1945, Nhật hòang tuyên bố đầu
hàng phe Đồng minh Điều kiện khách quan cho tổng khởi
0,25 điểm
0,75 điểm
0,75 điểm
Trang 4nghĩa đã đến Quân đội Nhật ở Đông Dương rệu rã Chính
phủ thân Nhật Trần Trọng Kim hoang mang, tê liệt Những
sự kiện trên làm cho những điều kiện (thời cơ) của cuộc
tổng khởi nghĩa chín muồi trong toàn quốc
d- Bên cạnh thuận lợi trên, cách mạng Việt Nam
cũng gặp khó khăn Đó là theo thỏa thuận của phe Đồng
Minh, quân Anh và quân Trung Hoa Dân Quốc sẽ vào Việt
Nam giải giáp quân Nhật và nhân cơ hội đó sẽ tìm mọi cách
bóp chết thành quả của cách mạng Việt Nam, tạo điều kiện
cho Pháp trở lại xâm lược và thống trị như đã diễn ra sau khi
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công
2 Chủ trương và biện pháp của Đảng…
a Trước tình hình trên, Đảng Cộng sản Đông Dương
đã kịp thời đề ra những chủ trương và biện pháp đúng đắn
và sáng tạo: Đó là chớp lấy thời cơ phát động toàn dân tổng
khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân Đồng minh
vào Đông Dương giải giáp quân Nhật, để đứng ở địa vị làm
chủ đất nước, ta đón tiếp quân Đồng minh vào thực thi
nhiệm vụ nhằm ngăn chặn âm mưu của chúng Ngay sau khi
nghe tin Nhật đầu hàng, ngày 13/8/1945, Trung ương Đảng
và Tổng bộ Việt Minh lập tức thành lập Ủy ban khởi nghĩa
toàn quốc 23 giờ cùng ngày, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc
ra Quân lệnh số 1, chính thức phát động tổng khởi nghĩa
trong cả nước
b Tiếp đó, ngày 14 và 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc
của Đảng đã thông qua kế hoạch lãnh đạo toàn dân tổng
khởi nghĩa giành chính quyền với ba nguyên tắc: kịp thời,
thống nhất và tập trung, quyết định chính sách đối nội, đối
ngoại của nước Việt Nam sau khi giành độc lập
c Từ ngày 16 đến 17/8/1945, Quốc dân Đại hội được
triệu tập tại Tân Trào, tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa
của Đảng, thông qua 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh,
cử ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh
làm Chủ tịch
d Để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân,
28/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến hành cải tổ Ủy ban
Dân tộc Giải phóng Việt Nam thành Chính phủ Lâm thời
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Để đảm bảo cơ sở pháp
lý cho những thành quả đã giành được trong cuộc Tổng khởi
nghĩa tháng 8/1945, Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã quyết định tổ chức lễ tuyên bố độc lập, công bố
thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ra mắt Chính
phủ Lâm thời, khẳng định cuộc Cách mạng tháng Tám 1945
0,5 điểm
0,5 điểm
0,5 điểm
0,5 điểm
0,5 điểm
Trang 5hoàn tất thắng lợi vào ngày 2-9-1945.
e.Đứng trước thời cơ thuận lợi song cũng có nhiều
khó khăn, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp
thời chớp lấy thời cơ phát động toàn dân tổng khởi nghĩa
giành chính quyền đồng thời đề ra nhiều chủ trương, biện
pháp đúng đắn và sáng tạo để đứng ở địa vị làm chủ đất
nước đón tiếp quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật
Nhờ đó, cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 đã giành
được thắng lợi nhanh chóng (15 ngày) với thành quả trọn
vẹn
0,25 điểm
Câu 3
(6 điểm)
Bằng những kiến thức lịch sử từ 1954 đến 1975, chứng
minh: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi
nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ
tịch Hồ Chí Minh, với đường lối chính trị, quân sự độc
lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo…”
1 Sau Hiệp định Giơnevơ (7-1954), Mỹ âm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới…Đất nước tạm
thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính tri khác
nhau
2 Trước tình hình trên, Đảng ta đã đề ra đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền
khác nhau: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Hai nhiệm vụ
chiến lược này kết hợp chặt chẽ với nhau nhằm thực hiện
một mục tiêu, nhiệm vụ chung của cả nước: giải phóng miền
Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc, hoàn thành
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước Cách
mạng miền Bắc có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ sự
nghiệp cách mạng trong cả nước Cách mạng miền Nam có
ý nghĩa quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng
miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành cách mạng dân
tộc dân chủ Với đường lối này, cách mạng nước ta huy
động được sức mạnh của cả nước chống Mỹ xâm lược, tận
dụng được sức mạnh của phe xã hội chủ nghĩa, phong trào
giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân
chủ và tiến bộ trên thế giới Đây là đường lối chính trị độc
lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta đồng thời là
nhân tố hàng đầu tạo nên thắng lợi của cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước
3 Đảng ta đã đề ra phương pháp đấu tranh linh hoạt, kết hợp đấu tranh quân sự - chính trị - ngoại giao
a Sau hiệp định Giơnevơ 1954, Mỹ - Diệm âm mưu
0,25 điểm
1,5điểm
Trang 6chia cắt đất nước ta làm hai miền, không thực hiện tổng
tuyển cử thống nhất đất nước, Đảng ta chủ trương phải
chuyển từ đấu tranh vũ trang chống Pháp sang đấu tranh
chính trị hòa bình, đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ để giữ
gìn và phát triển lực lượng cách mạng
Đến năm 1959, Mỹ - Diệm đàn áp và khủng bố ác
liệt với Luật 10/59 Đáp ứng nguyện vọng của đồng bào
miền Nam, Đảng ta đề ra Nghị quyết 15 (1/1959) chủ trương
cách mạng miền Nam phải sử dụng bạo lực cách mạng đánh
đổ đế quốc và phong kiến, phải tiến hành giành chính quyền
về tay nhân dân bằng lực lượng chính trị của quần chúng là
chủ yếu kết hợp với lực lượng vũ trang Chủ trương này dẫn
đến phong trào “Đồng Khởi” 1959 – 1960, đánh dấu bước
nhảy vọt của cách mạng miền Nam từ đấu tranh giữ gìn lực
lượng chuyển sang thế tiến công, mở ra thời kỳ khủng hoảng
của chế độ Sài Gòn
b Từ 1961 – 1965, Mỹ tiến hành chiến lược “chiến
tranh đặc biệt” với ba chỗ dựa chủ yếu: quân đội Sài Gòn,
chính quyền Sài Gòn và quốc sách “ấp chiến lược” do cố
vấn Mỹ chỉ huy Trước âm mưu mới của Mỹ, Đảng ta chủ
trương giữ vững thế tiến công chiến lược, kết hợp đấu tranh
quân sự với đấu tranh chính trị, đánh địch bằng ba mũi giáp
công trên ba vùng chiến lược Với chủ trương đó, cách mạng
miền Nam từ khởi nghĩa từng phần phát triển lên chiến tranh
cách mạng, kết hợp khởi nghĩa với chiến tranh, tiến công và
nổi dậy, làm thất bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của
Mỹ vào giữa năm 1965: với các thắng lợi An Lão, Ba Gia,
Đồng Xoài, quân đội Sài Gòn không có khả năng chống lại
quân giải phóng Địch chỉ còn quản lý 2200 ấp/16000 ấp
chiến lược Chính quyền Sài Gòn lâm vào tình trạng khủng
hoảng trầm trọng Từ sau cuộc đảo chính 1/11/1963 đến
giữa 1965 diễn ra 10 cuộc đảo chính
c “Chiến tranh đặc biệt” bị phá sản, Mỹ leo thang
chiến tranh, tiến hành “chiến tranh cục bộ” (1965-1968) ở
miền Nam và chiến tranh phá hoại ở miền Bắc Trước tình
thế khó khăn đó, Đảng ta quyết định phải giữ vững thế chiến
lược tiến công Kháng chiến chống Mỹ cứu nước trở thành
nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc Miền Bắc phải vừa
chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa tiếp tực xây dựng
chủ nghĩa xã hội trong điều kiện có chiến tranh, đồng thời
tiếp tục chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam Miền Nam
tiếp tục tiến hành chiến tranh cách mạng để chống Mỹ xâm
lược Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng hai miền Nam,
0,75 điểm
0,75 điểm
0,75điểm
Trang 7Bắc đã phối hợp chiến đấu chặt chẽ làm thất bại âm mưu
của Mỹ Miền Bắc vừa sản xuất, vừa chiến đấu, đánh bại
cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, bắn rơi 3243 máy
bay Miền Nam từng bước đánh bại các cuộc hành quân “tìm
diệt” và “bình định” (Vạn Tường, hai cuộc phản công chiến
lược mùa khô 1965 – 1966, 1966 – 1967) Từ thắng lợi của
quân và dân hai miền Nam Bắc, đầu 1967, Đảng ta mở thêm
mặt trận đấu tranh ngoại giao để kết hợp với đấu tranh quân
sự và đấu tranh chính trị Đầu năm 1968, tranh thủ thời cơ
thuận lợi, trên cơ sở so sánh lực lượng, Đảng ta chủ trương
mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy trên khắp miền Nam vào
Xuân Mậu Thân 1968 Mặc dù còn có những hạn chế, nhưng
cuộc tổng tiến công và nổi dậy đã có ý nghĩa to lớn: cùng
với thắng lợi của quân và dân miền Bắc đã giáng một đòn
mạnh mẽ, làm lung lay ý chí xâm lược của quân Mỹ, buộc
Mỹ phải tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc không điều
kiện (1/11/1968), tuyên bố “phi Mỹ hóa” chiến tranh và
chấp nhận đàm phán ở Pari
d.Từ 1969 – 1973, Mỹ tiếp tục tăng cường và mở
rộng chiến tranh bằng các chiến lược: “Việt Nam hóa chiến
tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh” với nhiều âm mưu
thâm độc Cách mạng miền Nam gặp nhiều khó khăn
Trước bối cảnh mới, Đảng ta đã đoàn kết chặt chẽ
với cách mạng Lào và Campuchia (Hội nghị cấp cao ba
nước Đông Dương 24 - 25/4/1970 quyết tâm đoàn kết chống
Mỹ), kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và
đấu tranh ngoại giao, từng bước kiềm chế đánh thắng Mỹ và
buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh Cuộc tiến công
chiến lược 1972 cùng trận“Điện Biên Phủ trên không” ở Hà
Nội cuối 1972 buộc Mỹ phải tuyên bố chấm dứt ném bom
miềm Bắc không điều kiện và đi đến ký Hiệp định Pari
1973, công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ của nước ta, rút quân về nước, tạo ra điều kiện
thuận lợi để giải phóng hoàn toàn miền Nam
e Sau Hịêp định Paris 1973, Mỹ và chính quyền Sài
Gòn lấn chiếm vùng giải phóng, “tràn ngập lãnh thổ”, Đảng
ta quyết định cách mạng miền Nam phải tiếp tục cuộc cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trong bất kỳ tình huống nào
cũng phải tiếp tục con đường cách mạng bạo lực, giữ vững
chiến lược tiến công, kiên quyết đấu tranh trên ba mặt trận:
quân sự, chính trị, ngoại giao.Chấp hành chủ trương của
Đảng, cách mạng miền Nam không những đánh bại các cuộc
hành quân lấn chiếm mà còn mở các cuộc tiến công giành
0,75 điểm
1,0 điểm
Trang 8thắng lợi to lớn, mở ra khả năng để giải phóng hoàn toàn
miền Nam Tiêu biểu là chiến thắng Đường 14- Phước Long
(6/1/1975)
Cuối 1974 đầu 1975, trên cơ sở phân tích tình hình,
so sánh lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường, Đảng ta
đã đề ra kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm 1975
– 1976, đồng thời dự kiến nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối
1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975
Để tạo ra thời cơ chiến lược, cuộc tổng tiến công và
nổi dậy mùa Xuân 1975 được mở đầu bằng chiến dịch Tây
Nguyên Đầu tháng 3-1975, sau khi đánh nghi binh ở Plâycu
và KonTum, ta chọn Buôn Ma Thuột làm điểm đột phá và
giành được thắng lợi Với thắng lợi của chiến dịch Tây
Nguyên đã chuyển cuộc tiến công chiến lược thành cuộc
tổng tiến công chiến lược trên toàn miền Nam Thấy thời cơ
chiến lược đến nhanh, Đảng ta chủ trương giải phóng hoàn
toàn miền Nam trước mùa mưa 1975, trước hết là mở chiến
dịch Huế - Đà Nẵng (21đến 29/3) giành được thắng lợi Phối
hợp các chiến dịch Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng, các chiến
trường phối hợp đã tiến công và nổi dậy, lần lượt giải phóng
các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, đẩy địch vào
thế phòng ngự bị động, đứng trước sự sụp đổ hoàn toàn, tạo
ra thời cơ thuận lợi để Đảng ta quyết định mở chiến dịch Hồ
Chí Minh
Sau khi tiến công xóa bỏ các hệ thống phòng ngự từ
xa (Phan Rang, Xuân Lộc) bảo vệ Sài Gòn, ngày 26/4 với
phương châm thần tốc, táo bạo, bất ngờ, với hỏa lực và lực
lượng cơ động mạnh, năm cánh quân đã tập trung lực lượng
tấn công vào năm mục tiêu đầu não của địch ở Sài Gòn Đến
11 giờ 30 phút, chiến dịch Hồ Chí Minh hoàn toàn thắng lợi
e Có thể nói, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
tháng lợi do nhiều yếu tố tạo nên nhưng sự lãnh đạo của
Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối
chính tri, quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo là
điểm
Trang 9B- LỊCH SỬ THẾ GIỚI (6 ĐIỂM)
Câu 1
(2 điểm) Tại sao nói: Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỷ XVIII là cuộc cách mạng tư sản triệt để nhất ? Những nhân tố
nào đã tạo ra sự triệt để này ?
1.Cách mạng tư sản Pháp 1789 là cuộc cách mạng triệt để nhất vì cuộc cách mạng này đã hoàn thành những nhiệm vụ của một cuộc cách mạng tư sản:
.- Lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế, thành lập chế độ cộng hòa
- Tuyên bố xác lập chế độ tư bản cùng các quyền
tự do dân chủ, xóa bỏ đẳng cấp, thể hiện trong bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền (1789), Hiếp pháp 1793,
mở đường cho kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển
- Xóa bỏ quan hệ ruộng đất phong kiến, chia ruộng đất cho nông dân thể hiện trong Đạo luật tháng 6/ 1973
2.- Những nhân tố nào đã tạo ra sự triệt để này
- Do giai cấp tư sản Pháp mạnh
- Quần chúng nhân dân có tinh thần cách mạng cao
- Tác động mạnh mẽ của tư tưởng khai sáng:
Vonte, Rutxô, Mêliê, nhóm Bách khoa toàn thư
2-1,25 điểm
0,75 điểm
Câu 2
(4 điểm)
Vì sao nói: Toàn cầu hoá vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với các nước đang phát triển?
1- Xu thế toàn cầu hóa
Đầu những năm 80 của thế kỷ XX, nhất là sau Chiến tranh lạnh, trên thế giới đã diễn ra xu thế toàn cầu hóa Đây là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất
cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới
Toàn cầu hóa là xu thế khách quan, là một thực tế không thể đảo ngược Nó có mặt tích cực và tiêu cực, vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với các nước đang phát triển
2- Cơ hội đối với các nước đang phát triển
Tạo ra những điều kiện thuận lợi để các nước đang phát triển thúc đẩy mạnh mẽ, nhanh chóng việc phát triển
và xã hội hóa lực lượng sản xuất, đem lại sự tăng trưởng, tạo ra sự chuyển biến về cơ cấu kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế
1 điểm
1,5 điểm
Trang 103- Thách thức đối với các nước đang phát triển
Toàn cầu hóa đòi hỏi các nước đang phát triển phải
tiến hành cải cách sâu rộng để nâng cao sức cạnh tranh và
hiệu quả của nền kinh tế, phải biết tận dụng nguồn vốn, kỹ
thuật để phát triển kinh tế, nếu không sẽ bị tụt hậu, lệ
thuộc
Toàn cầu hóa làm trầm trọng thêm sự bất công xã
hội, đào sâu hố ngăn cách giàu nghèo trong từng nước, làm
cho mọi mặt hoạt động và đời sống con người kém an toàn
hơn (từ kém an toàn về kinh tế, tài chính dẫn đến kém an
toàn về chính trị), tạo ra nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc,
nền độc lập tự chủ quốc gia dễ bị xâm phạm
1,5 điểm