1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

bài tập nhóm luật đất đai

10 353 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TAND quận Thanh Vân xét sử sơ thẩm và ra bản án trong đó có nội dung liên quan tới các lô đất nói trên như sau: Bác yêu cầu của chị Phi về việc chia tài sản là quyền sử dụng lô đất 100m2

Trang 1

TÌNH HUỐNG……… 1

A LỜI MỞ ĐẦU……… 2

B NỘI DUNG……… 2

I Cơ sở lý luận……… 2

1 Mối quan hệ giữa ly hôn với chia quyền sử dụng đất 2

II Giải quyết tình huống……… 3

C KẾT LUẬN……… 8

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TAND: Tòa án nhân dân

BLDS: Bộ Luật dân sự

LĐĐ: Luật đất đai

LHNVGĐ: Luật hôn nhân và gia đình

TÌNH HUỐNG

Anh Đinh Công Tuấn là con trai ông Đing Công Sử kết hôn với chị Vương Thị Phi năm 2001 Sau khi kết hôn hai vợ chồng anh Tuấn ở cùng bố

Trang 2

là Đinh Công Sứ tại quận Thanh Vân Mọi chi phí sinh hoạt đều do ông sứ chi trả do 2 vợ chồng anh Tuấn không có công việc ổn đinh, thu nhập bấp bênh

Ngày 8.8.2006 ông Sứ trúng sổ số kiến thiết thủ đô, số tiền trúng thưởng là

3 tỉ đồng Ông Sứ mua một mảnh đất với diện tích 100m2 tại quận Tây Thành trị giá 2 tỷ đồng và nhờ anh Tuấn đứng tên Toàn bộ quá trình tìm mua và làm thủ tục nhận chuyển nhượng lô đất, làm thủ tục đứng tên lô đất trên cả 2 bố con ông Sứ cùng thực hiện không hề có sự tham gia của con dâu là Vương Thị Phi Bên cạnh đó vợ chồng anh Tuấn đang làm thủ tục để tách 50m2 từ thửa đất đang ở tại quận Thanh Vân và đứng tên thửa đất này

do ông Sứ cho 2 vợ chồng anh Tuấn (hồ sơ đã nộp cho cơ quan có thẩm quyển)

Tháng 6-2012 hai vợ chồng Anh Tuấn ly hôn Căn cứ vào trình bày của các bên và ông Sứ TAND quận Thanh Vân xét sử sơ thẩm và ra bản án trong

đó có nội dung liên quan tới các lô đất nói trên như sau: Bác yêu cầu của chị Phi về việc chia tài sản là quyền sử dụng lô đất 100m2 tại quận Tây Thành, đồng thời dừng thủ tục tách thửa 50m2 trên và công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp các lô đất trên thuộc về ông Sứ

Vậy bản án sơ thẩm của quận Thanh Vân với vụ việc trên là Đúng hay Sai?

A LỜI MỞ ĐẦU.

Bước sang nền kinh tế thị trường, nước ta từ nhất là trong những năm gần đây vấn đề về tranh chấp đất đai ngày càng diễn ra phức tạp và số

Trang 3

lương cũng tăng lên Các loại tranh chấp đất đai phổ biến như: tranh chấp do lấn, chiếm đất; tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tranh chấp đất đai trong vụ án ly hôn…Các tranh chấp đất đai diễn ra gay gắt Vì vậy, để nhằm tìm hướng giải quyết vấn đề đó trong bài tiểu luận của mình em xin được trình bày và phân tích về tình huống số 4 đã nêu ở trên

B NỘI DUNG

I Cơ sở lý luận.

Tranh cấp đất đai hiểu theo nghĩa rộng là biểu hiện sự đối lập, bất đồng trong việc xác định quyền quản lý, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng đối với đất đai, phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý và sử dụng đất

Theo nghĩa hẹp, tranh chấp đất đai là các mâu thuẫn, bất đồng về lợi ích kinh tế, quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia và các quan hệ pháp luật đất đai khi họ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại Khoản 8 Điều 8 LHNVGĐ năm 2000 có quy định:

“Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng”

1 Mối quan hệ giữa ly hôn với chia quyền sử dụng đất.

Có thể thấy, quy thực tiễn xét xử, việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn rất phức tạp, luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Điều 97 và luật đất đai cũng quy định rõ về điều này Những quy định này là một bươc cụ thể hóa một số quy định của Bộ luật dân sự về quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn bởi ly hôn là lúc vợ chồng đang trong tình trạng căng thẳng, căn

cứ vào tình trạng ly hôn mà Tòa án giải quyết việc đồng thuận ly hôn và quyết định chia tài sản chung là điều cần thiết, đặc biệt là chia quyền sử dụng đất và nhà ở

Quyền sử dụng đất cũng được coi là một loại tài sản khi li hôn, do đó về nguyên tắc sẽ được chia đôi nếu là tài sản chung của vợ chồng, do vậy mối quan hệ giữa li hôn với việc chia quyền sử dụng đất là có cơ sở

II Giải quyết tình huống.

Trang 4

Điều 174 BLDS có quy định đất đai là tài sản ( bất động sản), và theo quy định của pháp luật cũng được đưa vào giải quyết chia tài sản khi vợ chồng ly hôn Và theo đó Khoản 1 Điều 95 của LHNVGĐ năm 2000 quy định về nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn:

“Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thảo thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó”.

Xét trong tình huống và căn cứ vào điều trên ta thấy rằng việc phân chia tài sản của anh Tuấn và chị Phi không thỏa thuận được, do vậy chị Phi đã gửi yêu cầu lên TAND quận Thanh Vân để giải quyết Đây là vụ kiện hôn nhân gia đình mà nguyên đơn là chị Phi, anh Tuấn là bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Sứ

Trong quá trình giải quyết tình huống trên ta có thể chia ra giải quyết vấn đề theo những hướng sau:

- Giải quyết ý 1: TAND quận Thanh Vân xét xử bác yêu cầu của chị Phi về

việc đòi chia 100m2 đất tại quận Tây Thành và công nhận quyền sử dụng

mảnh đất 100m2 trên là thuộc về ông Sứ là đúng.

Giải thích:

+ Trước tiên phải xác định được nguồn gốc mảnh đất 100m2, quá trình hình thành và quyền sở hữu mảnh đất của ai?

Mảnh đất 100m2 là do ông Sứ mua được tại quận Tây Thành từ số tiền trúng xổ số và nhờ anh Tuấn đứng tên, toàn bộ quá trình tìm mua và làm thủ tục nhận chuyển nhượng lô đất do 2 bố con ông Sứ cùng thực hiện không hề

có sự tham gia của chị Phi là vợ của anh Tuấn Vì đây là mảnh đất của ông

Sứ đã mua được từ số tiền trúng xổ số của mình và chỉ nhờ anh Tuấn đứng tên, nên đây sẽ là mảnh đất thuộc quyền sở hữu của ông Sứ Xét theo Khoản

1 Điều 106 LĐĐ năm 2003 thì ông Sứ hoàn toàn có đủ điều kiện để tặng lô đất cho anh Tuấn

+ Thứ hai cần phải xác định đây là tài sản riêng của ông Sứ chứ không phải tài sản chung của vợ chồng anh Tuấn.

Trang 5

Theo khoản 1 điều 27 LHNVGĐ 2000: “Tài sản chung của vợ chồng

gồm tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung”.

Khoản 1 Điều 32 của LHNVGĐ 2000 cũng quy định: "Vợ chồng có quyền

có tài sản riêng Tài sản riêng của vợ chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân”.

Theo tình huống trên thì ta xác định anh Tuấn đứng tên mảnh đất 100m2

ở quận Tây Thành nhưng từ những điều kiện hình thành mảnh đất 100m2 này và cũng căn cứ theo những điều trên ta thấy mảnh đất 100m2 không phải do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, cũng không phải là tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung, căn cứ có thể khẳng định điều này là ông Sứ chỉ nhờ anh Tuấn đứng tên như đã nêu trong tình huống Vì vậy, ta thấy được đây không phải tài sản chung giữa hai vợ chồng anh Tuấn và quá trình làm thủ tục đứng tên thì không có sự tham gia của chị Phi nên không thể phân chia mảnh đất này cho chị Phi

Giả sử chị Phi cứ cho rằng mảnh đất này đứng tên anh Tuấn nên đây sẽ là

tài sản chung của hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nên khi ly hôn chị Phi phải được chia tài sản 100m2 thì trong trường hợp này có thể coi mảnh đất đó là tài sản riêng của anh Tuấn do ông sứ tặng cho riêng anh Tuấn căn

cứ vào khoản 1 điều 106 Mặt khác, như đã phân tích ở trên ta thấy ông Sứ chỉ nhờ anh Tuấn đứng tên và trong quá trình làm giấy tờ ông Sứ có căn cứ

để chứng minh rằng mình chỉ nhờ con trai đứng tên hộ như đã nêu trong tình huống: “nhờ anh Tuấn đứng tên” Vì thế nên quyền sử dụng đất vẫn thuộc về ông Sứ

Trang 6

Vì vậy, việc Tòa án bác bỏ yêu cầu của chị Phi về việc chia tài sản là

quyền sử dụng lô đất 100m2 tại quận Tây Thành và công nhận lô đất trên

vẫn thuộc sở hữu của ông Sứ là Đúng.

- Giải quyết ý 2: Việc Tòa án cho dừng thủ tục tách thửa 50m2 trên và công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp lô đất này thuộc về ông Sứ có thể là Sai.

Đối với mảnh đất 50m2 mà cả ông Sứ, anh Tuấn, chị Phi đang ở tại quận Thanh Vân thì vợ chồng anh Tuấn đang làm thủ tục để tách thửa đất này và đứng tên thửa đất này do ông Sứ tặng cho hai vợ chồng anh Tuấn( hồ sơ đã nộp cho cơ quan có thẩm quyền), nhưng vẫn chưa được giải quyết

- Trước tiên cần xác định nguồn gốc mảnh đất 50m2 này là của ông Sứ nhưng vợ chồng anh Tuấn chị Phi đang làm thủ tục đứng tên.

Mảnh đất 50m2 là của gia đình ông Sứ đang ở bao gồm: ông Sứ và vợ chồng anh Tuấn và việc vợ chồng anh Tuấn làm thủ tục tách thửa và đứng tên là do ông Sứ cho phép, ở đây đề bài không nêu rõ là sau khi vợ chồng anh Tuấn ly hôn thì ông Sứ vẫn giữ quyết định là cho vợ chồng anh Tuấn hay ông không cho phép nữa, nên ta có thể chia làm hai trường hợp

+ Trường hợp 1: Nếu ông Sứ vẫn cho phép vợ chồng anh Tuấn làm thủ tục tách thửa mảnh đất 50m2, thì tòa án quyết định như vậy là Sai

Theo Khoản 1 Điều 106 LĐĐ năm 2003:

“1.Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản

2 Điều 110; khoản 2 và khoản 3 Điều 112; các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 113; khoản 2 Điều 115; điểm b khoản 1, các điểm b, c, d, đ và e khoản 3 Điều 119; điểm b khoản 1, điểm b và điểm c khoản 2 Điều 120 của Luật này khi có các điều kiện sau đây:

a Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

b Đất không có tranh chấp;

c Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành ánch;

Trang 7

d Trong thời hạn sử dụng đất”.

Căn cứ theo Luật hôn nhân và gia đình 2000 quy định rằng: “Tài sản mà vợ

chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng”

Cơ sở pháp lý để xác định được chung hoặc tặng cho riêng là theo điều 465

Bộ Luật Dân Sự 2005: “ Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa

các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận” và căn cứ theo điều 722 của Bộ luật Dân Sự 2005: “ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là sự thảo thuận giữa các bên theo đó bên tặng cho giao quyền sử dụng đất cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận theo quy đinh của Bộ luật này

và pháp luật về đất đai.”

Căn cứ vào điều luật trên thấy rằng mảnh đất ông Sứ cho 2 vợ chồng anh Tuấn, chị Phi là hợp đồng tặng cho, căn cứ để xác định việc ông Sứ tặng cho

2 vợ chồng là thủ tục tách thửa và đứng tên mảnh đất 50m2 mà anh Tuấn-chị Phi đang làm Và ông Sứ cho hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nên đây là tài sản chung của hai vợ chồng căn cứ vào khoản 1 điều 27 Luật hôn

nhân và gia đình : "Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ chồng tạo

ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung” Và theo quy định tại điều 219 của Bộ

luật dân sự năm 2005 về Sở hữu chung của vợ chồng:

1 Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung nhất.

2 Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sưc của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

3 Vợ chồng cùng bàn bạc, thảo thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

Trang 8

4 Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc quyết định của Tòa án.

Cũng như theo điều 27 Luật Hôn Nhân có thể thấy tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia Về nguyên tắc chia tài sản chung khi ly hôn Điều 95 quy định:

1 Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thoả

thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.

2 Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:

3 Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

b Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

c Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch

Vậy sau khi ly hôn thì do đây là tài sản chung nên buộc phải chia đôi giữa hai vợ chồng với mảnh đất 50m2 này và chị Phi có căn cứ pháp lý để chứng minh được mảnh đất đó là tài sản chung và được tặng cho đó là việc hai vợ chồng đang làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Dù hồ sơ mới được nộp lên cơ quan có thẩm quyền và dù chưa được cấp giấy chứng nhận quyền

Trang 9

sử dụng đất cũng phải coi đây là tài sản chung mà ông Sứ tặng cho vợ chồng Anh Tuấn, chị Phi có quyền được chia tài sản ở mảnh đất này theo quy định của pháp luật

+ Trường hợp 2: Nếu ông Sứ đổi ý không cho phép vợ chồng anh Tuấn

làm thủ tục tách thửa và đứng tên mảnh đất 50m2 sau khi ly hôn, thì tòa án quyết định dừng thủ tục tách thửa 50m2 trên và công nhận quyền sử dụng

đất hợp pháp lô đất trên thuộc về ông Sứ là Đúng.

Trong trường hợp này nếu ông Sứ đổi ý không cho phép vợ chồng anh Tuấn làm thủ tục tách thửa và đứng tên mảnh đất 50m2 nữa thì những điều kiện quy định trong Khoản 1 Điều 106 LĐĐ sẽ là không có căn cứ nữa Và đương nhiên hoạt động mà vợ chồng anh Tuấn đang làm sẽ bắt buộc phải dừng lại, và cũng chứng minh cho đây không phải là tài sản chung của vợ chồng anh mà quyền sử dụng đất hợp pháp các lô đất trên thuộc về ông Sứ Như vậy, sau khi vợ chồng anh Tuấn ly hôn thì thủ tục tách thửa 50m2 phải được dừng lại

Vậy với trường hợp mảnh đất 50m2 này thì việc Tòa Án Nhân Dân quận Thanh Vân cho dừng thủ tục tách thửa đất 50m2 và công nhận quyền sử

dụng đất hợp pháp lô đất trên thuộc về ông Sứ là Đúng.

Như vậy, về bản án sơ thẩm của quận Thanh Vân với vụ việc trên thì

Tòa án bác yêu cẩu của chị Phi về việc chia tài sản là quyền sử dụng lô đất

100m2, công nhận quyền sử dụng lô đất thuộc về ông Sứ là Đúng Còn việc

Tòa án cho dừng thủ tục tách thửa 50m2 trên và công nhận quyền sử dụng

đất hợp pháp lô đất này thuộc về ông Sứ có thể là Sai.

C KẾT LUẬN.

Từ những lập luận phân tích và lý giải như trên, tuy còn nhiều điểm thiếu sót nhưng em hi vọng bài làm của mình sẽ góp phần tạo thêm nhiều cách nhìn hơn nữa về vấn đề tranh chấp đất đai khi ly hôn

Trang 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.

1 Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luật Đất Đai: NXB Tư Pháp Hà Nội - 2005;

2 Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình: NXB Công An Nhân Dân; 2009;

3 Tăng Xuân Thu; “Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai”; khóa luận tốt nghiệp; Hà Nội – 2004;

4 Luật đất đai và một số văn bản hướng dẫn thi hành; nxb Đại học kinh tế quốc dân; Hà Nội – 2007;

5 Luật đất đai;nxb lao động; Hà Nội – 2012;

6 Bộ Luật dân sự; nxb lao động; Hà Nội – 2013;

7 Luật hôn nhân và gia đình; nxb lao động; Hà Nội – 2012;

Ngày đăng: 21/03/2019, 10:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w