1. Trang chủ
  2. » Ngoại Ngữ

BCSK: Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán có lời văn

23 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 48,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vĩnh Phúc, năm 2017.. Trong xu thế hội nhập của nước ta và chương trình giáo dục Tiểu học hiện nay, Toán học là một môn khoa học nghiên cứu một số mặt của thế giới hiện thực, là một tron[r]

Trang 1

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Tên sáng kiến: Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán có lời văn

Vĩnh Phúc, năm 2017

Trang 2

Trong xu thế hội nhập của nước ta và chương trình giáo dục Tiểu học hiệnnay, Toán học là một môn khoa học nghiên cứu một số mặt của thế giới hiện thực,

là một trong những môn học mà chúng ta đều quan tâm Nó góp phần rất quantrọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phươngpháp giải quyết vấn đề có căn cứ khoa học Phát triển trí thông minh, các suy nghĩđộc lập, linh hoạt, sáng tạo của học sinh Đồng thời Toán học cũng góp phần vàoviệc hình thành các phẩm chất cần thiết cho con người như: Cần cù, cẩn thận, ýthức vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nề nếp và tác phong khoa học Đặcbiệt, Toán học là công cụ cần thiết cho việc học tập các môn học khác

Trong môn toán, việc giải các bài toán có lời văn có vị trí quyết định, nhằmgiúp học sinh biết vận dụng những kiến thức về toán, được rèn luyện kỹ năng thựchành với những yêu cầu được thể hiện một cách đa dạng, phong phú Giải toán cólời văn là một hoạt động bao gồm những thao tác: xác lập được mối quan hệ giữacác dữ liệu; giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện của bài toán Học sinhphải biết chọn được phép tính thích hợp, trả lời đúng câu hỏi của bài toán Việcgiải toán có lời văn là sự vận dụng có tính chất tổng hợp các kiến thức, kĩ năng,phương pháp về toán tiểu học với kiến thức cuộc sống

Qua thực tế giảng dạy ở các khối lớp, đặc biệt nhiều năm đứng lớp ở khối 3,tôi thấy: Toán có lời văn có vị trí rất quan trọng trong chương trình Toán ở trườngtiểu học Các em được làm quen với toán có lời văn ngay từ lớp 1, đặc biệt ở học kì

II lớp 1 các em đó viết lời giải cho phép tính… Vì vậy đây cũng là một vấn đề màchúng tôi luôn luôn trao đổi, thảo luận trong những buổi sinh hoạt chuyên môn,tích luỹ nghiệp vụ do nhà trường tổ chức Làm thế nào để học sinh hiểu được đềtoán, viết được tóm tắt, nêu được câu lời giải hay, phép tính đúng Nhất là trongviệc dạy học theo mô hình trường tiểu học mới học sinh làm bài một cách độc lậptheo từng cá nhân rồi trao đổi nhóm Điều đó đòi hỏi rất nhiều công sức và sự nỗlực không biết mệt mỏi của người giáo viên đứng lớp

Thực tế trong một tiết luyện tập ở môn Toán, với dạng toán có lời văn tronghọc kì I số học sinh nêu câu trả lời không được nhiều và các em chưa thành thạokhi đọc đề toán theo kiểu dạy học trường tiểu học mới các em phải tự nghiên cứu

Trang 3

nên đó cũng là lí do mà các em chưa có kĩ năng làm bài tập với dạng toán có lờivăn Mặt khác, các em học sinh muốn học tốt thì trước hết phải tập trung học tập,phải suy nghĩ kĩ và đọc đề toán nhiều lần Tuy nhiên trong thực tế ý thức học tập ởhọc sinh lớp 3 còn chưa cao, đặc điểm tâm sinh lý chưa ổn định, còn ham chơi.Việc dạy học theo mô hình trường tiểu học mới học sinh ppần lớn ngồi học theonhóm nên các em dễ quay cóp khi làm bài từ đó sinh tính ỷ lại không chịu tậptrung suy nghĩ Những bài toán có lời văn ở lớp 3 là những bài toán thực tế, nộidung bài toán thông qua những câu nói về những quan hệ tương đương và phụthuộc, có liên quan đến cuộc sống hằng ngày Cái khó ở đây là làm thế nào để lược

bỏ những yếu tố về lời văn đã che đậy bản chất toán học của bài toán Hay nói mộtcách khác làm sao phải chỉ ra được các mối quan hệ giữa các yếu tố toán học chứađựng trong đề bài toán và tìm ra được những câu lời giải, phép tính thích hợp để từ

đó tìm được đáp số của bài toán

Từ thực trạng trên, bản thân tôi luôn trăn trở, mình cần phải làm gì để giúphọc sinh lớp 3 học theo mô hình trường tiểu học mới nắm và có kĩ năng giải đượccác dạng toán có lời văn đồng thời khi làm bài các em mạnh dạn và tự tin khôngcần sự hỗ trợ của các nhóm trưởng hay của cô giáo Chính vì điều đó nên ở mọinơi, mọi lúc tôi luôn tìm tòi, học hỏi để áp dụng một số biện pháp, một số kinhnghiệm vào trong giảng dạy giải toán có lời văn đối với học sinh lớp 3 Với kinhnghiệm đúc kết được sau nhiều năm công tác và với những thuận lợi, khó khăn,những yêu cầu cấp bách như trên khiến tôi mạnh dạn đưa ra kinh nghiệm về: ''Một

số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán có lời văn", nhằm góp phần nâng caochất lượng học tập của học sinh lớp 3C nói riêng và chất lượng học tập khối 3 củanhà trường theo mô hình trường tiểu học mới nói chung

Trong quá trình thực hiện sáng kiến kinh nghiệm, mong muốn hiệu quả thu được sẽ cao nhưng do kiến thức, phương pháp áp dụng còn nhiều hạn chế nên cần được góp ý, bổ sung Tôi luôn mong nhận được sự đóng góp ý kiến để sángkiến này đầy đủ, hoàn thiện hơn và được áp dụng trong phạm vi rộng hơn

2 Tên sáng kiến: Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán có lời văn.

3 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Vũ Thị Thu Hà

Trang 4

4 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến

Sáng kiến được áp dụng trong giảng dạy Toán có lời văn cho học sinh lớp3C và áp dụng rộng rãi đối với học sinh khối 3 trong nhà trường, đồng thời có thểđược áp dụng để bồi dưỡng cho học sinh năng khiếu

5 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử

Sáng kiến bắt đầu được áp dụng thử ngày 1 tháng 10 năm 2016

6 Mô tả bản chất của sáng kiến

6.1 Nội dung của sáng kiến

Để đánh giá việc dạy học sinh lớp 3 các dạng bài toán có lời văn, trước khi

áp dụng sáng kiến tôi cho học sinh làm bài khảo sát Tôi chọn học sinh khối 3 củatrường Tiểu học Hướng Đạo cụ thể là lớp 3A, 3B, 3C, 3D để khảo sát

Đề kiểm tra có nội dung như sau:

Kết quả điều traHoàn thành Chưa hoàn thành

Trang 5

Học sinh tiếp cận với toán có lời văn còn bỡ ngỡ, gặp nhiều khó khăn Các

em chưa nắm được phương pháp giải theo từng dạng bài khác nhau

Việc tóm tắt, tìm hiểu đề đang còn nhiều khó khăn đối với một số học sinh nhận thức chậm của lớp 3 Vì kĩ năng đọc thành thạo của các em chưa cao, nên các

em đọc được đề toán và hiểu đề còn thụ động, chậm chạp…

Học sinh chưa khắc sâu được những kiến thức cơ bản của bài toán và chưa

có được kĩ năng phân tích, nhận dạng khi gặp các bài toán khác nhau Trong quá trình giải toán học sinh còn nhầm lẫn giữa việc xác lập mối quan hệ giữa các dữ liệu; giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện của bài toán Học sinh còn lúng túng khi chọn phép tính thích hợp, trả lời chưa rõ ràng câu hỏi của bài toán

Học sinh trình bày lời giải bài toán không chặt chẽ, thiếu lôgic

Thực tế trong một tiết dạy 35 đến 40 phút, thời gian dạy kiến thức mới mất nhiều – phần bài tập hầu hết là ở cuối bài nên thời gian để luyện nêu đề, nêu câu trảlời không được nhiều mà học sinh chỉ thành thạo việc đọc đề toán

Từ những lý do về mặt lý luận và thực tiễn, trên cơ sở phân tích thực trạngviệc giải toán có lời văn của học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 học theo

mô hình trường tiểu học mới nói riêng, tôi thấy cần thiết thực hiện biện pháp củamình với các nội dung cụ thể như sau:

6.1.1 Nắm bắt nội dung chương trình và phương pháp dạy học

Người giáo viên muốn dạy tốt phải nắm chắc nội dung chương trình và đặctrưng của môn Toán lớp 3; chuấn bị tốt các phương tiện, các đồ dùng cần thiết chotiết học Luôn chọn cho mình phương pháp dạy phù hợp nhất cho từng dạng toán,bài toán Bên cạnh đó, người giáo viên phải nắm vững phương pháp dạy học mớitheo mô hình trường tiểu học mới

Để giúp học sinh có kĩ năng trong việc giải toán có lời văn, giáo viên khôngnhững hướng dẫn các em trong giờ học toán khi các em yêu cầu cứu trợ mà cònluyện cho các em kĩ năng nói trong các tiết học ở môn Tiếng Việt

Chúng ta đã biết các em còn nhỏ, còn rụt rè chưa tự tin trong giao tiếp Chính

vì vậy khi dạy học theo mô hình trường tiểu học mới các em được hoà đồng, học hỏicùng bạn bè và mạnh dạn đưa thẻ cứu trợ khi làm bài chưa được Giáo viên gần gũi

Trang 6

với học sinh, khuyến khích các em trong giao tiếp, tổ chức các trò chơi để các emluyện nói giúp các em có vốn từ lưu thông Bên cạnh đó, người giáo viên phải chú ýnhiều đến kĩ năng đọc và phần tìm hiểu bài của phân môn Tiếng Việt để từ đó các

em có kĩ năng phán đoán yêu cầu cơ bản mà bài tập Toán đề ra

6.1.2 Biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán có lời văn

6.1.2.1 Đối với bài hình thành kiến thức mới

Giúp học sinh nắm được trình tự của việc giải một bài toán có lời văn:

a) Đọc đề, tìm hiểu kĩ đề bài toán

Đây là một bước rất quan trọng, giáo viên cần nhắc nhở cho học sinh đọc kĩ

đề, đọc nhiều lần (đọc thầm trong nhóm) để nắm bắt được các dữ kiện của bài toán,nếu đọc qua loa sẽ hiểu nhầm, hiểu sai về mối quan hệ giữa các dữ kiện của bài toán và gây khó khăn cho bước tiếp theo, để hiểu rõ đề toán cho biết gì? Như đã cho biết điều kiện gì? Bài toán hỏi cái gì? Bài toán thuộc dạng nào? Khi đọc bài toán phải hiểu thật kĩ một số từ, thuật ngữ quan trọng, chẳng hạn: “kém 2 lần”,

“hơn 2 đơn vị”, “gấp 3 lần”, “ bằng một phần ba” chỉ rõ tình huống Toán học được diễn đạt theo ngôn ngữ thông thường

Trong lớp giáo viên phải quan sát, nếu có một nhóm giơ thẻ cứu trợ thì tađến nhóm đó để hướng dẫn Trường hợp nếu có nhiều nhóm cùng đưa thẻ cứu trợthì giáo viên nên cho các em cùng quay mặt lên bảng để giáo viên hướng dẫn

* Bài toán 1: Có 35l mật ong đựng đều vào 7 can.

a) Hỏi mỗi can đựng bao nhiêu lít mật ong?

b) Hỏi 5 can như thế đựng bao nhiêu lít mật ong?

(Trang 67 Hướng dẫn học Toán 3- Tập 2A)Học sinh đọc đề, tìm hiểu đề bài Sau đó học sinh có thể nêu được (có thểcho các em tự hỏi đáp nhau)

- Bài toán cho biết gì? (Có 35l mật ong đựng đều vào 7 can).

- Bài toán hỏi gì? (a) Mỗi can đựng bao nhiêu lít mật ong?

b) Hỏi 5 can như thế đựng bao nhiêu lít mật ong?)

- Muốn biết mỗi can đựng bao nhiêu lít mật ong ta làm như thế nào? (Lấy số

lít mật ong chia cho số can 35: 7 = 5l)

Trang 7

- Muốn biết 5 can như thế đựng bao nhiêu lít mật ong ta làm như thế nào?

(Lấy số lít mật ong trong mỗi can nhân với số can 5 x 5 = 25l)

* Bài toán 2: Anh có 15 tấm bưu ảnh, em có ít hơn anh 7 tấm bưu ảnh Hỏi hai anh em có tất cả bao nhiêu tấm bưu ảnh?

Ta có thể dùng phương pháp phân tích để hướng dẫn học sinh suy luận như :

- Bài toán hỏi gì? (Hai anh em có tất cả bao nhiêu tấm bưu ảnh)

- Muốn biết hai anh em có tất cả bao nhiêu tấm bưu ảnh ta làm như thế nào?

(Lấy số bưu ảnh của anh cộng với số bưu ảnh của em)

- Số bưu ảnh của anh biết chưa? (Biết rồi)

- Số bưu ảnh của em biết chưa? (Chưa biết)

- Muốn tìm số bưu ảnh của em ta làm thế nào? (Lấy số bưu ảnh của anh trừ đi 7)b) Tóm tắt đề toán

Ở những dạng toán học sinh mới gặp lần đầu học sinh đọc tóm tắt dưới đềbài toán đã cho; giáo viên có thể cùng học sinh tóm tắt hoặc gợi ý, hướng dẫn họcsinh thảo luận điền số liệu vào tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng đã cho ở dạng bài:Giải bài toán bằng hai phép tính; Bài toán liên quan đến rút về đơn vị Đây là dạngdiễn đạt ngắn gọn đề toán, tóm tắt đúng sẽ giúp cho học sinh có cách giải dễ dànghơn, thuận lợi hơn Nhìn vào tóm tắt là định ra các bước giải bài toán

Sau khi tóm tắt xong giáo viên cho học sinh nhắc lại ngắn gọn đề toán

(bằng tóm tắt) mà không cần nhắc lại nguyên văn

* Bài toán 1:

Trang 8

Học sinh tự suy luận từ câu hỏi bài toán đến dữ kiện đã cho để tìm lời giảicủa bài toán sau đó nêu và viết lời giải ra nháp.

* Bài toán 1:

- Số lít mật ong trong mỗi can là:/Mỗi can đựng được số lít mật ong là:/…

- 5 can đựng được số lít mật ong là:/Số lít mật ong đựng trong 5 can là:/…

* Bài toán 2:

- Số bưu ảnh của em là:/ Em có số bưu ảnh là:/…

Trang 9

- Tất cả số bưu ảnh của hai anh em là:/ Hai anh em có tất cả số bưu ảnh là:/

Hai bài toán này gải có hai phép tính nhưng có thể có nhiều lời giải khácnhau mà vẫn phù hợp Việc cho học sinh tự tìm nhiều lời giải khác nhau có tácdụng lớn trong việc gây hứng thú cho học sinh, thúc đẩy sự tìm tòi, sáng tạo và rènluyện óc suy nghĩ linh hoạt, độc lập

* Bài toán 1: Từ đề bài đã nêu ở trên học sinh có thể viết phép tính: 35 : 5 = 7 (l),

Không thể viết 35 : 5 = 6 (l) hoặc 35 : 5 = 7 (can) là không đúng.

e) Ghi đúng đáp số:

Có những trường hợp học sinh ghi đáp số chưa đúng như còn ghi danh sốtrong dấu ngoặc đơn mà không ghi cụ thể danh số của bài toán, không biết ghi hếtnhững nội dung bài toán yêu cầu

* Bài toán 1:

Bài giảia) Số lít mật ong trong mỗi can là:

35: 5 = 7 (l)

b) Số lít mật ong đựng trong 5 can là:

5 x 5 = 25(l) Đáp số: a) 7l mật ong

Trang 10

b) 25l mật ong

* Bài toán 2: Cần hướng dẫn cho các em biết viết lời giải và trình bày bài giải một cách khoa học rõ ràng, chính xác và đầy đủ theo phương pháp tổng hợp, ngược với phương pháp phân tích để tìm lời giải Chẳng hạn, đối với bài toán này,

từ sơ đồ ta có thể đi ngược từ dưới lên để trình bày bài giải như sau:

Bài giải:

Số bưu ảnh của em là:

15 - 7 = 8 (tấm) Tất cả số bưu ảnh của hai anh em là:

15 + 8 = 23 (tấm)

Đáp số: 23 tấm bưu ảnh

g) Kiểm tra lại bài làm (lời giải và kiểm tra kết quả)

Việc giúp cho học sinh có thói quen tự kiểm tra lại kết quả của bài toán đã tìm ra là một việc rất quan trọng, vì nó giáo dục các em đức tính cẩn thận, chu đáo,

ý thức trách nhiệm với công việc mình làm

Có thể dùng các hình thức kiểm tra sau:

ngược này đúng bằng số đã cho coi là chưa biết ấy thì bài toán đã được giải đúng

* Bài toán 2: Xét tính hợp lí của bài toán trên là:

- Anh có 15 tấm bưu ảnh, em có 8 tấm bưu ảnh Vậy số bưu ảnh của em ít hơn của anh là:

15 - 8 = 7 (tấm)

- Cả hai anh em có 23 tấm bưu ảnh mà anh có 15 tấm bưu ảnh, vậy em có sốtấm bưu ảnh là:

Trang 11

23 - 15 = 8 (tấm)

- Kết luận: Vậy bài toán giải đúng

Khi giải xong từng thành viên báo cáo nhóm trưởng, trình bày bài giải củamình trước nhóm, cả nhóm nghe trao đổi bổ sung cho nhau tạo sự hỗ trợ, giúp đỡlẫn nhau giữa các đối tượng học sinh trong nhóm, học sinh trong nhóm trao đổi ýkiến về cách làm bài hoặc giải bài toán thống nhất ý kiến cả nhóm (học sinh tự suynghĩ hoặc thảo luận nhóm để tìm ra hướng giải quyết bài toán, lựa chọn cách giảihay nhất, phù hợp nhất) rồi nhóm trưởng mới giơ thẻ báo cáo hoàn thành báo cáovới giáo viên

Giáo viên đến kiểm tra các nhóm và nhắc nhở học sinh khi viết vào vở từnghọc sinh ở trong nhóm phải viết chữ và số trong phép tính rõ ràng Trình bày bàigiải toán có lời văn đúng, đẹp Diễn đạt lời văn phải chính xác, cụ thể Tạo cho họcsinh tính mạnh dạn để trao đổi ý kiến trong nhóm hoặc toàn lớp vì sự hỗ trợ giữacác học sinh trong nhóm, lớp, góp phần làm các em mạnh dạn, tự tin hơn vào khảnăng của bản thân, tự rút kinh nghiệm về cách học của mình

Việc giải các bài toán bằng nhiều cách giải khác nhau có tác dụng lớn trongviệc xây dựng hứng thú, thúc đẩy các em cố gắng tìm tòi, sáng tạo, rèn luyện ócsuy nghĩ linh hoạt, độc lập, có phê phán và tinh thần cải tiến trong giải toán có lờivăn cho học sinh

6.1.2.2 Đối với bài luyện tập thực hành

Mỗi học sinh phải độc lập suy nghĩ, làm việc tích cực Có thói quen tự giác,chủ động khi làm bài, không chép bài bạn, không giơ thẻ cứu trợ khi chưa suy nghĩ

và chưa đọc kĩ đề toán Học sinh biết huy động các kiến thức của mình tham giatích cực vào việc giải quyết nội dung, yêu cầu bài toán

a) Tìm hiểu kỹ đề bài toán

Là một công việc có ý nghĩa hết sức quan trọng, các em có đọc kĩ đề mớinắm bắt được các dữ kiện của bài toán, nếu đọc qua loa sẽ hiểu nhầm, hiểu sai vềmối quan hệ giữa các dữ kiện của bài toán và gây khó khăn cho bước tiếp theo Ởbước này tôi luôn gọi những em giải toán chưa tốt đọc đề bài nhiều lần và nhấn

Ngày đăng: 08/04/2021, 15:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w