1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu về hình thức của hợp đồng dân sự

21 87 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 127 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau khi hợp đồng giao kết và có hiệu lực nhưng để thực hiện hợpđồng phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của mỗi bên thì các bên vẫn có thể thỏa thuận để sửa đổi hợp đồng, trừ trường

Trang 1

M c l c ục lục ục lục

I MỞ ĐẦU 1

II NỘI DUNG 1

1 Lý luận chung về hợp đồng dân sự 1

2 Đánh giá những quy định của pháp luật về hình thức của hợp đồng dân sự 3 2.1 Khái niệm hình thức của hợp đồng dân sự 3 2.2 Các hình thức của hợp đồng dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự 4 2.3 Nhận xét các quy định pháp luật hiện hành về hình thức hợp đồng 10

3 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định hiện hành về hình thức hợp đồng 17

III KẾT LUẬN 18

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 2

Hình thức là một yếu tố pháp lý quan trọng của hợp đồng, có tác độngtới nội dung, giá trị hiệu lực, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, và làphương tiện để diễn đạt ý chí của các bên, cũng như để chứng minh sự tồn tạicủa hợp đồng Người ta sẽ không biết đến sự tồn tại của hợp đồng, nếu nókhông được thể hiện dưới một hình thức xác định Chính vì vai trò quan trọngnhư vậy, nên hình thức của hợp đồng dân sự được quan tâm khi gia kết một

số loại hợp đồng dân sự Bộ luật dân sự 2005 quy định về hợp đồng dân sựnhư thế nào, những quy định đó có tác động, ý nghĩa ra sao, có những hạnchế gì đây là vấn đề được nhiều người tìm hiểu

Chính vì vậy, bài viết này hi vọng làm sáng tỏ vấn đề “Đánh giá quyđịnh của Bộ luật Dân sự năm 2005 về hình thức của hợp đồng dân sự”

1 Lý luận chung về hợp đồng dân sự.

Để tồn tại và phát triển mỗi cá nhân cũng như mỗi tổ chức phải thamgia nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau Trong đó, việc các bên thiết lập vớinhau những quan hệ, để qua đó, chuyển giao cho nhau các lợi ích nhằm đápứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng đóng một vai trò quan trọng , là một tất yếuđối với mọi đời sống xã hội Chỉ khi nào có sự thể hiện và thống nhất ý chígiữa các bên thì quan hệ trao đổi lợi ích mới hình thành Quan hệ đó được gọi

là hợp đồng dân sự Cơ sở đầu tiên để hình thành một hợp đồng dân sự là sựthỏa thuận bằng ý chí tự nguyện của các bên Tuy nhiên hợp đồng chỉ có hiệulực khi ý chí của các bên phù hợp với ý chí của nhà nước Khi ý chí của cácbên phù hợp với ý chí của nhà nước thì hợp đồng dân sự có hiệu lực phápluật Trên phương diện khách quan, thì hợp đồng dân sự do các quy phạmpháp luật của nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hôi phátsinh trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể vớinhau Trên phương diện chủ quan, hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự,trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận nhằm

Trang 3

cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định Theo Điều

388 Bộ luật dân sự 2005 thì : “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên

về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”

Hợp đồng dân sự trước hết phải là một thỏa thuận Thỏa thuận là đi tới

sự đồng ý sau khi cân nhắc, thảo luận Yếu tố thỏa thuận đã bao hàm trong

nó yếu tố tự nguyện, tự định đoạt, và thống nhất về mặt ý chí Đây là yếu tốquan trọng nhất tạo nên sự đặc trưng của hợp đồng so với các giao dịch dân

sự khác Về chủ thể tham gia hợp đồng dân sự, phải có ít nhất hai chủ thểtham gia giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự, vì hợp đồng dân sự là giaodịch pháp lý đa phương Các chủ thể khi giao kết, thực hiện hợp đồng đềuphải có tư cách chủ thể, tức là phải đáp ứng các điều kiện của pháp luật đốivới một chủ thể của quan hệ dân sự Ví dụ như nếu chủ thể là cá nhân thì phảiđáp ứng các yêu cầu về năng lực pháp luật, năng lực hành vi Mục đíchhướng tới cảu các bên khi tham gia vào hợp đồng dân sự là để xác lập, thayđổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự

Về nguyên tắc, hợp đồng dân sự có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết,nhưng thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự còn được xác lập theo thỏathuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật Nội dung của hợp đồngdân sự có ba loại, đó là điều khoản cơ bản, điều khoản thông thường và điềukhoản tùy nghi Hợp đồng dân sự rất đa dạng, nếu dựa vào những dấu hiệuđặc trưng có thể phân chúng thành các nhóm khác nhau Ví dụ như nếu căn

cứ vào hình thức của hợp đồng thì hợp đồng dân sự được phân thành hợpđồng miệng, hợp đồng văn bản, hợp đồng có công chứng Nếu căn cứ vàomối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên thì hợp đồng dân sựphân thành hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ Nếu căn cứ vào tính chất

có đi có lại về lợi ích của các chủ thể, hợp đồng dân sự phân thành hai loại làhợp đồng dân sự có đền bù và hợp đồng dân sự không có đền bù Khi giaokết hợp đồng dân sự các chủ thể phải tuân thủ hai nguyên tắc đó là nguyên

Trang 4

tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội

và nguyên tắc các bên tự nguyện và bình đẳng trong giao kết hợp đồng Trình

tự giao kết hợp đồng thông qua hai giai đoạn là đề nghị giao kết hợp đồng vàchấp nhận giao kết hợp đồng Sau khi các bên giao kết hợp đồng, hợp đồngdân sự có hiệu lực bắt buộc với các bên, kể từ thời điểm đó các chủ thể bắtđầu có quyền và nghĩa vụ đối với nhau, các bên lần lượt tiến hành hành vimang tính nghĩa vụ đúng với nội dung của hợp đồng Việc thực hiện nghĩa vụdân sự các bên cần tuân thủ những nguyên tắc quy định tại Điều 412, Bộ luậtdân sự Sau khi hợp đồng giao kết và có hiệu lực nhưng để thực hiện hợpđồng phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của mỗi bên thì các bên vẫn

có thể thỏa thuận để sửa đổi hợp đồng, trừ trường hợp pháp luật có quy địnhkhác.Với các trường hợp quy định tại Điều 424 thì hợp đồng dân sự sẽ chấmdứt

2 Đánh giá những quy định của pháp luật về hình thức của hợp đồng dân sự.

2.1 Khái niệm hình thức của hợp đồng dân sự.

Những điều khoản mà các bên đã cam kết thỏa thuận phải được thểhiện ra bên ngoài bằng một hình thức nhất định Hay nói theo một cách khác,hình thức của hợp đồng là phương tiện để ghi nhận nội dung mà các chủ thể

đã xác định Theo nghĩa thông thường, hình thức được hiểu là “cái bên ngoài,cái chứa đựng nội dung” Nhìn từ góc độ chức năng và vai trò của yếu tố hìnhthức đối với sự tồn tại của hợp đồng, ta thấy hình thức hợp đồng là sự công

bố ý chí của các bên tham gia hợp đồng, là cách thức để truyền đạt thông tingiữa các bên tham gia hợp đồng cũng như với người thứ ba về sự xác lập vàtồn tại của hợp đồng đó Hình thức của hợp đồng cũng là phương tiện thểhiện nội dung cụ thể của hợp đồng Theo nghĩa đó, hình thức hợp đồng baogồm cả thể thức (cách thức thể hiện) của hợp đồng và thủ tục tạo lập hợpđồng Thể thức của hợp đồng là cách thức, phương tiện thể hiện nội dung của

Trang 5

hợp đồng dưới dạng vật chất khách quan nhất định Hợp đồng có thể được thểhiện bằng các thể thức như lời nói, văn bản, hành vi cụ thể Còn thủ tục là thủthuật, cách thức tiến hành tạo lập hợp đồng theo một trình tự, yêu cầu nhấtđịnh Ví dụ: Hợp đồng bằng văn bản có thể được tạo lập bằng các thủ tục nhưvăn bản không có người làm chứng, văn bản có người làm chứng, hoặc vănbản được lập theo thủ tục công chứng, chứng thực, đăng ký hoặc xin phép.Như vậy, hình thức hợp đồng không chỉ là các thể thức tồn tại của hợp đồng

mà còn bao gồm cả các thủ tục để tạo lập hợp đồng Tóm lại, hình thức hợpđồng là sự biểu hiện ra bên ngoài của nội dung hợp đồng, gồm tổng hợp cáccách thức, thủ tục, phương tiện để thể hiện và công bố ý chí của các bên, ghinhận nội dung hợp đồng và là biểu hiện cho sự tồn tại của hợp đồng

2.2 Các hình thức của hợp đồng dân sự theo quy định của Bộ luật

dân sự.

Khi giao kết hợp đồng dân sự, tùy thuộc vào tính chất, nội dung củahợp đồng cũng như tùy thuộc vào mức độ tin tưởng lẫn nhau mà các bên cóthể lựa chọn một hình thức nhất định phù hợp với từng trường hợp cụ thể TạiĐiều 401 Bộ luật dân sự có quy định về hình thức của hợp đồng dân sự nhưsau:

“1 Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặcbằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phảiđược giao kết bằng một hình thức nhất định

2 Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằngvăn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phảituân theo các quy định đó

Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừtrường hợp pháp luật có quy định khác.”

Trang 6

Như vậy, hình thức của hợp đồng dân sự tương đối đa dạng, tạo điềukiện cho các chủ thể kí kết thuận tiện Đối với những dân sự mà pháp luật đãquy định buộc phải giao kết theo một hình thức nhất định thì các bên phảigiao kết hợp đồng theo hình thức đó.

2.2.1 Hình thức miệng ( bằng lời nói)

Hình thức miệng được coi là hình thức phổ biến nhất trong xã hội hiệnnay, mặc dù hình thức này có độ xác thực thấp nhất Hình thức này thườngđược áp dụng đối với các hợp đồng được thực hiện ngay và chấm dứt ngaysau đó (mua bán trao tay) hoặc được xác lâp giữa các chủ thể có quan hệ mậtthiết Với hình thức này các bên giao kết hợp đồng cần thỏa thuận miệng vớinhau về nội dung cơ bản của hợp đồng hoặc mặc nhiên thực hiện những hành

vi nhất định với nhau Với hình thức giao kết hợp đồng bằng lời nói các bêngiao kết hợp đồng trao đổi với nhau bằng lời nói, trực tiếp hoặc thông quađiện thoại, điện đàm, gửi thông điệp điện tử bằng âm thanh (tiếng nói)… đểdiễn đạt tư tưởng và ý muốn của mình trong việc xác lập, giao kết hợp đồng.Trừ những loại hợp đồng pháp luật quy định hình thức bắt buộc, các hợpđồng đều có thể được lập bằng lời nói Tuy vậy, để tránh trường hợp các bênliên quan phủ nhận sự tồn tại của hợp đồng, chỉ nên sử dụng hình thức hợpđồng bằng lời nói để giao kết các hợp đồng có giá trị không lớn, với nhữngngười thân quen có sự tin cậy lẫn nhau, hoặc những hợp đồng được thực hiện

và chấm dứt ngay lập tức Thực tiễn pháp lý cho thấy, do việc giao kết hợpđồng bằng lời nói có ưu điểm là cách thức giao kết đơn giản, gọn nhẹ, nhanhchóng và ít tốn kém nên được sử dụng rất phổ biến trong giao dịch dân sự,nhưng ít được sử dụng hơn trong giao dịch thương mại Cũng vì sự tiện lợicủa cách thức giao kết này mà trên thực tế, có nhiều hợp đồng đáng lẽ phảiđược lập bằng văn bản hoặc bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực(chẳng hạn như hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng thuê bất động sản), nhưng

Trang 7

để giản tiện, các bên cũng thường lập dưới hình thức lời nói, nên đã dẫn đếnnhững tranh chấp rất khó giải quyết Điều đó cũng nói lên nhược điểm củaloại hình thức này là không bảo đảm sự an toàn pháp lý cho các bên, giá trịchứng minh không cao và dễ dẫn đến tình trạng phủ nhận của các bên về sựtồn tại của hợp đồng nếu các bên không còn bằng chứng khác để chứng minh

Văn bản là hình thức ngôn ngữ viết, được trình bày trên một chất liệuhữu hình nhằm thể hiện một nội dung xác định mà người ta có thể đọc, lưugiữ và bảo đảm được sự toàn vẹn nội dung đó Khác với hợp đồng bằng lờinói vốn không để lại bằng chứng , thì hợp đồng bằng văn bản đảm bảo sự thểhiện rõ ràng ý chí các bên cũng như nội dung của từng điều khoản hợp đồng

mà các bên muốn cam kết Các hợp đồng quan trọng, hoặc có giá trị lớn, hoặc

có nội dung phức tạp, hoặc có thời hạn thực hiện lâu dài… thì thường đượccác bên chọn cách thể hiện bằng văn bản

Theo quy định của Bộ luật dân sự thì các hợp đồng bắt buộc phải lậpthành văn bản như: hợp đồng mua bán tài sản thông qua đấu giá (Khoản 3,

Trang 8

Điều 458); thuê nhà dưới 6 tháng ( Điều 492); hợp đồng bảo hiểm ( Điều570) ; hợp đồng cầm cố tài sản (Điều 327); hợp đồng thế chấp tài sản (Điều343), hợp đồng đặt cọc (Khoản 1 Điều 358); hợp đồng bảo lãnh (Điều 362)…

Qua nội dung vừa trình bày trên đây cho thấy, rất nhiều loại hợp đồngloại hợp đồng được pháp luật quy định phải tuân theo hình thức văn bản Cóthể nói, những hợp đồng mà pháp luật quy định bắt buộc phải làm bằng vănbản là những loại hợp đồng có nội dung phức tạp cần phải được thể hiện rabằng những điều khoản cụ thể, chi tiết để quá trình thực hiện hợp đồng đượcthuận lợi, dễ dàng hơn và hạn chế sự tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của cácbên giao kết hợp đồng Thông thường, đối với các loại hợp đồng này, nhà làmluật còn quy định thêm nội dung và các điều khoản cụ thể của hợp đồng nhằmđịnh hướng cho các bên khi lập hợp đồng, tạo căn cứ pháp lý cho việc thựchiện hợp đồng và giải quyết tranh chấp giữa các bên sau này

Ngoài hình thức văn bản truyền thống, pháp luật hiện hành Việt Namcũng thừa nhận một thể thức tương đương văn bản, đó là thông điệp dữ liệu.Các hợp đồng, giao dịch bằng hình thức thông điệp dữ liệu được ghi nhậntrong Khoản 1, Điều 124 Bộ luật dân sự 2005 “ Giao dịch dân sự thôngqua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giaodịch bằng văn bản.” Các nội dung cụ thể được quy định trong Luật Giao dịchđiện tử 2005 Theo quy định của Luật Giao dịch điện tử 2005, thông điệp dữliệu “là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằngphương tiện điện tử” (Khoản 12 Điều 4) Mặt khác, hình thức của Thông điệp

dữ liệu có thể “được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từđiện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác” Cũng theo Luật Giao dịch điện tử 2005, thì “Hợp đồng điện tử là hợp đồngđược thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định của Luật này”(Điều 33) …Việc sử dụng hình thức văn bản dưới dạng thông điệp dữ liệutrong việc thiết lập các giao dịch, hợp đồng có nhiều ưu điểm như nhanh, gọn

Trang 9

nhẹ, dễ lưu trữ, tiết kiệm thời gian và chi phí thấp, nên rất thích hợp cho cáchoạt động thương mại, dịch vụ Tuy vậy, do tính chất “vô hình” và hình thứcbiểu hiện ra bên ngoài hết sức đặc thù, chỉ tồn tại trong một môi trường số,điện tử hoặc không gian mạng, mức độ bảo đảm an toàn, sự toàn vẹn về nộidung của các giao dịch… đòi hỏi một trình độ kỹ thuật và sự an toàn nhấtđịnh

2.2.3 Hình thức có chứng nhận, chứng thực

Đối với những hợp đồng có tính chất phức tạp dễ xảy ra tranh chấp vàđối tượng của nó là những tài sản mà nhà nước cần phải quản lý, kiểm soátkhi chúng dịch chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác thì các bên phải lậpthành văn bản có chứng nhận của cơ quan công chứng nhà nước, chứng thựccủa Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền Hợp đồng được lập ra theo hìnhthức này có giá trị chứng cứ cao nhất Vì vậy, đối với những hợp đồng màpháp luật không yêu cầu phải lập theo hình thức này nhưng để quyền lợi củamình được đảm bảo, các bên vẫn có thể chọn hình thức này để giao kết hợpđồng

Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005, các hợp đồng phải lập thànhvăn bản có công chứng, chứng thực như: Hợp đồng hợp tác (Điều 111), hợpđồng mua bán nhà ở (Điều 450) trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;hợp đồng tặng cho bất động sản hoặc động sản có đăng ký quyền sở hữu(Điều 466, Điều 467); hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất (Khoản 2, Điều689)

Những hợp đồng phải đăng ký hoặc xin phép như : các giao dịch bảođảm quy định tại Khoản 2 Điều 323 Bộ luật dân sự 2005 phải được đăng kýtheo quy định của pháp luật; hợp đồng mua bán nhà ở (Điều 450); hợp đồngcho thuê quyền sử dụng đất ( Điều 705); hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất(Điều 714); hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ( Điều 717); hợp đồng tặng

Trang 10

cho quyền sử dụng đất (Điều 725); hợp đồng chuyển giao công nghệ (Điều757)

Nhìn chung, các hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sửdụng hoặc thế chấp có đối tượng là các loại tài sản quan trọng mà việc chiếmhữu, sử dụng của nó liên quan đến an ninh quốc gia, trật tự công cộng hoặccác tư liệu sản xuất quan trọng có ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc dân đềucần phải có sự kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc công bố

và ghi chép trong sổ bộ của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực cóliên quan

2.2.4 Hình thức bằng hành vi

Hợp đồng có thể được xác lập qua những hành vi nhất định theo quyước định trước Hợp đồng có thể được xác lập bằng hình thức này mà khôngnhất thiết phải có sự hiện diện đồng thời của tất cả các bên tại nơi giao kết.Hình thức này ngày càng phổ biến nhất là trên những quốc gia có nền côngnghiệp tự động hóa phát triển

Hành vi cụ thể là một hình thức thể hiện của hợp đồng Bởi lẽ, việctuyên bố ý chí bằng lời nói hay bằng chữ viết, suy cho cùng, cũng đều bằnghành vi của con người Tuy vậy, hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ đượcnói đến trong trường hợp này không phải được diễn đạt bằng lời nói hay chữviết mà chỉ được thể hiện bằng một hành động thuần túy.Thông thường, hìnhthức hợp đồng bằng hành vi cụ thể được sử dụng khi bên thực hiện hành vigiao kết hợp đồng đã biết rõ nội dung của hợp đồng và chấp nhận tất cả cácđiều kiện mà bên kia đưa ra, và bên kia không loại trừ việc trả lời bằng hành

vi, hoặc không đưa ra một yêu cầu rõ ràng về hình thức của sự trả lời chấpnhận Hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ thể được thể hiện ra bên ngoài khá

đa dạng Hành vi cụ thể thường được sử dụng để xác lập các hợp đồng thôngdụng, được thực hiện ngay và trở thành thói quen phổ biến của lĩnh vực hoạtđộng liên quan, tại nơi giao dịch được xác lập Ví dụ mua nước ngọt bằng

Ngày đăng: 20/03/2019, 14:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w