1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những bất cấp các quy định của pháp luật về hình thức của hợp đồng

23 489 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 180,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

năng lực hành vi dân sự của cá nhân trong việc xác lập trong việc xác lập, thực hiện hợp đồng được xác định như sau  Đối với người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ: đó là những người t

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 2

B NỘI DUNG 2

I Khái niệm hợp đồng dân sự 2

II Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành 3

1 Điều kiện về chủ thể tham gia hợp đồng dân sự 3

2 Điều kiện về mục đích và nội dung của hợp đồng 6

3 Các bên hoàn toàn tự nguyện trong việc giao kết, xác lập hợp đồng 7

4 Điều kiện về hình thức của hợp đồng dân sư 9

III. Nhận xét những quy định của pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự 12

1 Nhận xét về quy định tạị điểm a khoản 1 điều 122 BLDS 12

2 Nhận xét về điều kiện về ý chí của chủ thể khi tham gia hợp đồng dân sự .14

3 Nên sửa đổi điều kiện mục đích và nội dung của giao dịch “không trái đạo đức xã hội” thành “không xâm phạm trật tự công cộng” 15

4 Những bất cấp các quy định của pháp luật về hình thức của hợp đồng.16 C KẾT LUẬN 22

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

Trang 2

A MỞ ĐẦU

Điều 121 BLDS năm 2005 quy định: “ Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Theo như quy định này, chúng ta có thể thấy hợp đồng nói chung và hợp đồng

dân sự nói riêng là một phương tiện phổ biến để xác lập nên quyền và nghĩa vụ dân

sự Vậy hợp đồng dân sự có hiệu lực thì cần có những điều kiện gì?

B NỘI DUNG

I Khái niệm hợp đồng dân sự.

Điều 281 BLDS năm 2005 có nêu lên hệ thống các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụdân sự Trong hệ thống các căn cứ đó thì hợp đồng dân sự đóng vai trò quan trongnhất Hợp đồng luôn luôn là phương tiện phổ biến nhất đê xác lập nên quyền vànghĩa vụ dân sự Khái niệm hợp đồng dân sự được quy định tại Điều 388 của BLDS

như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Trong quy định này thì nổi bật lên hai nét

ý chí của mình dưới một hình thức nhất định để các chủ thể có thể nhận biết được ýchí của nhau,, để cùng nhau bàn bạc đi đến sự thống nhất ý chí

Có một số trường hợp tuy không có sự thỏa thuận, bàn bạc giữa các bên mà một bênđơn phương ấn định các điều khoản của hợp đồng, còn bên kia chỉ có chấp nhận haykhông chấp nhận

 Hợp đồng làm phát sinh hậu quả pháp lý: nếu sự thỏa thuận giữa cácbên không nhằm mục đích tạo lập ra hiệu lực pháp lý (quyền và nghĩa vụ) thì cũngkhông hình thành hợp đồng Do vậy hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên phải

Trang 3

nhằm tạo ra một sự ràng buộc pháp lý, tức là sang tạo ra các quyền và nghĩa vụmới, ngoài những quyền và nghĩ vụ luật định Hoặc làm thay đổi, phát sinh haychấm dứt các quyền và nghĩa vụ đó

II Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự theo quy định của pháp

luật Việt Nam hiện hành.

Hợp đồng dân sự là phương tiện pháp lý quan trọng để thỏa mãn quyền và lợi íchhợp pháp giữa các bên tham gia quan hệ hợp đồng Ngoài ra quan hệ hợp đồng còn

là căn cứ để tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác giải quyết các tranh chấpphát sinh Tuy nhiên để hợp đồng dân sự có hiệu lức pháp lý thì hợp đồng đó phảithỏa mãn đầy đủ các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định

Điều 121 BLDS năm 2005 quy định: “ Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Như vậy điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự chính là điều kiện có hiệu

lực của giao dịch dân sự.Các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quyđịnh tại Điều 122 BLDS năm 2005, gồm có:

1 Điều kiện về chủ thể tham gia hợp đồng dân sự.

Theo quy định tại Điều 122 BLDS thì “ người tham gia giao dịch có năng lực hành

vi dân sự” Chủ thể tham gia hợp đồng dân sự đa dạng, có thể là cá nhân, pháp

nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác

Đối với cá nhân.

Điều 17 BLDS năm 2005 quy định: “năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” Như vậy năng lực hành vi dân sự của cá nhân trong việc xác lập trong việc xác

lập, thực hiện hợp đồng được xác định như sau

 Đối với người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ: đó là những người từ đủ

18 tuổi trở lên, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, không bị mất năng lựchành vi dân sự Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có toàn quyền trong việcxác lập, thực hiện hợp đồng

Trang 4

 Đối với người có năng lực hành vi dân sự một phần từ đủ 15 tuổi đến dưới

18 tuổi: trên thực tế, người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi đã có thể tham gia laođộng Xuất phát từ lý do này mà pháp luật dân sự đã chấp nhận một số giao dịch dân

sự nhất định phát sinh hậu quả pháp lý nếu giao dịch dân sự đó do người từ đủ 15tuổi đến dưới 18 tuổi xác lập thực hiện theo khoản 2 Điều 20 BLDS quy định:

“Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

 Đối với người có năng lực hành vi dân sự một phần từ đủ 6 tuổi đến dưới

15 tuổi, người bị tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự: Người từ đủ 6tuổi đến dưới 15 tuổi được xác định là những người mà sự nhận thức và khả nănglàm chủ hành vi của mình chưa được đầy đủ, do đó họ có những hạn chế nhất định

Do đó người từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi khi tham gia vào một hợp đồng dân sựnào đó phải được người theo pháp luật đồng ý Đối với người bị tòa án tuyên bố hạnchế năng lực hành vi thì: “…Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người hạnchế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật…”

 Đối với người dưới 6 tuổi, người bị tòa án quyết định tuyên bố mất nănglực hành vi dân sự: Những người này không được xác lập hay thực hiện hợp đồngnào, mọi giao dịch dân sự của họ để phải do người theo pháp luật xác lập, thực hiện

Đối với pháp nhân.

Pháp nhân là một thực thể pháp lý, khi tham gia vào các hợp đồng dân sự thì phảithông qua hành vi của người đại diện của pháp nhân ( đại diện theo pháp luật hoặcđại diện theo ủy quyền) Khi tham gia vào các hợp đồng dân sự thì những ngườidiện cho pháp nhân cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về đại diện, phạm

vi thẩm quyền đại diện để xác định hiệu lực pháp lý của các hợp đồng này Ngoài ratrong việc tham gia các hợp đồng dân sự, pháp nhân chỉ được phép tham gia các hợpđồng phù hợp với mục đích hoạt động, phạm vi kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh củapháp nhân…

Trang 5

Đối với hộ gia đình.

Khi tham gia vào các hợp đồng dân sự thì chủ hộ (là người đại diện theo pháp luậtcủa hộ gia đình) có thể trực tiếp tham gia hoặc có thể ủy quyền cho thành viên khác

đã thành niên tham gia vào việc xác lập, thực hiện hợp đồng Theo quy định của

pháp luật thì “ Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của họ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình” (khoản 2 Điều 107 BLDS)

Thông thường, giao dịch dân sự do chủ hộ hoặc thành viên đã thành niên khác đượcchủ hộ ủy quyền xác lập, thực hiện vì lợi ích của hộ gia đình sẽ làm phát sinh quyền

và nghĩa vụ của hộ gia đình trong hợp đồng dân sự Tuy nhiên đối với việc định đoạt

tư liệu sản xuất hoặc tài sản chung của hộ gia đình có giá trị lớn thì buộc phải có sựđồng ý của các thành viên trong gia đình từ đủ 15 tuổi trở lên, đối với các loại tàisản chung khác phải được sự đồng ý của đa số các thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên

Đối với tổ hợp tác.

Khi tham gia vào các hợp đồng dân sự thì tổ trưởng tổ hợp tác là người đại diện theopháp luật của tổ hợp tác Ngoài việc trực tiếp đại diện cho tổ hợp tác tham gia cáchợp đồng dân sự thì tổ trưởng tổ hợp tác có thể ủy quyền cho tổ viên của mình thựchiện những công việc cần thiết cho tổ hợp tác Tuy nhiên việc đinh đoạt tài sản là tưliệu sản xuất của tổ hợp tác phải được toàn bộ tổ viên đồng ý, đối với các loại tài sảnkhác phải được đa số tổ viên đồng ý

2 Điều kiện về mục đích và nội dung của hợp đồng

Mục đích của hợp đồng BLDS 2005 thừa nhận nguyên tắc tự do cam kết, thỏa thuận(Điều 4) Nhưng để bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích của công cộng, quyền và lợiích hợp pháp của người khác, BLDS 2005 cũng qui định một số trường hợp hạn chếquyền tự do của các bên trong việc thiết lập hợp đồng Theo đó, nội dung và mụcđích của hợp đồng (giao dịch dân sự) “không được vi phạm điều cấm của pháp luật

và không trái đạo đức xã hội” (Điểm b, khoản 1 Điều 122) Hợp đồng (giao dịch dânsự) “có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hộithì vô hiệu” (Điều 128) Nội dung của hợp đồng là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ

Trang 6

của các bên chủ thể tham gia hợp đồng được thể hiện trong các điều khoản của hợpđồng Mục đích của của giao dịch dân sự (hay hợp đồng) là “lợi ích hợp pháp màcác bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó” [ Điều 123] Điều cấm củapháp luật “là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện nhữnghành vi nhất định” Và, “đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữangười với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng” Khái niệm nội dung của hợp đồng là một khái niệm rất rộng Thường thì nội dungcủa hợp đồng gồm các điều khoản, như: đối tượng của hợp đồng là tài sản hay côngviệc, chất lượng của đối tượng đó; giá và phương thức thanh toán; thời hạn, địađiểm thực hiện hợp đồng… (Điều 402) Bất kỳ điều khoản nào trong số đó vi phạmđiều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì hợp đồng cũng bị coi là vô hiệu.

Ví dụ: trong Quyết định Giám đốc thẩm số 18/2005/DS-GĐT ngày 22/6/2005 củaHĐTP –TANDTC hợp đồng mua bán nhà được xác lập giữa người chuyển nhượng(Việt Nam) với người nhận chuyển nhượng (người Việt Nam định cư ở nước ngoài,không thuộc diện được phép có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam), thì bị xem là vôhiệu vì “có nội dung trái pháp luật” Để hợp đồng có hiệu lực thì mục đích của hợpđồng cũng phải không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội.Hợp đồng có mục đích vi phạm điều cấm của pháp luật thì vô hiệu

3 Các bên hoàn toàn tự nguyện trong việc giao kết, xác lập hợp đồng

Tự nguyện xác lập, thực hiện hợp đồng là việc chủ thể tự mình quyết định là cótham gia hay không tham gia vào hợp đồng theo nguyện vọng của cá nhân mình, màkhông chịu sự chi phối hay sự tác động, can thiệp chủ quan nào từ những ngườikhác Pháp luật đòi hỏi những người tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng phải hoàntoàn tự nguyện Tự nguyện còn là nguyên tắc pháp lý cơ bản của pháp luật dân sự

Ý chí tự nguyện của chủ thể là một dấu hiệu thuộc yếu tố chủ quan, nếu không đượcbiểu hiện ra bên ngoài, thì người khác không thể biết được Không có tự do ý chí và

sự bày tỏ ý chí hoặc phá vỡ tính thống nhất giữa hai yếu tố này, thì sẽ không có sự

tự nguyện Hợp đồng do chủ thể xác lập, thực hiện không tự nguyện, thì có thể bị vôhiệu hoặc đương nhiên vô hiệu Những trường hợp không có sự tự nguyện là những

Trang 7

trường hợp mà việc xác lập, thực hiện hợp đồng không đúng ý chí đích thực của chủthể hoặc không có sự thống nhất giữa ý chí của chủ thể với sự bày tỏ ý chí của chínhchủ thể đó ra bên ngoài Theo qui định của BLDS 2005, hợp đồng bị coi là đượcxác lập thiếu yếu tố tự nguyện nếu thuộc một trong năm trường hợp sau đây:

Hợp đồng giả tạo:

Hợp đồng giả tạo là hợp đồng được lập ra nhưng không phản ánh đúng bản chất củaquan hệ đích thực giữa các bên, thể hiện ở việc các bên xác lập hợp đồng để che đậymột giao dịch khác hay một hành vi trái pháp luật của một hoặc các bên Có haidạng hợp đồng giả tạo là ‘hợp đồng giả cách’ và ‘hợp đồng tưởng tượng’ Hợpđồng giả cách là hợp đồng giả tạo do các bên lập ra để che đậy một hợp đồng khácnhằm “lẩn tránh” pháp luật Đặc trưng cơ bản của hợp đồng giả cách thường là do

có sự thông đồng giữa các bên để lập cùng một lúc hai hợp đồng (giao dịch) khácnhau: một hợp đồng (giao dịch) ‘thật’ và một hợp đồng (giao dịch) ‘giả’ Hợp đồnggiả cách chỉ là hình thức bên ngoài chứ không có giá trị đối với các bên Hợp đồngthật bị che giấu đi, nhưng đó mới là hợp đồng mà các bên muốn xác lập, thực hiện.Hợp đồng giả cách thì đương nhiên vô hiệu Hợp đồng thật có thể được công nhận,nếu tuân thủ các điều kiện do pháp luật qui định

Hợp đồng tưởng tượng là hợp đồng không có thật, do các bên thông đồng lập ranhằm để hợp thức hóa các thủ tục pháp lý còn thiếu sót, hoặc để che đậy một sự thậtkhác trái pháp luật, hoặc trái đạo đức xã hội Nói cách khác, hợp đồng tưởng tượng

là hợp đồng mang tính hình thức, chứ các bên hoàn toàn không có ý định tạo lập nên

sự ràng buộc pháp lý với nhau dựa trên nội dung của hợp đồng đó

Hợp đồng được xác lập do nhầm lẫn

Nhầm lẫn là “sự không trùng hợp ý chí được thể hiện với mong muốn thật sự củangười thể hiện ý chí” Hay nói cụ thể hơn, đó là việc một hoặc các bên hình dungsai về sự việc, chủ thể, đối tượng hoặc các nội dung của hợp đồng nên đã xác lậphợp đồng trái với ý nguyện đích thực của mình Ví dụ: người mua bảo hiểm tưởng làkhi mua bảo hiểm thì được hưởng tiền bảo hiểm trong mọi trường hợp có rủi ro,nhưng thực tế là điều khoản bảo hiểm đã có những loại trừ nên một số loại rủi ro sẽ

Trang 8

không được bảo hiểm Pháp luật Việt Nam chỉ chấp nhận hợp đồng vô hiệu do nhầmlẫn về nội dung của hợp đồng Hợp đồng bị nhầm lẫn về nội dung có thể bị vô hiệutheo qui định tại Điều 131 BLDS 2005

Hợp đồng xác lập do bị lừa dối: “Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý

của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể,tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịchđó” [Điều 132] Biểu hiện của sự lừa dối là hành vi cố ý cung cấp thông tin sai sựthật khiến cho bên kia tin vào các thông tin đó mà xác lập hợp đồng bất lợi cho họhoặc trái với nguyện vọng đích thực của họ Pháp luật Việt Nam qui định ba trườnghợp lừa dối là lừa dối về chủ thể, lừa dối về đối tượng và lừa dối về nội dung củahợp đồng

Hợp đồng xác lập bởi sự đe dọa: “Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý

của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằmtránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mìnhhoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình” [15, Điều 132] Sự đe dọa thường đượchiểu là việc một bên cố ý gây ra sự sợ hãi cho bên kia bằng hành vi bạo lực vật chấthoặc sự khủng bố tinh thần, làm bên kia tê liệt ý chí hoặc làm mất khả năng kháng

cự nên đã xác lập hợp đồng trái với nguyện vọng đích thực của họ

Xác lập hợp đồng trong lúc không nhận thức, điều khiển được hành vi:

“Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểmkhông nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Toà ántuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu” [ Điều 133] Một người bình thường, vàothời điểm giao kết hợp đồng, đã ở trong tình trạng bị bệnh tâm thần, bệnh thần kinhtới mức không nhận thức, điều khiển được hành vi của mình hoặc đang sử dụng chất

ma túy hoặc các chất kích thích khác dẫn đến việc mất khả năng nhận thức tạmthời… thì được xem là không tự nguyện xác lập, giao kết hợp đồng.Vấn đề pháp lýđặt ra là người này phải chứng minh được là vào lúc xác lập hợp đồng, họ đang ởtrong tình trạng không có khả năng nhận thức, điều khiển được hành vi của mình

4 Điều kiện về hình thức của hợp đồng dân sư

Trang 9

Hình thức bằng lời nói

Hợp đồng bằng lời nói là những hợp đồng được giao kết dưới hình thức ngôn ngữnói, bằng lời hay còn gọi là hợp đồng miệng Theo đó, các bên giao kết hợp đồngtrao đổi với nhau bằng lời nói, trực tiếp hoặc thông qua điện thoại, điện đàm, gửithông điệp điện tử bằng âm thanh (tiếng nói)… để diễn đạt tư tưởng và ý muốn củamình trong việc xác lập, giao kết hợp đồng Trừ những loại hợp đồng pháp luật quiđịnh hình thức bắt buộc, các hợp đồng đều có thể được lập bằng lời nói Tuy vậy, đểtránh trường hợp các bên liên quan phủ nhận sự tồn tại của hợp đồng, chỉ nên sửdụng hình thức hợp đồng bằng lời nói để giao kết các hợp đồng có giá trị không lớn,với những người thân quen có sự tin cậy lẫn nhau, hoặc những hợp đồng được thựchiện và chấm dứt ngay lập tức, như hợp đồng mua bán tiêu dùng hàng ngày (các hợpđồng bán lẻ), hợp đồng dịch vụ thông thường trong đời sống (vui chơi, giải trí, vậnchuyển nhanh như xe ôm, taxi…)

Thực tiễn pháp lý cho thấy, do việc giao kết hợp đồng bằng lời nói có ưu điểm làcách thức giao kết đơn giản, gọn nhẹ, nhanh chóng và ít tốn kém nên được sử dụngrất phổ biến trong giao dịch dân sự, nhưng ít được sử dụng hơn trong giao dịchthương mại Cũng vì sự tiện lợi của cách thức giao kết này mà trên thực tế, có nhiềuhợp đồng đáng lẽ phải được lập bằng văn bản hoặc bằng văn bản có công chứnghoặc chứng thực (chẳng hạn như hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng thuê bất độngsản), nhưng để giản tiện, các bên cũng thường lập dưới hình thức lời nói, nên đã dẫnđến những tranh chấp rất khó giải quyết Theo một chuyên gia của TANDTC, có tới90% các tranh chấp về hợp đồng mua bán (mà chủ yếu là mua nhà đất mới đặt cọc)

bị vô hiệu về hình thức Điều đó cũng nói lên nhược điểm của loại hình thức này làkhông bảo đảm sự an toàn pháp lý cho các bên, giá trị chứng minh không cao và dễdẫn đến tình trạng phủ nhận của các bên về sự tồn tại của hợp đồng nếu các bênkhông còn bằng chứng khác để chứng minh về sự tồn tại của hợp đồng đó

Hình thức hợp đồng bằng văn bản

Văn bản (truyền thống) là hình thức ngôn ngữ viết, được trình bày trên một chất liệuhữu hình nhằm thể hiện một nội dung xác định mà người ta có thể đọc, lưu giữ và

Trang 10

bảo đảm được sự toàn vẹn nội dung đó Khác với hợp đồng bằng lời nói vốn không

để lại bằng chứng, thì hợp đồng bằng văn bản đảm bảo sự thể hiện rõ ràng ý chí cácbên cũng như nội dung của từng điều khoản hợp đồng mà các bên muốn cam kết.Ngoài ra, hợp đồng bằng văn bản cũng có thể trở thành bằng chứng hữu hiệu khi cácbên có sự tranh chấp, vì đây là hình thức có khả năng lưu giữ được ở trạng thái gầnnhư nguyên vẹn, trong một thời gian dài Bởi vậy, các hợp đồng quan trọng, hoặc cógiá trị lớn, hoặc có nội dung phức tạp, hoặc có thời hạn thực hiện lâu dài… thìthường được các bên chọn cách thể hiện bằng văn bản Về phương diện chứng cứ,văn bản được công chứng, chứng thực có độ tin cậy cao hơn so với văn bản thôngthường Bởi vậy, trong thực tiễn, đối với những hợp đồng quan trọng hoặc có giá trịlớn thì người ta thường lập bằng hình thức văn bản có công chứng, chứng thực Vềnguyên tắc, việc chọn lựa hình thức nào để ký kết hợp đồng do các bên tham gia hợpđồng quyết định trên cơ sở nguyên tắc tự do hợp đồng Tuy vậy, để bảo vệ trật tựcông cộng hoặc vì lý do quản lý nhà nước, pháp luật thực định hiện hành của ViệtNam có qui định về những hình thức bắt buộc mà hợp đồng phải tuân thủ

Hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ thể

Hành vi cụ thể là một hình thức thể hiện của hợp đồng, hiểu theo nghĩa hẹp Bởi lẽ,việc tuyên bố ý chí bằng lời nói hay bằng chữ viết, suy cho cùng, cũng đều bằnghành vi của con người Tuy vậy, hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ thể được nóiđến trong trường hợp này không phải được diễn đạt bằng lời nói hay chữ viết mà chỉđược thể hiện bằng một hành động thuần túy Thông thường, hình thức hợp đồngbằng hành vi cụ thể được sử dụng khi bên thực hiện hành vi giao kết hợp đồng đãbiết rõ nội dung của hợp đồng và chấp nhận tất cả các điều kiện mà bên kia đưa ra,

và bên kia không loại trừ việc trả lời bằng hành vi, hoặc không đưa ra một yêu cầu

rõ ràng về hình thức của sự trả lời chấp nhận Hình thức hợp đồng bằng hành vi cụthể được thể hiện ra bên ngoài khá đa dạng Hành vi cụ thể thường được sử dụng

để xác lập các hợp đồng thông dụng, được thực hiện ngay, và trở thành thói quenphổ biến của lĩnh vực hoạt động liên quan, tại nơi giao dịch được xác lập Ví dụ:hành vi mua hàng trong các quán ăn tự phục vụ, với món ăn tự chọn được làm sẵn…

Trang 11

Trong những trường hợp này, bên có hành vi xác lập hợp đồng đã hiểu rõ nội dung

và các điều kiện của hợp đồng, còn bên kia cũng chấp nhận cách thức giao dịchbằng hành vi cụ thể đó Hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ thể cũng được sử dụngphổ biến trong các hoạt động dịch vụ dành cho số đông đại chúng mà bên cung cấpdịch vụ đã có qui chế hoạt động rõ ràng đã được công bố, hoặc giữa các bên đã có

sự thỏa thuận về việc một bên chấp nhận hành vi cụ thể của bên kia như là một hìnhthức giao kết, thực hiện hợp đồng theo những qui ước, những điều kiện về pháp lý

và kỹ thuật mà các bên đã cam kết chấp nhận Ví dụ: hành vi lựa chọn hàng hóa vàthanh toán tiền khi mua hàng tại siêu thị, gọi điện thoại công cộng thanh toán bằngthẻ Nhà làm luật cũng thừa nhận và qui định các hợp đồng được giao kết bằnghành vi, kết hợp với các nghi thức đặc biệt khác do luật định Ví dụ: nghi thức gõbúa hoặc rung chuông trong hoạt động bán đấu giá tài sản Ngay sau khi có ngườitrả giá cao nhất, người điều khiển phiên bán đấu giá sẽ nhắc lại ba lần giá đã trả màkhông có ai trả giá cao hơn (trong trường hợp đấu giá tăng dần), thì người trả giácao nhất (nhưng ít nhất phải bằng giá khởi điểm) là người được mua tài sản đấu giá.Pháp luật hiện hành cũng thừa nhận hợp đồng được xác lập bằng hành vi cụ thểtrong các trường hợp đặc biệt, gọi là hợp đồng thực tế Theo đó, hợp đồng thực tế lànhững hợp đồng mà hiệu lực của nó phát sinh tại thời điểm các bên thực tế đãchuyển giao cho nhau đối tượng của hợp đồng Trong các hợp đồng này, các bên cóthể không dựa trên lời hứa hay văn bản đã được cam kết để yêu cầu thực hiệnnghĩa vụ, vì lời hứa hay văn bản cam kết xác lập hợp đồng cũng không có giá trịpháp lý chừng nào các bên chưa giao – nhận tài sản trên thực tế Hành vi giao - nhậntài sản là hình thức biểu hiện chủ yếu của các hợp đồng Hợp đồng có hiệu lực từthời điểm tài sản được chuyển giao từ một bên cho bên kia Trong nhiều trường hợp,khi một bên biết rõ nội dung lời đề nghị giao kết hợp đồng từ phía bên kia và thểhiện đồng ý xác lập hợp đồng bằng một hành vi cụ thể, đã chuyển tín hiệu đồng ýđến cho bên kia biết, thì hành vi cụ thể đó cũng được coi như hình thức biểu hiệncủa hợp đồng Hiệu lực của hợp đồng phát sinh tại thời điểm một hoặc các bênchuyển giao cho nhau đối tượng của hợp đồng

Ngày đăng: 22/01/2016, 09:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w