Hành vi của H bỏ qua không xử lý theo pháp luật đối với hành vi buôn lậu của Y được thực hiện dưới hình thức hành động hay không hành động?. Hành vi của H bỏ qua không xử lý theo pháp lu
Trang 1MỤC LỤC
Đề bài:
1 Số tiền Y đưa cho H là đối tượng tác động của tội phạm hay là phương tiện
phạm tội của tội đưa hối lộ? (2 điểm)
2 H có phải là đồng phạm với Y về tội buôn lậu không? Tại sao? (2 điểm)
3 Hành vi của H bỏ qua không xử lý theo pháp luật đối với hành vi buôn lậu của Y
được thực hiện dưới hình thức hành động hay không hành động? (2 điểm)
4 Giả thiết Y không đưa tiền mà gọi H ra dọa sẽ tố cáo hành vi đánh bạc của H và
H vì sợ bị xử lý kỷ luật nên đã phải bỏ qua cho hành vi buôn lậu của Y thì H có
phải chịu trách nhiệm hình sự không? Tại sao? (2 điểm)
Trang 2Đề bài:
Bài 3
H là cán bộ hải quan làm việc tại cửa khẩu tỉnh Q Một lần H kiểm tra hàng nhập khẩu vào Việt Nam thì phát hiện số lượng hàng vượt quá rất nhiều so với số lượng theo hóa đơn Chủ hàng là Y đã gọi H ra một chỗ trao đổi riêng Y đưa cho H một chiếc phong bì trong có chứa 10 triệu đồng và nhờ H bỏ qua cho số hàng bị vượt quá so với hoá đơn H nhận tiền và đồng ý cho Y mang hàng đi
Hỏi:
1 Số tiền Y đưa cho H là đối tượng tác động của tội phạm hay là phương tiện
phạm tội của tội đưa hối lộ? (2 điểm)
2 H có phải là đồng phạm với Y về tội buôn lậu không? Tại sao? (2 điểm)
3 Hành vi của H bỏ qua không xử lý theo pháp luật đối với hành vi buôn lậu của Y
được thực hiện dưới hình thức hành động hay không hành động? (2 điểm)
4 Giả thiết Y không đưa tiền mà gọi H ra dọa sẽ tố cáo hành vi đánh bạc của H và
H vì sợ bị xử lý kỷ luật nên đã phải bỏ qua cho hành vi buôn lậu của Y thì H có
phải chịu trách nhiệm hình sự không? Tại sao? (2 điểm)
Trang 3GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Số tiền Y đưa cho H là đối tượng tác động của tội phạm hay là phương tiện phạm tội của tội đưa hối lộ?
Trả lời:
Theo khoa học Luật hình sự thì:
- Đối tượng tác động của tội phạm là một bộ phận khách thể của tội phạm, bị hành
vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.
- Phương tiện phạm tội là những đối tượng được chủ thể của tội phạm sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội của mình Công cụ phạm tội là dạng cụ thể của phương tiện phạm tội.
Theo như định nghĩa về đối tượng tác động của tội phạm và phương tiện phạm tội được đề cập trong giáo trình luật hình sự Việt Nam 1 trường Đại Học Luật Hà Nội vừa nêu trên thì số tiền 10 triệu đồng mà Y đưa cho H không thể là đối tượng tác động của tội phạm được bởi: Nếu là đối tượng tác động của tội phạm thì khi số tiền 10 triệu đồng đó bị Y tác động vào sẽ phải gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Bản thân số tiền 10 triệu đồng này là của Y, cho nên Y có toàn quyền tác động tới nó với tư cách là chủ sở hữu hợp pháp của số tiền này mà không hề gây thiệt hại cho bất cứ quan hệ xã hội nào được luật hình sự bảo vệ cả vì Y là chủ sở hữu hợp pháp số tiền 10 triệu đồng trên nên Y có quyền tác động tới nó mà không gây tổn hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ
Tuy nhiên trong tình huống này khi Y dùng số tiền 10 triệu đồng thuộc sở hữu hợp pháp của mình đưa cho H với mục đích để H bỏ qua số lượng hàng vượt
Trang 4quá so với hóa đơn của mình thì hành vi của Y đã cấu thành tội đưa hối lộ theo
điều 289 BLHS Theo như định nghĩa về phương tiện phạm tội: Phương tiện phạm tội là những đối tượng được chủ thể của tội phạm sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội của mình.( Điều 289 BLHS là tội có dấu hiệu phương tiện trong CTTP
cơ bản, cụ thể điều 289 BLHS đòi hỏi phương tiện phạm tội phải là những giá trị vật chất ) Ở trong trường hợp này 10 triệu đồng chính là phương tiện phạm tội có giá trị vật chất được Y sử dụng để thực hiện hành vi đưa hối lộ của mình Thông qua phương tiện phạm tội là 10 triệu đồng Y đã tác động đến tới đối tượng tác động của tội đưa hối lộ trong tình huống này đó chính là sự nghiêm minh trong công tác kiểm tra giám sát hoạt động xuất nhập khẩu của nhân viên hải quan H
Từ các phân tích ở trên ta thấy trong tình huống này số tiền 10 triệu đồng mà
Y đưa cho H là phương tiện phạm tội của tội đưa hối lộ vì các lí do đã phân tích ở trên
2 H có phải là đồng phạm với Y về tội buôn lậu không? Tại sao?
Trả lời:
Theo điều 20 BLHS: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”.
Một trường hợp là đồng phạm phải thoả mãn những điều kiện sau:
Về mặt khách quan:
Đồng phạm đòi hỏi phải có ít nhất hai người và hai người này cùng phải có
đủ điều kiện chủ thể của tội phạm ( đó là điều kiện có năng lực TNHS và đạt độ tuổi TNHS)
Cùng thực hiện hành vi phạm tội có nghĩa là người đồng phạm phải tham gia vào tội phạm với một trong bốn hành vi sau:
Trang 5- Hành vi thực hiện tội phạm Người thực hiện hành vi này gọi là người thực hành;
- Hành vi tổ chức thực hiện tội phạm Người có hành vi ày gọi là tổ chức;
- Hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm Người có hành vi này gọi là người xúi giục;
- Hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm Người có hành vi này được gọi là giúp sức
Về mặt chủ quan:
Đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện tội phạm đều có lỗi cố ý Ngoài ra, đối vơí những tội có dấu hiệu mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc, đồng phạm đòi hỏi những thực hiện phải cócùng mục đích phạm tội đó
Về dấu hiệu lỗi:
Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, mỗi con người đồng phạm không chỉ cố ý với hành vi của mình mà còn biết và mong muốn sự cố ý tham gia của những đồng phạm khác Lỗi cố ý của đồng phạm được thể hiện trên hai mặt ý chí và lí trí như sau:
- Về lí trí: mỗi người đều biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và đều biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình Mỗi người đồng phạm còn thấy được trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà hành vi của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện
- Về ý chí: Những người đồng phạm cùng mong muốn có hoạt động chung
và cũng mong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh
Về dấu hiệu mục đích: Đồng phạm đòi hỏi dấu hiệu cùng mục đích trong trường hợp đồng phạm những tội có mục đích là dấu hiệu bắt buộc
Trang 6Để xác định trong tình huống này H có phải là đồng phạm với Y về tội buôn lậu không chúng ta cần xác định hành vi của H và Y có thỏa mãn các dấu hiệu về đồng phạm không
- Về dấu hiệu mặt khách quan:
Thứ nhất: Ở trong tình huống này H và Y đã thỏa mãn dấu hiệu nói trên bởi: H và
Y đã thỏa mãn yếu tố từ hai người trở lên, trong đề cũng không nhắc gì đến vấn đề NLTNHS và tuổi của Y và H nên Y và H sẽ được xem xét là thỏa mãn các điều kiện của chủ thể của tội phạm ( H là nhân viên hải quan nên chắc chắn sẽ thỏa mãn các điều kiện của chủ thể của tội phạm, còn Y đề không nói gì đến nên được xem xét là thỏa mãn)
Thứ hai: Trong tình huống này có thể thấy cả H và Y đều nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội thấy trước được hậu quả của hành vi của mình và mong muốn cho hậu quả xảy ra( thuộc lỗi có ý trực tiếp ) Trong tình huống này thì
Y và H đã cố ý cùng thực hiện tội buôn lậu, Y với vai trò là người thực hành, còn H đóng vai trò là người giúp sức Tuy Y và H không có ý định với nhau từ trước nhưng trong tình huống này Y và H đã tiếp nhận mục đích phạm tội của nhau
- Về dấu hiệu mặt chủ quan:
Thứ nhất dấu hiệu lỗi:
Về lí trí: cả H và Y đều biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, và đều biết người kia cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội với mình H biết Y đang có hành
vi buôn lậu qua biên giới, và bỏ qua cho hành vi buôn lậu của Y là nguy hiểm cho
xã hội Về phía Y, Y biết hành vi buôn lậu của mình là trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội Đồng thời Y cũng biết hành vi nhận hối lộ và bỏ qua cho hành vi buôn lậu của mình của H là trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội
Trang 7Về ý chí: Y và H đều mong muốn có hoạt động chung cùng mong muốn cho hậu quả xảy ra Y mong muốn H bỏ qua cho hành vi của mình, mong muốn H hoạt động chung và giúp sức cho hành vi buôn lậu của mình Về phía H, H đã tiếp nhận
ý định phạm tội của Y, bỏ qua cho hành vi buôn lậu của Y đổi lại H được 10 triệu đồng Y đưa cho H
Thứ hai dấu hiệu mục đích:
Trong tình huống này cả H và Y đề biết rõ và tiếp nhận mục đích phạm tội của nhau H biết Y có hành vi buôn lậu tuy không có sự bàn bạc thông mưu trước nhưng H đã tiếp nhận mục đích buôn lậu của Y tại hiện trường
Như vậy trong tình huống này H là đồng phạm với Y về tội buôn lậu, H đóng vai trò là người giúp sức và đồng phạm ở đây là trường hợp đồng phạm không thông mưu trước
3 Hành vi của H bỏ qua không xử lý theo pháp luật đối với hành vi buôn lậu của Y được thực hiện dưới hình thức hành động hay không hành động?
Trả lời:
Hành vi khách quan của tội phạm được thực hiện qua hành động phạm tội và không hành động phạm tội
- Hành động phạm tội là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm qua việc chủ thể làm một việc bị pháp luật cấm.
- Không hành động phạm tội là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho
Trang 8khách thể của tội phạm qua việc chủ thể không làm một việc mà pháp luật yêu cầu phải làm mặc dù có đủ điều kiện để làm.
Như đã xác định ở trên, H đóng vai trò người giúp sức trong tội buôn lậu của
Y Thông thường, hành vi giúp sức được thực hiện dưới dạng hành động nhưng cũng có thể có trường hợp được thực hiện dưới dạng không hành động Trong trường hợp của H, H là người có nghĩa vụ pháp lí phải ngăn chặn, xử lí hành vi buôn lậu của Y, được nhà nước giao cho (yêu cầu phải làm) là phải kiểm tra nghiêm hoạt động xuất nhập khẩu khi phát hiện có vi phạm thì cần phải lập biên
bản vi phạm nhưng H đã cố ý không hành động (H bỏ qua, đồng ý cho Y mang
hàng đi) mặc dù pháp luật yêu cầu trog trường hợp này H phải lập biên bản vi phạm đối với hành vi của Y Hành vi của H qua đó đã loại trừ trở ngại khách quan ngăn cản việc thực hiện tội phạm của Y, tạo điều kiện cho Y thực hiện hoàn thành tội buôn lậu Có thể khẳng định, hành vi của H được thực hiện dưới hình thức không hành động
4 Giả thiết Y không đưa tiền mà gọi H ra dọa sẽ tố cáo hành vi đánh bạc của
H và H vì sợ bị xử lý kỷ luật nên đã phải bỏ qua cho hành vi buôn lậu của Y thì H có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Tại sao?
Trả lời:
Trong trường hợp này H vẫn phải chịu TNHS bởi các lí do sau:
Có thể xem trường hợp phạm tội của H ở đây là trường hợp phạm tội do bị cưỡng bức về tinh thần (là trường hợp người đã thực hiện hành vi có tính gây thiệt hại về khách quan do áp lực bên ngoài) Xét trong tình huống này ta có thể xem hành vi
bỏ qua số lượng hàng vượt quá của H là do áp lực bên ngoài (Y đe dọa sẽ tố cáo hành vi đánh bạc của H), nhưng vẫn là kết quả của hoạt động có ý chí của H, vẫn là hành vi khách quan của H
Trang 9Cùng với đó việc H tuy bị cưỡng bức về tinh thần nên mới thực hiện hành vi khách quan (bỏ qua số hàng vươt quá) nhưng H thực hiện hành vi này không phải với mục đích bảo vệ một lợi ích hợp pháp mà nhằm che giấu đi hành vi trái pháp luật của mình ( hành vi đánh bạc)
H tuy bị cưỡng bức về tinh thần nhưng không phải là không còn sự lựa chọn nào khác H vẫn có thể lựa chon cách xử sự hợp pháp đó là vẫn lập biên bản xử lí vi phạm với Y đồng thời báo cáo với cấp trên về toàn bộ vụ việc và cả hành vi đánh bạc của mình và chịu kỷ luật của cơ quan Nhưng trước xử sự hợp pháp đó chỉ vì
để che giấu đi hành vi trái pháp luật của mình mà H đã lựa chọn một xử sự trái pháp luật vì vậy vấn đề TNHS vẫn luôn đặt ra đối với H trong tình huống này
Trang 10DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Giáo trình luật hình sự Việt Nam I trường Đại Học Luật Hà Nội
2 Giáo trình luật hình sự Việt Nam phần các tội phạm Khoa Luật Đại Học
Quốc Gia Hà Nội
3 Bình luận khoa học bộ luật hình sự Việt Nam TS Trần Minh Hưởng Học Viện Cảnh Sát Nhân Dân đã được sửa đổi bổ sung 2009
4 Trường Đại học Luật Hà Nội, Trách nhiệm hình sự và hình phạt, Nxb.
CAND, Hà Nội, 2001
5 Trần Quang Tiệp, Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Tư pháp,
Hà Nội, 2007
6 Bộ Luật Hình Sự Nước CHXHCN Việt Nam năm 1999 sửu đổi bổ sung năm 2009