1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hợp đồng dân sự vô hiệu

19 109 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 132,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi giao dịch và hợp đồng dân sự ngày càng phong phú, gia tăng về số lượng, phức tạp về nội dung và tính chất, những tranh chấp hợp đồng xảy ra cũng là điều dễ hiểu, thì câu hỏi được đặt

Trang 1

BÀI LÀM

I. Tính cấp thiết của đề tài:

Hợp đồng dân sự là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự

và là phương tiện pháp lý quan trọng để thỏa mãn quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội Một xã hội muốn tồn tại và phát triển, nhu cầu con người muốn được thỏa mãn thì buộc các chủ thể phải tìm đến nhau thông qua quan hệ hợp đồng và trong quan hệ hợp đồng đó phải có sự tự do ý chí của chủ thể Với ý nghĩa như trên, không phải đến tận khi Bộ luật dân sự ra đời, con người ta mới biết đến các chế định về hợp đồng dân sự mà nó đã xuất hiện từ rất xa xưa Từ những năm đầu của thời kì đổi mới một loạt các văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng đã ra đời như: Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (1989); Pháp lệnh hợp đồng dân sự (1991) và trong 2 pháp lệnh về chuyển giao công nghệ và sở hữu trí tuệ cũng có phần quy định về vấn đề hợp đồng Đến khi Bộ luật dân sự 1995 ra đời và được sửa đổi, bổ sung tại Bộ luật dân sự 2005 thì hợp đồng dân sự đã được xem xét, quy định một cách đầy đủ, toàn diện hơn Bộ luật dân sự 2005 được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, có hiệu lực ngày 01/01/2006 tạo ra một hành lang pháp lí quan trọng cho giao lưu dân sự, thể hiện một bước tiến cao hơn trong tư duy lập pháp, hành pháp và tư pháp của những nhà làm luật

Trong thời kỳ đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xu hướng toàn cầu hóa đang được thể hiện rõ rệt bằng việc Việt Nam ra nhập các tổ chức thương mại lớn của thế giới Trong một cuộc chơi mà tiếng nói của các dân tộc là khác nhau, nhưng vẫn phải tìm đến nhau để các bên thỏa mãn được những nhu cầu của riêng mình, thì thứ ngôn ngữ và luật lệ chung, không có gì hơn ngoài pháp luật Khi giao dịch và hợp đồng dân sự ngày càng phong phú, gia tăng về số lượng, phức tạp về nội dung và tính chất, những tranh chấp hợp đồng xảy ra cũng là điều

dễ hiểu, thì câu hỏi được đặt ngay ra từ lúc đầu nảy sinh vấn đề là các bên có thực

sự ký kết với nhau những văn bản được coi là hợp đồng, và hợp đồng ấy có bị vô hiệu hay không, từ đó xác định được quyền và nghĩa vụ của các bên Các điều kiện

có hiệu lực của hợp đồng góp phần nâng cao ý thức cuả các chủ thể tham gia vào quan hệ hợp đồng, giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng cũng như bảo vệ quyền lợi của các chủ thể tham gia vào quan hệ hợp đồng và tạo nên sự bình đẳng trong giao lưu dân sự

Trang 2

Nghiên cứu, tìm hiểu thế nào là hợp đồng dân sự vô hiệu, điều kiện để tuyên bố một hợp đồng là vô hiệu, thời hiệu tuyên bố, hậu quả pháp lý cũng như những bất cập còn tồn tại trong các quy định về hợp đồng vô hiệu, từ đó tìm ra hướng hoàn thiện những chế định này là công việc cần thiết trong giai đoạn hiện nay

II. Nội dung:

1. Về hợp đồng dân sự và những đặc điểm của hợp đồng dân sự:

Khái niệm hợp đồng dân sự theo Điều 388 BLDS : “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”

Qua khái niệm về hợp đồng dân sự, có thể thấy để hình thành hợp đổng dân sự phải có các yếu tố cơ bản sau:

- Hợp đồng dân sự phải có sự tham gia của các bên

- Hợp đồng dân sự được hình thành dựa trên cơ sở thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đó

- Hậu quả pháp lý của sự thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ hợp đồng là nhằm làm xác lập, thay đổi, chấm dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự

- Sự thỏa thuận giữa các bên không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như giả tạo, nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa

2. Khái niệm hợp đồng dân sự vô hiệu:

Theo điều 410 BLDS thì các quy định về giao dịch dân sự cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu ( các quy định từ điều 127 đến 138 BLDS)

Như vậy khi xét hợp đồng dân sự có vô hiệu hay không thì cũng đồng nghĩa với việc ta xem xét điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự cũng như thế nào là giao dịch dân sự vô hiệu

Điều 122 BLDS quy định: Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định

Như vậy, một giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu trong các trường hợp: do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội; do giả tạo; do người chưa thành

Trang 3

niên, ngưởi mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập thực hiện; do bị nhầm lẫn; do bị lừa dối đe dọa; do người xác lập không nhận thức làm chủ được hành vi của mình; do không tuân thủ các quy định về hình thức

3. Lịch sử hình thành và phát triển chế định về hợp đồng dân sự và hợp đồng dân sự vô hiệu ở Việt Nam:

Trong lịch sử thế giới, chế định hợp đồng đã có từ lâu, như ở châu Âu, chế định hợp đồng đã có từ thời Cổ đại La mã vào những thế kỷ IV– V trước Công nguyên, người La mã đã xây dựng được hệ thống thuật ngữ về phạm trù pháp lý về bản chất của hợp đồng như là hợp đồng miệng, hợp đồng viết, sự thể hiện ý chí trong giao dịch dân sự, giao dịch theo lương tâm, giao dịch theo pháp luật, tuy nhiên ở Việt Nam, cho đến thế kỷ XIX pháp luật dân sự vẫn chưa nhận được sự quan tâm của triều đại phong kiến lúc bấy giờ; ngay như Bộ Luật Hồng Đức cũng chỉ quy định rất giản đơn về 3 loại hợp đồng ruộng đất

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX dưới sự bảo hộ của Pháp chế định khế ước hay hợp đồng mới được ghi nhận trong các văn bản pháp luật chính thức như ở Nam kỳ có Bộ Dân luật giản yếu năm 1883; Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 và Bộ Luật Trung Kỳ năm 1936 do người Pháp khai thác thuộc địa và ban hành những đạo luật phần lớn có lợi phục vụ cho nước Pháp

Như vậy từ đầu thế kỷ XX chế định hợp đồng hay khế ước được xuất hiện ở Việt Nam do 3 Bộ Luật Dân sự điều chỉnh gồm có :

Bộ Dân luật giản yếu áp dụng tại xứ Nam kỳ, nhưng trong bộ luật này chỉ nói

về nhân thân (nói về người) không có điều khoản nào qui định về chế định hợp đồng hay khế ước, khi giải quyết các vụ án liên quan đến hợp đồng hay khế ước, các Toà Nam án thường áp dụng các điều khoản của Dân luật của Pháp như lý trí thành văn (raison écrite) liên quan đến hợp đồng nghĩa vụ và trách nhiệm dân sự; các Toà án Pháp ở Nam Việt còn áp dụng các điều khoản Dân luật Bắc kỳ, Dân luật Trung kỳ, có khi còn áp dụng cả Luật Hồng Đức và Luật Gia Long, nếu liên quan đến thừa kế và tập tục cổ truyền của Việt Nam

Bộ Dân Luật Bắc kỳ gồm có 1.455 điều, chia làm một thiên sơ bộ và 4 quyển, quyển thứ ba nói về khế ước và nghĩa vụ; và phạm vi áp dụng ớ các Toà án Bắc phần mà thôi

Bộ Dân Luật Trung kỳ còn được gọi là Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ Luật được ban hành ngày 13/07/1936 gồm có 1.709 điều, thì có 57 điều nói về khế ước – hợp

Trang 4

đồng (từ điều 1216 – 1273); sở dĩ Dân luật Trung kỳ hơn Dân luật Bắc kỳ 254 điều, vì vấn đề khế ước – hợp đồng theo Dân luật của Pháp qui định kỹ hơn Dân luật Bắc

Sau khi Nhà nước Việt Nam dân Chủ Cộng Hoà được thành lập, ngày 10/10/1945 Chủ Tịch Chính Phủ lâm thời Hồ Chí Minh ban hành sắc luật số 47 cho phép áp dụng luật lệ hiện hành của chế độ cũ ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, nếu những luật lệ ấy không trái với nền độc lập của Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hoà, thì các quan hệ hợp đồng vẫn được điều chỉnh căn cứ vào các Bộ Dân luật giản yếu Nam kỳ, Bộ dân Luật Trung Kỳ; và đến ngày 10/07/1959 theo chỉ thị

số 172-CT/TATC của Toà án nhân dân tối cáo đình chỉ áp dụng luật lệ của đế quốc

và phong kiến, chế định hợp đồng trong Bộ Dân luật bắc kỳ được chấm dứt vào trung tuần tháng 7 năm 1959; năm 1960 ban hành Điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh tế; và Nghị định số 54/CP ngày 10/03/1975 của Chính phủ ban hành điều lệ

về chế độ hợp đồng

Đến năm 1986 do điều kiện đổi mới kinh tế đất nước, và điều chỉnh nền kinh tế thị trường có điều tiết; các văn bản pháp luật được ra đời để điều chỉnh các quan hệ hợp đồng kinh tế và quan hệ hợp đồng dân sự, trong đó có Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989, và Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 để điều chỉnh các quan

hệ kinh tế, dân sự trong đời sống xã hội ngày càng phát triển Bộ luật Dân sự đầu tiên của nước ta đã được Quốc Hội khoá IX kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 28/10/1995, có hiệu lực thi hành từ 01/07/1996, và các chế định hợp đồng cũng được Bộ luật này công nhận

Tuy vậy, mặc dù chế định hợp đồng được Bộ luật dân sự 1995 qui định, vẫn chưa chấm dứt Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989, nên vẫn còn hai chế định hợp đồng kinh tế và hợp đồng thương mại vẫn tồn tại, khiến cho các qui định hợp đồng của Bộ luật Dân sự 1995 chưa được phát huy đúng mức của Bộ luật Dân sự;

Bộ luật Dân sự 2005 mới thể hiện được toàn diện về xã hội và địa vị pháp lý được bình đẳng, chế định hợp đồng được thống nhất trên mọi lãnh vực kinh tế và thương mại

4. Phân loại hợp đồng dân sự vô hiệu:

- Căn cứ vào tính chất của hợp đồng dân sự, ta chia hợp đồng vô hiệu thành vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối:

+ Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối là mặc nhiên bị vô hiệu, thời hạn yêu cầu tòa tuyên bố hợp đồng vô hiệu là không hạn chế, nguyên nhân bị vô hiệu là do vi

Trang 5

phạm các điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức xã hội, giả tạo nhằm che dấu một hợp đồng khác hoặc trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba, vi phạm quy định bắt buộc của pháp luật về hình thức của hợp đồng

+ Hợp đồng vô hiệu tương đối chỉ trở nên vô hiệu khi có đơn yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan và bị tòa án tuyên bố vô hiệu, thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố vô hiệu là 2 năm kể từ ngày xác lập hợp đồng, nguyên nhân

vô hiệu là do hợp đồng được xác lập bởi người chưa thành niên, mất năng lực hành vi, hạn chế năng lực hành vi dân sự; do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa; tại thời điểm không nhận thức được hành vi của mình

- Căn cứ hiệu lực của hợp đồng ta chia làm hợp đồng vô hiệu toàn bộ (toàn bộ nội dung của hợp đồng đều vô hiệu, phần vô hiệu ảnh hưởng đến hiệu lực của toàn bộ hợp đồng) và hợp đồng vô hiệu một phần (chỉ có một phần vô hiệu, chỉ có phần vô hiệu không có hiệu lực còn các phần còn lại vẫn có hiệu lực thi hành)

- Căn cứ vào điều kiện có hiệu lực ta chia làm hợp đồng vô hiệu do chủ thể không

có năng lực hành vi dân sự; vô hiệu do vi phạm nội dung và mục đích của hợp đồng; vô hiệu do vi phạm điều kiện về ý chí tự nguyện; vô hiệu do vi phạm về hình thức

5. Điều kiện để một hợp đồng dân sự bị coi là vô hiệu:

Hợp đồng dân sự vô hiệu khi không tuân thủ một trong các điều kiện sau:

- người tham gia hợp đồng có năng lực hành vi dân sự

- mục đích và nội dung của hợp đồng không trái với pháp luật, đạo đức xã hội

- người tham gia hợp đồng hoàn toàn tự nguyện

- hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật

a. Người tham gia hợp đồng có năng lực hành vi dân sự:

 Chủ thể là cá nhân:

Người đủ 18 tuổi, không bị mất năng lực hành vi dân sự và hạn chế năng lực hành vi dân sự được coi là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp bị tòa tuyên bố mất năng lực hành vi hay hạn chế năng lực hành vi, có toàn quyền tham gia mọi giao dịch dân sự để xác lập cho mình hoặc cho người mà

họ đại diện các quyền và nghĩa vụ dân sự và cũng đồng thời phải gánh chịu mọi trách nhiệm và nghĩa vụ phát sinh từ hành vi pháp lý mà họ thực hiện Tuy nhiên để bảo vệ quyền lợi của người được đại diện thì pháp luật cũng quy định một số biện pháp hạn chế quyền tham gia hợp đồng dân sự của người đại diện Những người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác khiến họ không thể nhận thức, làm chủ được hành vi

Trang 6

của mình có quyền giao kết hợp đồng với tư cách người có năng lực hành vi dân sự không đầy đủ.Tính không đầy đủ về năng lực hành vi dân sự được thể hiện ở 2 phương diện: Những người này chỉ được phép xác lập, thực hiện những giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu, sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc những giao dịch mà pháp luật quy định; Chỉ được phép xác lập, thực hiện những giao dịch dân sự nhất định nếu được người đại diện theo pháp luật đồng ý Nhưng cũng có một ngoại lệ cho phép người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi

có thể tự mình trực tiếp tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự để thỏa mãn nhu cầu về mọi mặt của họ Đó là trường hợp từ 15 đến 18 tuổi không mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác khiến họ không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình mà có tài sản riêng để thực hiện nghĩa vụ dân sự mà họ xác lập, thực hiện Tuy nhiên đối với trường hợp lập di chúc vẫn cần phải có sự đồng ý cha mẹ hoặc người giám hộ về việc lập di chúc chứ không phải về nội dung di chúc

Quyền giao dịch đối với cá nhân bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (được quyết định bởi Tòa án): Những người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự cũng có quyền tham gia xác lập, thực hiện những giao dịch dân sự có giá trị nhỏ phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày Với những giao dịch liên quan tới tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật (Điều 23 - Khoản 2 - BLDS 2005) Như vậy có thể nói khả năng tham gia giao dịch dân sự của người bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự tương đương với khả năng tham gia giao dịch dân sự của người có năng lực hành vi dân sự một phần

Quyền tham gia giao dịch đối với cá nhân dưới 6 tuổi và mất năng lực hành

vi dân sự: Pháp luật có quy định họ không được quyền tham gia xác lập và thực hiện mọi giao dịch dân sự Tuy nhiên để đảm bảo quyền lợi chính đáng của họ, những người đại diện theo pháp luật của họ có quyền xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất hoặc tinh thần của những người này (Điều 21, 22 - BLDS 2005)

 Chủ thể là tổ chức:

Đối với pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác khi tham gia giao dịch phải có đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền thực hiện Những người đại diện này cũng phải thỏa mãn các qui định đối với cá nhân nêu trên

Trang 7

b. Mục đích và nội dung của hợp đồng không trái với pháp luật, đạo đức xã hội:

Mục đích của hợp đồng dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó Nội dung của hợp đồng là tổng hợp các điều khoản mà các bên đã cam kết, thỏa thuận Để hợp đồng có hiệu lực pháp luật thì mục đích và nội dung của hợp đồng phải không trái với pháp luật và đạo đức xã hội Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định, đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đông thừa nhận và tôn trọng.Ví dụ về một số hợp đồng vô hiệu như sau:

Vi phạm các nguyên tắc công bằng xã hội như hợp đồng nhằm xóa bỏ nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái và ngược lại, các hợp đồng nhằm thực hiện hành vi phạm tội như cướp của, giết người ;Lợi dụng sơ suất hoặc hoàn cảnh khó khăn của người khác nhằm tu lợi bất chính ví dụ hợp đồng cho vay tiền với lãi suất vượt quá mức quy định ; Hạn chế quyền tự do của người khác như hợp đồng nhằm thực hiện hành vi phạm tội như bắt cóc, giam giữ người trái pháp luật…

c. Người tham gia hợp đồng hoàn toàn tự nguyện:

Tự nguyện là : tự mình muốn làm, không bị bắt buộc Tính tự nguyện trong hợp đồng dân sự là khả năng về ý chí và biểu lộ ý chí ra bên ngoài của các chủ thể tham gia Trong hợp đồng dân sự yếu tố tự nguyện đóng vai trò rất quan trọng , là đặc trưng của pháp luật dân sự nước ta và là căn cứ để các chủ thể giao kết hợp đồng nhằm làm phát sinh quyền nghĩa vụ giữa các bên

Điều kiện cần để một người tham gia vào hợp đồng dân sự một cách tự nguyện là người đó phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự Điều kiện đủ để xác định người đó tham gia hợp đồng có hoàn toàn tự nguyện hay không là hành vi tham gia hợp đồng của chủ thể phải là thể hiện ý chí đích thực của chủ thể đó

d. Hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật:

Hình thức của giao dịch là phương tiện thể hiện nội dung của giao dịch Thông qua phương tiện này bên đối tác cũng như người thứ ba có thể biết được nội dung của giao dịch đã xác lập Nó là chứng cứ xác nhận các quan hệ đã , đang tồn tại giữa các bên, qua đó xác định trách nhiệm dân sự khi có hành vi vi

Trang 8

phạm hợp đồng xảy ra Người giao kết hợp đồng có quyền lựa chọn hình thức của hợp đồng đó , trừ trường hợp pháp luật có qui định

Hợp đồng dân sự có thể được thể hiện bằng miệng, văn bản, hoặc bằng hành

vi cụ thể Trong một số trường hợp pháp luật có qui định hợp đồng dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải được công chứng nhà nước chứng nhận, được chứng thực, đăng kí thì phải tuân theo các qui định đó

6. Hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu:

a. Cơ sở pháp lý:

Theo điều 137: “ Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu :1 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập giao dịch; 2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả nhau những gì đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”

Theo quy định tại điều 410 BLDS thì điều luật trên cũng được áp dụng để xác định hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu

b. Việc áp dụng và những điểm còn bất cập:

Như vậy hợp đồng dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập Sự vô hiệu của hợp đồng chính cũng làm chấm dứt hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên thỏa thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng chính.Tuy nhiên, nếu chỉ có hợp đồng phụ vô hiệu, hợp đồng chính vẫn có hiệu lực pháp luật và không bị chấ, dứt thực hiện, trừ trường hợp các bên thỏa thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính

Về quy định “các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, trước tiên hoàn trả bằng hiện vật, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì tính thành tiền để trả.”Thực tế ở nước ta cho thấy, việc hoàn trả cho nhau những gì đã nhận chưa thực sự đảm bảo được lợi ích của các chủ thể Điển hình đối với những giao dịch có đối tượng là nhà, quyền sử dụng đất, bởi đất – tiền mỗi thời điểm sự chênh lệch về giá trị rất khác biệt, thường thì chỉ bên được nhận lại đất của mình là có lợi, còn bên nhận lại tiền chịu rất nhiều thiệt hại

Trang 9

Chưa có quy định nào của pháp luật đề cập đến vấn đề khi bên nhận tài sản

đã cải tạo sửa chữa nhằm làm tăng giá trị tài sản thì khi giao dịch vô hiệu, hậu quả pháp lý có gì khác biệt không.Ở đây có thể chia làm hai trường hợp: Nếu bên chuyển giao tài sản phản đối hoặc cơ quan có thẩm quyền không cho phép nhưng bên nhận tài sản vẫn làm tăng giá trị tài sản, bên nhận tài sản phải chịu phần tăng giá trị này khi hoàn trả tài sản thì không có gì đáng bàn Trường hợp hai là nếu bên nhận tài sản không có lỗi thì giải quyết thế nào nếu bên đã giao tài sản không chịu nhận tài sản mới hoặc có nhận nhưng không thanh toán phần giá trị tăng thêm

Về quy định tính thành tiền để hoàn trả trong trường hợp không thể hoàn trả hiện vật thực sự cần thiết: luật vẫn chưa có quy định về việc tính giá hiện vật thành tiền tại thời điểm nào: thời điểm xác lập giao dịch hay thời điểm hoàn trả tài sản, trong khi đó với những tài sản có sự biến động về giá thì việc xác định giá tài sản để tính thành tiền là mấu chốt vì nó ảnh hưởng đến lợi ích của các bên Thông thường, nếu giá tài sản tăng thì thiệt hại thuộc về bên mua, còn nếu giá tài sản giảm thì thiệt hại thuộc về bên bán

Khi hợp đồng dân sự bị tuyên bố vô hiệu, bên có lỗi trong việc hợp đồng vô hiệu phải chịu thiệt hại và bồi thường cho bên chủ thể kia Mức độ bồi thường thiệt hại căn cứ vào mức độ lỗi Bên bồi thường chỉ phải bồi thường thiệt hại

do phần lỗi của mình gây ra

7. Các trường hợp pháp luật quy định là hợp đồng vô hiệu và hậu quả pháp

lý cho từng trường hợp”

a. Hợp đồng vô hiệu do vi phạm các điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội:

Theo Điều 128 BLDS, vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội bao gồm nội dung, mục đích của giao dịch trái pháp luật và đạo đức xã hội Hậu quả pháp lý: giao dịch đương nhiên bị coi là vô hiệu không phụ thuộc vào ý chí của người tham gia hợp đồng Tài sản trong hợp đồng và lợi tức thu được từ hợp đồng có thể bị tịch thu và xung quỹ nhà nước Trong trường hợp thiệt hại mà các bên đều có lỗi thì họ phải chịu phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình

b. Hợp đồng vô hiệu do vi phạm quy định bắt buộc về hình thức giao dịch:

Theo Điều 134 BLDS : “Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức

giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân

Trang 10

theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu.”

Theo nguyên tắc chung, các chủ thể được phép tự do lựa chọn hình thức của hợp đồng Chỉ những hợp đồng pháp luật quy định bắt buộc phải thể hiện bằng văn bản, phải có chứng thực, chứng nhận, mà các bên không tuân thủ mới bị

vô hiệu Khi các bên có yêu cầu thì tòa án xem xét và “ buộc các bên thực hiện các quy định về hình thức của hợp đồng trong một thời hạn nhất định”

Hậu quả pháp lý : chỉ khi các bên không thực hiện và hoàn tất các quy định

về hình thức của hợp đồng trong thời hạn do tòa án quyết định thì hợp đồng mới vô hiệu Bên có lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu phải bồi thường thiệt hại

c. Hợp đồng vô hiệu do giả tạo:

Theo điều 129 BLDS 2005:"Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách

giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này.Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh trách nhiệm với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu".

Như vậy, hợp đồng dân sự giả tạo được hiểu là hợp đồng được xác lập nhằm che giấu một giao dịch khác thể hiện ý chí đích thực của chính các bên, được xác lập trên cơ sở hành vi gian dối, hợp đồng mà các bên "tự nguyện" tham gia nhưng mục đích giao dịch được thể hiện không phù hợp với mục đích các bên thật sự quan tâm, hướng tới, mong muốn đạt được (yếu tố giả tạo được biểu hiện thông qua dấu hiệu các bên thông đồng với nhau để tạo nên sự thiếu thống nhât giữa ý chí và tuyên bố ý chí của các bên khi giao kết hợp đồng )

Hai trường hợp được coi là hợp đồng giả tạo là: giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác và giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba

Hậu quả pháp lý: với trường hợp 1 thì hợp đồng giả tạo vô hiệu, hợp đồng bị che giấu vẫn có hiệu lực nếu như hợp đồng đó đáp ứng được đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng; với trường hợp 2 thì hợp đồng giả tạo sẽ vô hiệu

d. Hợp đồng vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập:

Theo điều 130 BLDS : “Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên,

người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi

Ngày đăng: 20/03/2019, 11:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w