Để cho các chủ thể có cách hành xử đúng khi tham gia giao dịch dân sự qua đó bảo đảm được quyền và lợi ích của các bên trên cơ sở tôn trọng đạo đức, tập quán tốt đẹp của dân tộc cũng như
Trang 1MỤC LỤC:
MỞ BÀI
I Một số vấn đề chung về hợp đồng dân sự vô hiệu.
1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng dân sự vô hiệu.
2 Phân loại hợp đồng dân sự vô hiệu.
3 Các dạng hợp đồng vô hiệu
4 Hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu.
II Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp đồng dân sự vô hiệu
1 Về hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức
2 Về hợp đồng dân sự vi phạm tính tự nguyện của các chủ thể tham gia
3. Về hợp đồng vô hiệu được giao kết bởi người không có năng lực hành vi, người hạn chế năng lực hành vi.
KẾT LUẬN
Trang 2Hợp đồng dân sự vô hiệu
Như chúng ta đã biết, hợp đồng dân sự là một dạng của giao dịch dân sự, hơn nữa là loại giao dịch dân sự phổ biến nhất trong cuộc sống hàng ngày Xét về bản chất thì hợp đồng dân sự là cách thức thể hiện ý chí chủ quan của các bên khi xác lập giao dịch dân sự, nhằm đảm bảo thỏa mãn mục đích của các bên khi tham gia giao kết Chính vì vậy, giao dịch dân sự rất phong phú và đa dạng
Để cho các chủ thể có cách hành xử đúng khi tham gia giao dịch dân sự qua đó bảo đảm được quyền và lợi ích của các bên trên cơ sở tôn trọng đạo đức, tập quán tốt đẹp của dân tộc cũng như trong việc thiết lập trật tự, kỷ cương về quản lý hành chính nhà nước, pháp luật dân sự nước ta đã có những quy định rất chặt chẽ về hợp đồng dân sự Trong đó, pháp luật dân sự còn quy định về hợp đồng dân sự vô hiệu nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, của xã hội và của chính các chủ thể tham gia giao dịch Tuy nhiên, thực tế việc áp dụng và thực hiện các quy định về hợp đồng dân sự vô hiệu của tòa án vẫn còn những lúng túng, khó khăn nhất định Do vậy, việc nhận thức một cách đúng đắn để áp dụng giải quyết các trường hợp về hợp đồng dân sự
vô hiệu là rất cần thiết trong việc đảm bỏa lợi ích của nhà nước, của xã hội và của các chủ thể tham giai vào hợp đồng dân sự
Dưới đây là một số vấn đề từ lý luận đến thực tiễn về hợp đồng dân sự vô hiệu
I Một số vấn đề chung về hợp đồng dân sự vô hiệu.
1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng dân sự vô hiệu.
Có thể nói chung nhất về hợp đồng dân sự vô hiệu, đó là hợp đồng không tuân thủ một trong các quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân
sự Các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và hợp đồng dân sụ nói riêng được quy định cụ thể tại Điều 122 BLDS Theo đó, một hợp đồng dân sự hợp
Trang 3pháp phải tuân thủ ba điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, và trong một số trường hợp cụ thể phải tuân thủ thêm điều kiện về hình thức
Do vậy, những hợp đồng dân sự không tuân thủ một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự sẽ bị coi là vô hiệu và pháp luật không bảo vệ và đảm bảo cho những hợp đồng dân sự đó được thực hiện trên thực tế
Xuất phát từ khái niệm và tính chất của hợp đồng vô hiệu có thể nhận thấy một
số đặc điểm của hợp đồng dân sự vô hiệu đó là:
- Hợp đồng dân sự vô hiệu không được pháp luật bảo vệ Điều này có nghĩa pháp luật quy định không làm phát sinh quyền hoặc nghĩa vụ cho các bên tham gia giao dịch đó Còn trong trường hợp hợp đồng dân sự vô hiệu tương đối thì giao dịch này vẫn có thể được tiếp tục thực hiện nhưng việc thực hiện hợp đồng không được pháp luật bảo vệ
- Tính vô hiệu được xác định được từ thời điểm các bên xác lập (từ khi giao kết
hoặc tuyên bố ý chí) Khoản 1 Điều 137 có quy định: “giao dịch dân sự vô hiệu
không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập”.
- Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu có thể là hậu quả pháp lý bất lợi cho các bên tham gia Đó là trường hợp người tham gia giao dịch có lỗi khiến cho hợp đồng không đáp ứng được một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự Ví dụ: người ép buộc người khác phải thực hiện giao dịch nhằm tránh tổn hại
về vật chất và tinh thần sẽ phải gánh chịu hậu bất lợi đồng thời có trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu có thiệt hại xảy ra
* ý nghĩa của việc quy định giao dịch dân sự vô hiệu
- Thứ nhất, nó định hướng tạo khuôn mẫu cho các chủ thể pháp luật dân sự khi tiến hành xác lập, giao kết một hợp đồng dân sự cần phải tuân theo các quy tắc, quy định của pháp luật Theo đó, các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng dân sự không được thỏa thuận hay thi hành trái pháp luật, trái đạo đức của xã hội
Trang 4- Thứ hai, nó ngăn chặn các loại hợp đồng dân sự mà pháp luật không cho phép hoặc trái với đạo đức của xã hội Qua đó bảo đảm cho các giao lưu dân sự hợp pháp được ổn định và phát triển, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
- Thứ ba, nó còn góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia giao dịch hoặc người thứ ba ngay tình, đảm bảo tính công bằng khi giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu
- Thứ tư, các quy định của pháp luật đóng vai trò là cơ sở pháp lý mang tính nguyên tắc cho các bên có thể tự hòa giải với nhau khi xảy ra tranh chấp hoặc được tòa án áp dụng khi giải quyết các tranh chấp về hợp đồng dân sự vô hiệu được các chủ thể khởi kiện tại tòa án
2 Phân loại hợp đồng dân sự vô hiệu.
Đối với hợp đồng dân sự, có thể phân thành hai nhóm là: hợp đồng dân sụ vô hiệu tuyệt đối và hợp đồng dân sự vô hiệu tương đối Sở dĩ có sự phân biệt hợp đồng dân sụ vô hiệu là dựa vào những đặc điểm khác biệt giữa hai loại hợp đồng dân sự
vô hiệu như sau:
Thứ nhất, về trình tự vô hiệu của giao dịch.
Điều khác hiệt cơ bản có thể nhận thấy đầu tiên giữa hai loại hợp đồng dân sự vô hiệu này đó là trình tự tuyên bố hợp đồng bị vô hiệu Theo đó, hợp đồng dân sự vô hiệu tuyệt đối thì mặc nhiên bị coi là vô hiệu Còn đối với hợp đồng dân sự vô hiệu tuyệt đối thì không mặc nhiên vô hiệu mà chỉ trở nên vô hiệu khi có đơn yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan
Thứ hai, về thời hạn yêu cầu tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu.
Đối với các hợp đồng dân sự vô hiệu tuyệt đối thì thời hạn yêu cầu của tòa án tuyên bố hợp đồng dân sự không bị hạn chế Trong khi đó, đối với hợp đồng dân sự
vô hiệu tương đối thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu tòa án tuyên bố vô hiệu là hai năm
kể từ ngày hợp dồng dân sự được xác lập
Trang 5Tuy nhiên, có một trường hợp ngoại lệ đó là pháp luật quy định trường hợp vô hiệu do vi phạm các quy định bắt buộc về hình thức mặc dù thuộc nhóm vô hiệu tuyệt đối tuy nhiên thời hạn yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu là hai năm như trường hợp của hợp đồng dân sự vô hiệu tương đối
Thứ ba, về mục đích bảo vệ của pháp luật
Dựa vào sự phân loại các hợp đồng dân sự vô hiệu có thể thấy sự khác biệt về mục đích bảo vệ như sau: các trường hợp pháp luật quy định hợp đồng dân sự vô hiệu tuyệt đối nhằm mục đích bảo vệ các lợi ích công, lợi ích của xã hội nói chung, còn các trường hợp pháp luật quy định vô hiệu tương đối là nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của chính các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng
Như vậy, dựa trên sự khác biệt giữa hai loại hợp đồng dân sự, có thể phân nhóm các hợp đồng dân sự vô hiệu như sau:
- Nhóm hợp đồng dân sự vô hiệu tương đối gồm: hợp đồng xác lập bởi người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự; hợp đồng xác lập do nhầm lẫn; hợp đồng có sự lừa dối, đe dọa; hợp đồng được giao kết do người có năng lực hành vi dân sự nhưng tại thời điểm xác lập không nhận thức được hành vi của mình
- Nhóm hợp đồng dân sự vô hiệu tuyệt đối gồm: hợp đồng dân sự vi phạm vào các điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức xã hội; hợp đồng được xác lập một cách giả tạo nhằm che dấu một giao dịch khác hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba
3 Các dạng hợp đồng vô hiệu
Như ở trên đã phân tích, hợp đồng dân sự vô hiệu là hợp đồng vi phạm một trong
các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự Cho nên có thể phân loại các dạng hợp đồng vô hiệu theo tính chất vi phạm các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
a Hợp đồng dân sự vô hiệu do người tham gia giao dịch không có năng lực
hành vi dân sự
Trang 6Người tham gia hợp đồng dân sự nếu không có đủ năng lực hành vi dân sự sẽ không thể có đủ điều kiện để tự do ý chí khi tham gia giao kết hợp đồng Do vậy, việc giao kết hợp đồng của họ phải được xác lập, thực hiện dưới sự kiểm soát của người đại diện Khi hợp đồng dân sự do người mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi xác lập, thực hiện thì trong thời hạn hai năm kể từ ngày hợp đồng đó được xác lập, theo yêu cầu của người đại diện cảu người đó, Tòa án tuyên
bố hợp đồng vô hiệu
Trường hợp người có năng lực hành vi nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức được hành vi của mình cũng bị coi là vô hiệu theo quy định tại Điều 133 BLDS
b Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức
xã hội
Một trong những nguyên tắc cơ bản của luật dân sự là các bên phải tuân thủ pháp luật khi xác lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình ĐỒng thời, các bên phải bảo đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Do vậy, khi có những giao dịch dân sự có nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức xã hội thì giao dịch đó sẽ bị coi là vô hiệu mà không phụ thuộc vào ý chí của các bên tham gia giao dịch Hợp đồng dân sự vo hiệu sẽ bị coi là vô hiệu toàn bộ Trong trường hợp này, tài sản giao dịch và hoa lợi, lợi tức thu được sẽ sung vào công quỹ nhà nước Khoản 2 Điều 136 BLDS không quy định hạn chế về thời gian yêu cầu tóa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức xã hội Do đó, các bên tham gia hợp đồng, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đông bô hiệu bất cứ lúc nào
c Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm sự tự nguyện của chủ thể
Nguyên tắc tự do, tự nguyện, câm kết, thỏa thuận là một trong những nguyên tắc
cơ bản trong giao lưu dân sự Để thực hiện triệt để nguyên tắc đó thù các bên phải
Trang 7hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được ép buộc bên nào Trong giao dịch dân sự nói chung cũng như hợp đồng dân sự nói riêng cũng vậy, khi các bên xác lập giao dịch dân sự mà vi phạm nguyên tắc tự do, tự nguyện, cam kết thỏa thuận thì giao dịch đó bị xem là vô hiệu
d Hợp đồng dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức của hợp đồng
Tuân thủ hình thức phù hợp với quy định của pháp luật là một trong những điều kiện của giao dịch dân sự nói chung và hợp đồng dân sự nói riêng Nghĩa là trong quá trình thực hiện hành vi giai dịch dân sự, bên cạnh việc cho phép các chủ thể tham gia có quyền lựa chọn hình thức giao dịch, để đảm bảo trật tự quản lý nhà nước, pháp luật cũng có quy định bắt buộc các bên tham gia giao dịch dân sự trong một số trường hợp nhất định phải tuân theo hình thức nhất định Trong những trường hợp nhất định như vậy, nếu các bên không tuân theo hình thức quy định đó thì hợp đồng bị coi là vô hiệu Đối với trường hợp hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ các quy định về hình thức thì pháp luật quy định thời hạn yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu là hai năm kể từ ngày hợp đồng được giao kết
4 Hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu.
Hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu là sự phản ứng của nhà nước buộc
các bên thực hiện nghĩa vụ về hậu quả do việc tham gia vào hợp đồng dân sự bị tòa
án tuyên bố vô hiệu, nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mà pháp luật dân sự điều chỉnh
* Hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu căn cứ theo quy định của BLDS năm 2005 với nguyên tắc chung như sau:
- Hợp đồng dân sự vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên kể
từ thời điểm xác lập vì coi như chưa có và do đó không có giá trị để thi hành
- Khi các bên đang thực hiện hoặc đã thực hiên hợp đồng thì phải chấm dứt việc thực hiện và giải quyết hậu quả của hợp đồng dân sự vô hiệu đó theo nguyên tắc
Trang 8hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bồi thường thiệt hại nếu có lỗi hoặc tài sản giao dịch và hoa lợi, lợi tức thu được có thể bị sung công quỹ nhà nước
* Khi giao dịch dân sự bị tuyên bố là vô hiệu, các chủ thể tham gia giao dịch phải giải quyết những hậu quả sau:
- Nghĩa vụ hoàn trả những gì đã nhận
Đây là biện pháp nhằm khôi phục tình trạng ban đầu, điều này có nghĩa là lặp lại nguyên trạng hoặc nguyên giá trị thông qua biện pháp hoàn trả cho nhau những gì đã nhận (nếu tài sản giao dịch không bị tịch thu) Ví dụ hợp đồng mua bán nhà ở bị vô hiệu thì bên mua nhà phải trả lại nhà đã nhận nguyên trạng, bên bán nhà phải trả lại
đủ tiền đã nhận
Phương thức hoàn trả trước tiên do các do các bên thỏa thuận (như thời gian, địa
điểm…) Nếu các bên không thỏa thuận được được thì áp dụng quy định tại khoản 2
Điều 137 như sau: trước hết các bên hoàn trả bằng hiện vật , trong trường hợp vật bị
mất, bị thất lạc, hư hỏng thì phải hoàn trả lại vật cùng loại hoặc một khoản tiền tương đương với giá trị của hiện vật Các bên có thể thỏa thuận với nhau về khoản tiền phải trả thay thế cho hiện vật hoặc áp dụng thời giá thị trường tại thời điểm hoàn trả, hoặc giá trị tương đương theo quyết định của tòa án
Phạm vi hoàn trả “những gì đã nhận” được hiểu là tất cả các đối tượng của hợp đồng đã bị coi là vô hiệu Tuy nhiên, việc hoàn trả những gì đã nhận chỉ áp dụng khi pháp luật dân sự công nhận và cho phép bao gồm tài sản và quyền tài sản
- Bồi thường thiệt hại
Theo khoản 2 Điều 137 thì: “bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường” Về nguyên tắc chung, việc bồi thường thiệt hại chỉ áp dụng khi có thiệt hại xảy ra trên thực tế Tuy nhiên, xem xét vấn đề này, BLDS nhấn mạnh yếu tố lỗi Thông thường, theo quy định của pháp luật, việc bồi thường thiệt hại chỉ áp dụng khi có đầy đủ bốn điều kiện sau:
+ Có thiệt hại xảy ra
Trang 9+ Thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra.
+ Có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật
+ Có lỗi của người gây thiệt hại
Như đã nói ở trên, yếu tố lỗi là điều kiện hết sức quan trọng, là cơ sở đầu tiên để xem xét vấn đề bồi thường thiệt hại Lỗi có thể phân biệt là lỗi cố ý hay vô ý Tùy vào mức độ lỗi mà người gây thiệt hại phải chịu thiệt hại do hành vi gây thiệt hại của mình
- Tịch thu tài sản về hoa lợi, lợi tức
Điều 137 khoản 2 BLDS quy định: “tùy từng trường hợp xét theo tính chất của giao dịch dân sự vô hiệu, tài sản giao dịch và hoa lợi, lợi tức thu được có thể bị tịch thu theo quy định của pháp luật”
Đây là điều khoản tùy nghi theo quy định của pháp luật cho phép cơ quan áp dụng pháp luật được phép lựa chọn biện pháp tịch thu trên cơ sở quy định của pháp luật Thông thường, hợp đồng dân sự vô hiệu chỉ có thể bị tịch thu xung công quỹ nhà nước đối với hai trường hợp hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức xã hội và giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa
Và tài sản bị tịch thu công quỹ thường là tài sản nhà nước cấm lưu thông trong giao lưu dân sự như: chất nổ, chất ma túy, chất kích thích…hoặc tài sản dùng lừa dối, đe dọa nhưng các bên vẫn thực hiện giao dịch
II Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp đồng dân sự vô hiệu
1 Về hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức.
Một trong các vấn đề hiện nay mà các nhà khoa học pháp lý cũng như nhà lập pháp đang quan tâm, đó là hình thức của hợp đồng dân sự có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu lực của hợp đồng
Tất nhiên, cần phải xem hình thức là điều kiện để một hợp đồng dân sự có hiệu lực Tuy nhiên vấn đề là ở chỗ hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm các quy định về
Trang 10hình thức có nên quy định là hợp đồng dân sự vô hiệu tuyệt đối hay không? Hay chỉ nên hiểu đó là hợp đồng dân sự vô hiệu tương đối? Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với nhận thức và giải quyết các vụ việc trên thực tế
Hiện nay, hợp đồng dân sự vi phạm các quy định về hình thức được xếp vào nhóm hợp đồng dân sự vô hiệu tuyệt đối Đó là vì: mục đích đảm bảo an toàn pháp
lý trong việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự, pháp luật quy định một số hợp đồng dân sự phải tuân theo một hình thức nhất định như: bằng văn bản; văn bản có công chứng, chứng thực… Cho nên nếu các chủ thể tham gia hợp đồng dân sự không tuân thủ những điều kiện bắt buộc đó thì hợp đồng đó sẽ bị tuyên là vô hiệu tuyệt đối và đương nhiên không có giá trị Quy định như vậy là nhằm đảm bảo các quy định của pháp luật, thể hiện tính nghiêm khắc của nhà nước
Tuy nhiên, hiện nay có nhiều ý kiến cho rằng: hình thức của hợp đồng dân sự chỉ
là sự thể hiện ý chí của các bên tham gia giao kết hợp đồng lên “giấy tờ”, là việc chứng nhận có một sự kiện pháp lý xảy ra để khi có tranh chấp tòa án sẽ xác định có hay không sự kiện này để xử lý Hơn nữa, cần nhận thấy rằng đặc điểm của hợp đồng dân sự đó là sự thống nhất ý chí của các bên tham gia Nếu pháp luật quy định hợp đồng dân sự không tuân thủ một hình thức nhất định là vô hiệu tuyệt đối sẽ dẫn đến một khoảng cách nhất định giữa ý chí và hiệu lực của giao dịch
Cho nên, nếu pháp luật quy định hợp đồng vô hiệu về hình thức là hợp đồng vô hiệu tương đối như vậy sẽ tạo điều kiện cho sự thỏa thuận giữa các chủ thể, tránh được tình trạng một bên lợi dụng thiện chí của bên kia khi giao kết hợp đồng nhằm trục lợi trong trường hợp yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu
Trên thực tế, pháp luật cũng có quy định “mềm” như sau: “Trong trường hợp pháp luật có quy định hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không