1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN Hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu

32 1,3K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 670,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU: Trong thực tiễn xét xử, các phán quyết của Tòa án khi giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu đã tạo ra nhiều bất cập khi thi hành trên thực tế. Khi hợp đồng vô hiệu thì hợp đồng không có giá trị pháp lý nữa, hợp đồng sẽ không được thực hiện nữa nếu chưa thực hiện, các bên dừng không thực hiện nữa nếu hợp đồng đang thực hiện. Còn việc hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, khôi phục lại tình trạng như ban đầu, thì việc hoàn trả tài sản như thế nào nếu tài sản đó không còn tồn tại, hay giá trị tài sản bị giảm sút, mặc dù các nhà làm luật đã dự liệu được tình huống này bằng quy định “không hoàn trả được bằng hiện vật thì hoàn trả bằng tiền” nhưng lại không có hướng dẫn cụ thể, khi nào thì được coi là không hoàn trả được bằng tài sản, việc tính số tiền phải hoàn trả là bao nhiêu cũng không có quy định rõ. Bên cạnh đó, cũng có quy định bên nào có lỗi gây ra hợp đồng vô hiệu thì phải bồi thường nhưng cũng không có hướng dẫn cụ thể. Vì chưa có những quy định, hướng dẫn cụ thể nên khi có tranh chấp xảy ra, bản án, quyết định của Tòa án chưa đảm bảo quyền lợi của các chủ thể tham gia. Vậy, hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu được quy định như thế nào trong quy định của pháp luật và đã có những bất cập gì khi thực hiện nhưng quy định này trên thực tế. Bài tiểu luận về đề tài “hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu” sẽ trả lời câu hỏi trên. MỤC LỤC MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU 1 1.1 Khái niệm hợp đồng dân sự vô hiệu 1 1.1.1 Khái niệm hợp đồng dân sự 1 1.1.2 Hợp đồng dân sự vô hiệu 2 1.2 Xác định hợp đồng dân sự vô hiệu theo quy định của pháp luật 4 1.2.1 Hợp đồng dân sự vô hiệu do chủ thể tham gia không có năng lực hành vi dân sự 4 1.2.2 Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội 6 1.2.3 Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm hình thức của hợp đồng 7 1.2.4 Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm sự tự nguyện 8 1.3 Tuyên bố hợp đồng vô hiệu 10 1.3.1 Chủ thể có quyền tuyên bố hợp đồng vô hiệu và chủ thể có quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu 10 1.3.2 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu 11 CHƯƠNG 2. HẬU QUẢ PHÁP LÝ KHI HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU 12 2.1 Khái niệm hậu quả pháp lý 12 2.2 Hậu quả pháp lý khi hợp đồng vô hiệu 13 2.2.1 Về mặt giá trị pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu 13 2.2.2 Về mặt lợi ích vật chất 14 2.2.3 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hợp đồng bị vô hiệu 16 2.2.4 Bảo vệ quyền lợi cho người thứ ban ngay tình khi hợp đồng vô hiệu 17 2.3 Bất cập khi xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu 19 2.4 Thực tiễn xét xử và kiến nghị 27 KẾT LUẬN 31 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 1

Page 1

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU

1.1 Khái niệm hợp đồng dân sự vô hiệu

1.1.1 Khái niệm hợp đồng dân sự

Chế định hợp đồng đã hình thành từ lâu đời trong trong lịch sử pháp luật thế giới Điển hình nhất chính là pháp luật La Mã, một hệ thống pháp luật ra đời từ rất sớm, đánh dấu những nguyên tắc quan trọng đầu tiên cho chế định hợp đồng Ở nước ta, hợp đồng cũng đã xuất hiện từ rất lâu, nhưng được ghi nhận chính thức sớm nhất trong văn bản pháp luật là Bộ luật Hồng Đức 1483

Hợp đồng là thuật ngữ pháp lý được sử dụng dùng để chỉ các giao dịch dân

sự thông qua việc thỏa thuận để chuyển giao cho nhau các lợi ích nhất định giữa các bên thỏa thuận Thuật ngữ này chỉ mới được sử dụng chính thức trong văn bản pháp luật từ khi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 và Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991 được ban hành Bộ luật Dân sự 1995 (BLDS 1995) và Bộ luật Dân sự 2005 ( BLDS 2005) tiếp tục sử dụng thuật ngữ “hợp đồng dân sự”1

Hợp đồng là phương tiện pháp lý quan trọng để cho công dân thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần trong sản xuất, kinh doanh cũng như sinh hoạt tiêu dùng Hợp đồng được nhìn nhận dưới hai góc độ:

Theo phương diện khách quan, hợp đồng được hiểu là các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các qua hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau

Theo phương diện chủ quan, hợp đồng được hiểu là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong những quan

hệ xã hội cụ thể Hợp đồng trong Bộ luật Dân sự được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các quan hệ dân sự, thương mại, lao động Theo nghĩa này tại Điều 388 BLDS

2005 đã đưa ra định nghĩa chung nhất về hợp đồng

1Trường Đại học Luật TPHCM (2013), Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Tr.123

Trang 2

Điều 127 BLDS 2005 quy định: “Các giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu”

Khoản 1 Điều 410 BLDS 2005 quy định:

“Các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 127 đến Điều 138 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu”

Nên chúng ta sẽ áp dụng các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều

127 đến Điều 138 để tìm hiểu về hợp đồng dân sự vô hiệu

Theo quy định tại Điều 122 BLDS 2005 thì để một hợp đồng phát sinh hiệu lực phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:

“a, Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b, Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c, người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện”

Ngoài quy định trên thì tại khoản 1 Điều 411 BLDS 2005 có quy định:

“Trong trường hợp ngay từ khi ký kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được vì lý do khách quan thì hợp đồng này bị vô hiệu” Quy định này cũng nói đến

đối tượng thực hiện của hợp đồng cũng là một trong những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng nhưng quy định này chỉ được đề cập trong từng chế định cụ thể của giao dịch dân sự chứ không được bao quát trong Điều 122 BLDS 2005 Nên chúng

Trang 3

 Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối là hợp đồng mặc nhiên bị coi là vô hiệu

 Hợp đồng vô hiệu tương đối thì chỉ trở nên vô hiệu khi có đủ các điều kiện nhất định: khi có đơn yêu cầu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan và theo quyết định của Tòa án

- Căn cứ vào phạm vi bị vô hiệu, dựa vào điều khoản hợp đồng

bị vô hiệu

chia thành hai loại hợp đồng vô hiệu toàn bộ và hợp đồng vô hiệu từng phần

 Hợp đồng vô hiệu toàn bộ là hợp đồng có toàn bộ nội dung bị vô hiệu, hoặc tuy chỉ có một phần nội dung bị vô hiệu nhưng phần đó lại ảnh hưởng đến hiệu lực của toàn bộ hợp đồng

 Hợp đồng vô hiệu từng phần là hợp đồng có một phần nội dung không

có giá trị pháp lý nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần khác của hợp đồng đó

- Căn cứ vào điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, có thể phân loại hợp đồng vô hiệu thành các loại sau: hợp đồng vô hiệu do người tham gia là cá nhân không có năng lực hành vi dân sự, hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm, đạo đức

xã hội, hợp đồng vô hiệu do không có sự tự nguyện của chủ thể, hợp đồng vô hiệu

Trang 4

1.2 Xác định hợp đồng dân sự vô hiệu theo quy định của pháp luật

Như đã phân tích ở trên thì hợp đồng sẽ bị vô hiệu khi không đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu của hợp đồng Nên chỉ cần một hợp đồng thiếu một trong các điều kiện tại Điều 122 thì sẽ bị vô hiệu Sau đây là các trường hợp mà một hợp đồng sẽ

Người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi là người có một phần năng lự hành vi dân sự, viêc xác lập, thực hiện hợp đồng của họ phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoăc pháp luật có quy định khác Đối với trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi mà có tài sản riêng bảo

Trang 5

Người bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì hợp đồng liên quan đến họ cũng phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện (Điều 22)

Người bị Tòa án tuyên hạn chế năng lực hành vi dân sự thì chỉ được thực hiện những giao dịch nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày còn những giao dịch liên quan đến tài sản của người đó thì phải có sự đồng ý người đại diện theo pháp luật (Điều 23)

 Đối với chủ thể là pháp nhân, theo quy định tại Điều 86 BLDS 2005 thì năng lực chủ thể của pháp nhân phát sinh từ thời điểm pháp nhân được thành lập

và chấm dứt từ thời điểm chấm dứt pháp nhân Hoạt động của pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền, hai người này nhân danh pháp nhân trong quan hệ dân sự

 Đối với chủ thể là hộ gia đình, tổ hợp tác thì các giao dịch liên quan đến hai chủ thể này được thực hiện thông qua người đại diện là chủ hộ và tổ trưởng

tổ hợp tác Chủ hộ và tổ trưởng tổ hợp tác có thể ủy quyền cho các thành viên khác trong hộ gia đình hoặc trong tổ hợp tác thực hiện một số công việc thay mình

Như vậy, khi những chủ thể trên tham gia quan hệ hợp đồng thì hợp đồng được ký kết đó phải trong phạm vi cho phép của pháp luật tương ứng với từng chủ thể nhất định Hay nói cách khác là những chủ thể khi tham gia xác lập quan hệ hợp đồng, thì họ phải là người có đầy đủ năng lực hành vi để tham gia quan hệ đó, nếu

họ tham gia vào xác lập một hợp đồng mà năng lực hành vi của họ không đáp ứng

đủ điều kiện để tham gia thì hợp đồng đó sẽ bị vô hiệu Ví dụ: A bị Tòa án tuyên hạn chế năng lực hành vi dân sự, ký kết hợp đồng mua tài sản với B, hợp đồng này

Trang 6

Page 6

A giao kết không có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, nên hợp đồng vô hiệu Vì A là người hạn chế năng lực hành vi dân sự, nên những giao dịch liên quan đến tài sản của A đều phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, nhưng trong trường hợp này đã không có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật nên hợp đồng vô hiệu do chủ thể tham gia giao dịch không có năng lực hành vi dân sự Hoặc hợp đồng của pháp nhân mà không được ký kết bởi người có thẩm quyền thì cũng bị vô hiệu

1.2.2 Hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

Theo quy định tại Điều 128 BLDS 2005 thì hợp đồng có mục đích và nội

dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu

 Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định

 Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng

Theo quy định tại Điều 123 BLDS 2005 thì mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó, tức là các bên ký kết hợp đồng với mục đích bất hợp pháp thì hợp đồng đó vô hiệu Mục đích của hợp đồng thường được thể hiện trong các điều khoản của hợp đồng hoặc

có thể được ghi ra trong lời nói đầu của hợp đồng Ví dụ mục đích của hợp đồng vi phạm pháp luật như, hợp đồng tặng cho ký kết nhằm mục đích là tẩu tán tài sản Đối với nội dung của hợp đồng thì tại Điều 402 BLDS 2005 có quy định những nội dung chủ yếu như là: đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm; giá, phương thức thanh toán; thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; quyền nghĩa vụ của các bên… Chúng ta có thể hiểu nội dung của hợp đồng ở đây là tất cả những điều khoản mà các bên đã giao kết nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, bao gồm cả điều khoản cơ bản và những điều khoản khác Ví dụ một điều khoản của hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật như là: hợp đồng mua bán tài sản có đối tượng mua bán là vũ khí

Trang 7

Page 7

quân dụng hay là hợp đồng mua bán có điều khoản phương thức thanh toán là ngoại

tệ, hoặc có thể là hợp đồng mua bán nội tạng cơ thể người

Như vậy, khi một hợp đồng mà có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì sẽ bị vô hiệu

1.2.3 Hợp đồng vô hiệu do vi phạm hình thức của hợp đồng

Trong một vài trường hợp pháp luật có quy định hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, như vậy trong những trường hợp pháp luật có quy định này mà hình thức của hợp đồng không phù hợp với quy định của pháp luật thì hợp đồng sẽ bị vô hiệu

Theo quy định tại Điều 401 BLDS 2005 thì hợp đồng có thể được giao kết bằng các hình thức bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể Trong trường hợp, pháp luật có quy định hợp đồng phải đươc thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân thủ các quy định đó Theo như quy định trên thì hợp đồng sẽ vi phạm về hình thức trong các trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất, hợp đồng không được giao kết bằng văn bản Khi pháp

luật có quy định văn bản là hình thức bắt buộc của hợp đồng thì khi không giao kết hợp đồng bằng văn bản thì tức là đã vi phạm hình thức của hợp đồng Ví dụ, tại

Điều 570 có quy định “hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản” thì khi

giao kết hợp đồng bảo hiểm thì phải lập thành văn bản, nếu như không lập văn bản thì đã vi phạm hình thức của hợp đồng và hợp đồng vô hiệu

Trường hợp thứ hai, hợp đồng không được công chứng, chứng thực Quy

định buộc hợp đồng phải có công chứng, chứng thực nhằm mục đích để nhà nước quản lý, kiểm tra, giám sát các hoạt động liên quan đến những đối tượng đặc biệt như nhà ở, đất đai… Ví dụ: hợp đồng mua bán nhà phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực; hợp đồng tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu Việc công chứng, chứng thực này còn

có một ý nghĩa quan trọng đó là thời điểm công chứng, chứng thực chính là thời

Trang 8

Page 8

điểm có hiệu lực của hợp đồng, ngoài ra nó còn làm tăng tính công khai của hợp đồng khi có sự tham gia của chủ thể đăc biệt mang quyền lực nhà nước

Trường hợp thứ ba, hợp đồng giao kết nhưng không xin phép hoăc đăng ký

Mục đích của quy định này là để bảo vệ quyền lợi của người thứ ba, cũng như giúp

hỗ trợ giải quyết một số hậu quả pháp lý trong một số hợp đồng có yêu cầu thủ tục đăng ký Ví dụ: quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 83/2010/ NĐ-CP về đăng ký giao dịch bảo đảm thì trong những trường hợp sau phải đăng ký giao dịch bảo đảm:

“a) Thế chấp quyền sử dụng đất;

b) Thế chấp quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng: c) Thế chấp tàu bay, tàu biển:

d) Thế chấp một tài sản để đảm bảo thực hiện nhiều nghĩa vụ;

đ) Các trường hợp khác, nếu pháp luật có quy định”

Quy định này ngoài việc có ý nghĩa xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, còn có ý nghĩa quan trọng hơn đối với các chủ thế tham gia, là xác định thứ tự

ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản trong giao dịch

Như vậy, hợp đồng vi phạm hình thức là trường hợp pháp luật có quy định hình thức hợp đồng phải được thể hiện dưới dạng nhất định nhưng khi giao kết đã không thực hiện đúng dạng hợp đồng đó Như pháp luật quy định hợp đồng bảo hiểm phải ký kết bằng văn bản mà lại ký kết bằng lời nói, hay hợp thế chấp tàu biển buộc phải đăng ký nhưng không đăng ký

1.2.4 Hợp đồng vô hiệu do vi phạm sự tự nguyện

Tự nguyện là nguyên tắc pháp lý cơ bản của pháp luật dân sự (Điều 4 BLDS 2005) Tự nguyện trong hợp đồng là sự tự nguyện trong việc xác lập thực hiện hợp đồng, chủ thể tham gia tự mình quyết định có tham gia hay không tham gia vào hợp

đồng theo ý chí của bản thân mà không phải chịu sự chi phối, tác động, can thiệp chủ quan nào từ những người khác Theo quy định của BLDS 2005 hợp đồng

bị coi là vi phạm sự tự nguyện nếu thuộc các trường hợp sau đây:

Thứ nhất, hợp đồng giả tạo Hợp đồng giả tạo là hợp đồng không phản ánh

đúng bản chất, sự thật của hợp đồng, hợp đồng này tạo lập chỉ để che dấu, trốn tránh

Trang 9

Page 9

một giao dịch khác Trong cuốn Bình luận Bộ luật Dân sự Việt Nam, Hoàng Thế

Liên viết hợp đồng dân sự giả tạo là hợp đồng “mà trong đó, việc thể hiện ý chí ra bên ngoài khác với ý chí nội tâm và kết quả thực hiện của các bên tham gia”

Điều 129 BLDS 2005 quy định hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo là hợp

đồng mà các bên xác lập “nhằm che dấu một giao dịch khác thì hợp đồng giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực trừ trường hợp giao dịch đó cũng bị

vô hiệu theo quy định của luật này” Trường hợp hợp đồng giả tạo “nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với người thứ ba thì hợp đồng đó vô hiệu”

Thứ hai, hợp đồng được xác lập do bị nhầm lẫn Nhầm lẫn được hiểu là sự

không trùng hợp ý chí của chủ thể được thể hiện với mong muốn của chủ thể đó Nhầm lẫn trong xác lập, giao kết hợp đồng là trường hợp không có sự thống nhất giữa ý chí và sự thể hiện ý chí, cụ thể là những thỏa thuận, cam kết không phản ánh đúng những gì mà các chủ thể xác lập đã biết và mong muốn đạt được Theo quy định tại Điều 131 BLDS 2005 thì hợp đồng dân sự bị nhầm lẫn bị tuyên vô hiệu khi: hợp đồng này nhầm lẫn về nội dung, sự nhầm lẫn này là do hành vi có lỗi vô ý của một bên, sau khi bên bị nhầm lần đã yêu cầu bên kia thay đổi nội dung nhưng bên kia không chấp nhận thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu

Thứ ba, hợp đồng xác lập do bị lừa dối Điều 132 BLDS quy định: “Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó” Theo quy định này những hành vi bị coi là

lừa dối nếu có các dấu hiệu như: có hành vi của một bên hoặc bên thứ ba cung cấp thông tin sai sự thật, nội dung lừa dối là về chủ thể, tính chất của đối tượng, nội dung của giao dịch

Thứ tư, hợp đồng xác lập do bị đe dọa Điều 132 quy định “Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình” Sự đe dọa ở

Trang 10

Page 10

đây có thể được thực hiện bằng hành vi bạo lực vật chất hoặc tinh thần, làm cho bên kia sợ hãi, tê liệt tinh thần mà phải giao kết hợp đồng trái với ý chí, mong muốn của mình Hành vi đe dọa này có thể được thực hiện bởi một bên của giao dịch hoặc bởi một người thứ ba nhằm buộc người khác phải giao kết hợp đồng với mình, người bị đe dọa là người buộc phải xác lập hợp đồng với bên kia

Thứ năm, xác lập hợp đồng trong lúc không nhận thức, điều khiển được hành vi Đây là trường hợp một người có năng lực hành vi dân sự dân sự đã giao kết

hợp đồng vào thời điểm người đó không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình Thời điểm mà một người trong tình trạng không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình là khi người đó đang trong tình trạng bị bệnh tâm thần, bệnh thần kinh tới mức không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, hoặc người đó đang sử dụng chất kích thích, chất ma túy dẫn đến việc mất khả năng nhận thức tạm thời…khi cá nhân rơi vào những trường hợp này thì những hợp đồng mà họ đã giao dịch có thể bị vô hiệu, vì khi giao kết hợp đồng không có sự tự nguyện của chủ thể tham gia

Như vậy, khi một hợp đồng được giao kết mà không có sự tự nguyện của các bên tham gia thì hợp đồng đó có thể bị vô hiệu

1.3 Tuyên bố hợp đồng vô hiệu

1.3.1 Chủ thể có quyền tuyên bố hợp đồng vô hiệu và chủ thể có quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu

Theo quy định của BLDS 2005 thì thẩm quyền xem xét và tuyên bố hợp đồng vô hiệu thuộc về Tòa án Việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu của Tòa án thường được áp dụng trong trường hợp hợp đồng vô hiệu tương đối, còn đối với hợp đồng

vô hiệu tuyệt đối thì không cần Tòa án phải tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì hợp đồng

đó vẫn bị coi là vô hiệu Thông thường các bên tự thỏa thuận với nhau không thực hiện hợp đồng nữa khi hợp đồng vô hiệu tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp các bên phải nhờ đến sự can thiệp của cơ quan có thẩm quyền để giải quyết vì như thế

sẽ đảm bảo an toàn hơn, có tính cưỡng chế cao hơn Hiện nay, theo quy định tại BLDS 2005 thì Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xem xét và tuyên bố hợp

Trang 11

Page 11

đồng vô hiệu, quy định này còn thiếu sót vì Trọng tài cũng có thẩm quyết giải quyết

về hợp đồng vô hiệu Điều 2 Luật Trọng tài Thương mại quy định: “Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài:

1 Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại

2 Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại

3 Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài”

Theo pháp luật của nước ta hiện nay, những tranh chấp thương mại thường được giải quyết bằng một trong hai con đường: Một là, giải quyết tại Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; hai là, giải quyết bằng trọng tài theo quy định của Luật Trọng tài thương mại số 54/2010/QH12 ngày 17/6/2010 Với tình hình quá tải trong công tác xét xử tại Tòa án thiết nghĩ chúng ta nên thừa nhận Trọng tài cũng có thẩm quyền tuyên bố hợp đồng vô hiệu để phù hợp với quy định của pháp luật liên quan và giảm thiểu gánh nặng cho Tòa án

Thẩm quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì tùy từng trường hợp có thể bên có quyền yêu cầu là bên có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; người có quyền lợi liên quan hoặc tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công công, lợi ích nhà nước

1.3.2 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu

Theo quy định tại Điều 136 BLDS 2005 thì thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu như sau:

Đối với trường hợp hợp đồng vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; hợp đồng dân sự

vô hiệu do bị nhầm lẫn; hợp đồng dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa; hợp đồng dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận và làm chủ được hành vi của mình; hợp đồng dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức thì thời hiệu là hai năm, kể từ ngày hợp đồng được xác lập Trong đó, thời điểm hợp đồng được xác lập là khi các bên đặt bút ký vào hợp đồng nếu hợp đồng là văn bản, thỏa thuận

Trang 12

Page 12

xong các điều khoản chủ yếu nếu hợp đồng bằng lời nói, hành vi nhận được sự đồng

ý, chấp nhận của bên được đề nghị giao kết,…nếu hợp đồng được giao kết gián tiếp

Đối với trường hợp hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội; hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo thì thời hiệu là không bị hạn

chế

CHƯƠNG 2 HẬU QUẢ PHÁP LÝ KHI HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU 2.1 Khái niệm hậu quả pháp lý

Theo cách hiểu thông thường chúng ta thường nghĩ hậu quả là kết quả không tốt của một việc làm, một hành động nào đó Ví dụ như: hậu quả của chiến tranh; hậu quả của thiên tai, lũ lụt; hậu quả của việc sử dụng chất kích thích; hậu quả do kinh tế lạm phát…Như chúng ta thấy thì khi nói đến hậu quả thì chúng ta nói đến một kết quả không hay từ một hành vi, sự việc nào đó Như vậy, hậu quả trước hết phải là một kết quả và kết quả đó xuất phát từ một hành vi, sự việc xảy ra trước đó Tuy nhiên, không phải tất cả mọi kết quả đều là hậu quả, hậu quả chỉ là một phần không hay, không tốt của kết quả mà thôi Tùy từng trường hợp khác nhau mà có những hậu hậu quả khác nhau, ví dụ: sau một trận động đất đã để lại những hậu quả kinh tế như là có khoảng 200 ngôi nhà bị phá hủy, hơn 5000 km đường giao thông

bị hư hỏng chẳng hạn; hay hậu quả về tính mạng sức khỏe thì có bao nhiêu người thiệt mạng và bao nhiêu người bị thương Hậu quả pháp lý được hiểu là những biện pháp pháp lý do pháp luật quy định áp dụng để xử lý các hành vi vi phạm Đối với những hành vi vi phạm pháp luật thì để lại những hậu quả pháp lý và tùy từng lĩnh vực pháp luật khác nhau mà có những hậu quả pháp lý khác nhau Ví dụ: hậu quả của một hành vi vi phạm pháp luật hình sự thì sẽ khác với một hành vi vi phạm pháp luật hành chính, kinh tế… thậm chí ngay cả trong cùng một lĩnh vực nhưng hậu quả của mỗi hành vi vi phạm khác nhau thì hậu quả cũng sẽ khác nhau, ví dụ như hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu khác với hậu quả của viêc hủy bỏ hợp đồng hay đơn phương chấm dứt hợp đồng

Trang 13

Page 13

Như vậy, hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu là hệ quả pháp lý phát sinh, thay đổi, chấm dứt theo quy định của pháp luật trong trường hợp hợp đồng vô hiệu

2.2 Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu

Khi một hợp đồng dân sự bị vô hiệu thì sẽ không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm xác lập Khi hợp đồng dân

sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì

đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường (Điều 137 BLDS) Như vậy khi một hợp đồng dân sự bị vô hiệu sẽ làm phát sinh nhiều hậu quả pháp lý khác nhau: giá trị hiệu lực của hợp đồng, các khoản lợi ích đã chuyển giao và thu được từ hợp đồng, thiệt hại thực tế đã gây ra cho các bên khi hợp đồng vô hiệu… Sau đây, chúng

ta cùng phân tích những hậu quả pháp lý sẽ phát sinh khi một hợp đồng dân sự bị vô hiệu

2.2.1 Về mặt giá trị pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu

Hợp đồng dân sự vô hiệu thì không làm không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm xác lập, có nghĩa là hợp đồng không còn giá trị pháp lý kể từ thời điểm xác lập Tuy nhiên, không phải hợp đồng nào cũng được phát hiện là vô hiệu ngay từ thời điểm được xác lập, nên việc giải quyết hậu quả của hợp đồng dân sự vô hiệu cũng khác nhau

Nếu hợp đồng đã được xác lập mà chưa thực hiện thì các bên không được tiếp tục thực hiện hợp đồng nữa; nếu hợp đồng đã được thực hiện một phần thì không được thực hiện nữa và các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu hợp đồng đã được thực hiện xong thì các bên phải hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận và phải khôi phục lại tình trạng ban đầu

Như vậy, khi một hợp đồng vô hiệu thì hợp đồng đó sẽ không còn giá trị pháp lý nữa Trường hợp, hợp đồng vô hiệu do vi phạm về hình thức của hợp đồng theo quy định tại Điều 134 BLDS 2005 thì khi có yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc các bên thực hiện quy định về

Trang 14

2.2.2 Về mặt lợi ích vật chất

Khi hợp đồng vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận Nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật

“Tình trạng ban đầu” là tình trạng tồn tại liền trước thời điểm xác lập hợp đồng Khi hợp đồng chưa xác lập thì không có phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên, nên luật đã quy định hiệu lực ở đây là kể từ thời điểm xác lập mà không phải là

từ thời điểm phát hiện hợp đồng vô hiệu hay thời điểm Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu, luật quy định như vậy còn với mục đích là vô hiệu hóa những nội dung trong hợp đồng mà các bên đã thực hiện

“Hoàn trả cho nhau những gì đã nhận” các bên phải trả lại cho nhau toàn bộ những gì đã nhận, trên thực tế hậu quả pháp lý này chỉ áp dụng cho những trường hợp hợp đồng đã được thực hiện một phần hoặc toàn bộ nhưng bị tuyên vô hiệu, còn đối với hợp đồng chưa được thực hiện, thì bởi vì các bên chưa thực hiện quyền

và nghĩa vụ gì với nhau nên các bên chưa nhận gì từ nhau nên không thể hoàn trả cho nhau những gì đã nhận được Vì vậy, hậu quả này không phải trong trường hợp hợp đồng vô hiệu nào cũng được áp dụng

Khi hoàn trả thì các bên hoàn trả cho nhau toàn bộ những gì đã nhận, tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng có thể hoàn trả được những gì đã nhận Vì thời gian từ thời điểm ký kết hợp đồng cho đến khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu là một khoảng thời gian khá dài, nên tài sản lúc này có thể không còn hoặc giá trị sử

Trang 15

Page 15

dụng đã thay đổi, hoặc tài sản phải hoàn trả là vật đặc định không còn tồn tại, hoặc một công việc đã được thực hiện Vì vậy, các nhà làm luật đã quy định thêm “nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì hoàn trả bằng tiền”, điều khoản này tạo nên một hành lang pháp lý mới chặt chẽ hơn khi giải quyết vụ việc Tuy nhiên, việc hoàn trả bằng tiền cũng đặt ra một số vấn đề cần phải chú ý, đó là việc xác định giá trị tài sản phải hoàn trả được tính như thế nào? Giá trị tài sản đó được xác định tại thời điểm nào?, tại thời điểm ký kết hợp đồng hay tại thời điểm hợp đồng bị tuyên

vô hiệu? Trường hợp nào thì được xem là không hoàn trả được bằng hiện vật.Trên thực tế việc này thường do các bên thỏa thuận với nhau

Ở các nước theo hệ thống thông luật và luật dân sự, trong trường hợp vật đặc định bị mất hoặc thực hiện một dịch vụ, thì được giải quyết bằng các học thuyết

“thực hiện công việc không có ủy quyền”, “được lợi không chính đáng”, “coi như không có hợp đồng” Theo những học thuyết này, người đã nhận tài sản hoặc tiền

một cách không công bằng hoăc được lợi một cách không chính đáng phải hoàn trả tài sản hoặc tiền cho người chủ sở hữu hợp pháp để không làm giàu bất chính hoặc

có quyền sử dụng tài sản không công bằng Khi này, để được hoàn trả lại nguyên

đơn phải chứng minh bị đơn được lợi bất chính và sự được lợi đó phải được thiết lập trên phí tổn của nguyên đơn hoặc do sự vi phạm các quyền của nguyên đơn Phạm vi hoàn trả được giới hạn ở khoản bị đơn được lợi chứ không phải là các tổn thất của nguyên đơn

Việc xác định giá trị tài sản cũng khó xác định trong trường hợp giá trị của tài sản bị giảm sút hoặc được tăng lên thì xác định như thế nào? Theo quan điểm của pháp luật Pháp, Mỹ tài sản được hoàn trả là tài sản thực tế các bên đã nhận được

từ nhau và có giá trị tai thời điểm giao kết Khi tài sản mà các bên đã nhận mà tài sản đã được sử dụng hoăc giá trị tài sản đã bị giảm so với ban đầu thì trong hệ thống pháp luật Pháp có quy định giải quyết như sau:

Thứ nhất, nếu tài sản đã được sử dụng và bên nhận tài sản đã làm cho

tình trạng của tài sản xấu đi thì trong trường hợp này nguyên đơn có quyền từ chối

Trang 16

Page 16

không nhận lại tài sản hoặc có thể nhận lại tài sản đồng thời yêu cầu bên kia bồi thưởng thiệt hại

Thứ hai, nêu bên hoàn trả lại tài sản đã sử dụng tài sản nhưng lại làm

tăng giá trị của tài sản thì khi hoàn trả lại tài sản bên hoàn trả có quyền yêu cầu bồi thường những chi phí hợp lý để làm tăng giá trị sử dụng của tài sản

Việc hoàn trả tài sản là hiện vật cũng khác khi hoàn trả lại tài sản là dịch vụ Thông thường, việc hoàn trả một tài sản dễ thực hiện hơn hoàn trả một dịch vụ Trong trường hợp này việc hoàn trả được giải quyết bởi chế định được lợi không có căn cứ pháp luật Được lợi không có căn cứ pháp luật là phát sinh quyền tài sản mà trước đó họ không có, không dựa trên cơ sở pháp luật nào Người được lợi về tài sản có nghĩa vụ phải hoàn trả lại cho chủ sở hữu tài sản đó Người phải hoàn trả lại tài sản trong trường hợp này là sự được lợi về tài sản của một người đồng thời gây

ra sự thiệt thòi tương ứng của một người khác và sự được lợi này không có căn cứ pháp luật

Đối với tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được theo quy định tại BLDS

1995 thì khi hợp đồng vi phạm điều cấm thì tài sản, hoa lợi, lợi tức bị tịch thu sung quỹ nhà nước Tuy nhiên, BLDS 2005 đã bỏ quy định này vì: trong thực tiễn xét xử các hành vi bị pháp luật cấm như: mua bán ma túy, mua bán tàng trữ vũ khí quân dụng quân dụng,… đều bị coi là tội phạm và bị xử lý về hình sự Bên cạnh đó, một

số hành vi vi phạm các điều cấm của pháp luật hoặc các hành vi trái đạo đức xã hội thì cũng có thể bị xử phạt hành chính, trong đó có biện pháp sung công Như vậy, khi các hành vi đó đã bị áp dụng các biện pháp xử lý về hình sự hoặc hành chính (phạt tù, phạt tiền, tịch thu sung công, tiêu hủy) thì việc áp dụng chế tài sung công của BLDS 1995 khi hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm, trái đạo đức xã hội là trùng lặp với chế tài hình sự, chế tài hành chính Ngoài ra, biện pháp tịch thu sung công không phải là một chế tài dân sự

2.2.3 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hợp đồng bị vô hiệu

Khi một hợp đồng bị vô hiệu có thể gây tổn thất về vật chất hoặc tinh thần cho các bên Thường thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng không bao

Ngày đăng: 15/07/2016, 22:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w