Trong bản báo cáo thực tập tốt nghiệp này tôi sẽ trình bày một số vấn đề chính về công nghệ sản xuất đường thô và đường luyện của nhà máy.. Điểm sơ tình hình sản xuất thì sản lượng đường
Trang 1Công nghệ chế biến đường La Ngà
Báo cáo thực tập
Tốt nghiệp Công nghệ chế biến
đường La Ngà
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHÀ MÁY ĐƯỜNG LA NGÀ 7
1.1 QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN 7
1.2 CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA NHÀ MÁY 9
1.3 NGUYÊN VẬT LIỆU CHÍNH VÀ PHỤ 9
1.3.1 Nguyên vật liệu chính 9
1.3.2 Nguyên vật liệu phụ 10
1.4 SẢN PHẨM, PHỤ PHẨM VÀ THƯƠNG HIỆU 12
1.4.1 Đường luyện 12
1.4.2 Đường thô 12
1.4.3 Mật rỉ 12
1.4.4 Bã bùn 13
1.4.5 Bã mía 13
1.4.6 Thương hiệu sản phẩm 14
CHƯƠNG 2: QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT ĐƯỜNG THÔ 15
2.1 QUY TRÌNH SẢN XUẤT ĐƯỜNG THÔ 15
2.2 THUYẾT MINH QUY TRÌNH 16
2.2.1 Công đoạn ép mía 16
2.2.1.1 Quy trình công đoạn ép mía 17
2.2.1.2 Thuyết minh quy trình 18
2.2.1.3 Quy trình thiết bị công đoạn ép mía 21
2.2.1.4 Các thiết bị của công đoạn ép 22
2.2.2 Công đoạn hóa chế 30
2.2.2.1 Quy trình công đoạn hóa chế 31
2.2.2.2 Thuyết minh quy trình hóa chế 32
2.2.2.3 Quy trình thiết bị công đoạn hóa chế nước mía hỗn hợp 38
2.2.2.4 Các thiết bị chính trong công đoạn hóa chế 38
2.2.3 Công đoạn nấu đường và trợ tinh 46
2.2.3.1 Sơ đồ nấu đường 2 hệ 46
2.2.3.2 Thuyết minh công nghệ nấu đường hai hệ 46
2.2.3.3 Những giai đoạn trong quá trình nấu đường 48
Trang 32.2.3.5 Những kinh nghiệm trong nấu đường 54
2.2.3.6 Các thiết bị trong công đoạn nấu đường 55
2.2.3.7 Những sự cố trong khâu nấu đường, biện pháp khắc phục 58
2.2.3.8 Trợ tinh 60
2.2.3.9 Công đoạn trợ tinh 62
2.2.4 Công đoạn ly tâm, sấy 67
2.2.4.1 Quy trình công đoạn ly tâm, sấy 68
2.2.4.2 Thuyết minh công đoạn ly tâm, sấy 69
2.2.4.3 Quy trình thiết bị công đoạn ly tâm, sấy 73
2.2.4.4 Thuyết minh một số thiết bị trong công đoạn ly tâm 74
CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT ĐƯỜNG LUYỆN 78
3.1 QUY TRÌNH SẢN XUẤT ĐƯỜNG LUYỆN 78
3.1.1 Sơ đồ khối 78
3.2 THUYẾT MINH QUY TRÌNH TINH LUYỆN TỪ ĐƯỜNG THÔ 79
3.2.1 Tiếp nạp nhiên liệu 79
3.2.2 Siro thô 79
3.2.3 Siro hóa chế 79
3.2.4 Bàn lắng nổi Tate & Lyte 80
3.2.5 Lọc an toàn lần 1 – Fasflo 81
3.2.6 Hệ thống Resin tẩy màu 81
3.2.7 Lọc an toàn 2- Checkfilter 82
3.2.8 Siro tinh 82
3.2.9 Nấu đường RE, RS, RScc 82
3.2.10 Ly tâm 83
3.3 Thao tác vận hành các thiết 84
3.3.1 Thao tác vis tải đường thô trung gian 84
3.3.2 Thùng hòa tan nước đường tinh luyện 84
3.3.3 Enzyme thủy phân tinh bột 85
3.3.4 Bơm ly tâm cách nước đường nguyên 86
3.3.5 Gàu hóa chế 86
3.3.6 Tẩy màu Tate & Lyte 87
3.3.7 Bàn lắng 88
3.3.8 Tẩy màu bằng than hoạt tính 88
3.3.9 Bàn lọc Autofter 89
Trang 43.3.10 Bàn lọc Fasflowef 90
3.3.11 Thiết bị khử Ca 2+ , Mg2+ 90
3.3.12 Cột lọc an toàn (Check-Filter) 91
3.3.13 Thùng quậy than, bột và bầu định lượng 91
3.3.14 Thùng phục hồi nhựa tẩy màu siro 91
3.3.15 Nồi đường 92
3.3.16 Máy bồi tinh cao phẩm 92
3.3.17 Máy ly tâm 93
3.3.18 Bàn gằn đường ướt sau ly tâm 94
3.3.19 Gàu chuyển đường ướt 94
3.3.20 Bàn gằn đường từ phễu đường ướt tới gàu tải sấy khô 94
3.3.21 Gàu chuyển đường ướt và gàu nối tiếp cấp sấy 95
3.3.23 Cối sấy đường 95
3.3.24 Bàn sàng đường 96
3.3.25 Bàn gằn phân phối đường 96
3.3.26 Bàn gằn đường cấp đường ướt 96
3.3.27 Gàu chuyển đường trộn 97
3.3.28 Cân đóng bao bán tự động 97
CHƯƠNG 4: CHU TRÌNH NƯỚC TRONG CÔNG NGHỆ 99
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 100
5.1 KẾT LUẬN VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ 100
5.2 BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU SUẤT 104
5.3 BIỆN PHÁP XỬ LÝ 105
5.4 BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÀNH PHẨM 106
CHƯƠNG 6: PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY 110
6.1 SƠ ĐỒ PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY 110
6.2 NỘI QUY PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY 111
CHƯƠNG 7: HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Ngành công nghệ chế biến đường ở Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh Trong những năm gần đây đã dần chứng minh được khả năng tiếp cận đến trình
độ thế giới Trong đó ngành chế biến đường mía hàng năm sản lượng tăng đáng
kể ở mọi miền đất nước Cùng với trào lưu đó nhà máy đường La Ngà – Đồng Nai với thiết bị khá hiện đại do công ty De –Danke-Sukkerfabrikke (DDS) Den-Mark lắp đặt từ năm 1979 cũng đã đạt được những thành tựu ban đầu rất quan trọng Qua 13 vụ sản xuất nhà máy đã chế biến gần 2 triệu tấn mía cây sản xuất ra gần 20.000 tấn đường phục vụ cho nhu cầu tiêu dung của nhân dân Đây
là nhà máy đường có thiết bị tự động hóa cao hai vụ sản xuất mía qua
(1995-1996, 2009-2010) hiệu suất tổng thu hồi đạt đến trình độ quốc tế là 80,04% và 83,36%
Trong bản báo cáo thực tập tốt nghiệp này tôi sẽ trình bày một số vấn đề chính về công nghệ sản xuất đường thô và đường luyện của nhà máy
Trong cuộc sống hàng ngày đường có vai trò quan trọng đối với con người,
là thực phẩm rất cần thiết cho mỗi chúng ta, nó ở nhiều dạng khác nhau như: đường, bánh, kẹo… Cứ một gram đường có thể cung cấp cho cơ thể chúng ta nhận và hấp thụ năng lượng do đường sinh ra rất khó có loại thực phẩm nào nhanh bằng, nhất là khi cơ thể mỏi mệt
Trên thế giới nhu cầu tiêu thụ đường hàng năm rất lớn theo sơ bộ tại một số nước tân tiến thì chỉ số đó là 32-33 kg/người/năm, mức bình quân tiêu thụ trên toàn thế giới khoảng 20kg/người/năm, do đó mức tiêu thụ khoảng 108tr - 109tr tấn/năm Nhu cầu mức tiêu thụ là như vậy nhưng về sản xuât thì sao? Điểm sơ tình hình sản xuất thì sản lượng đường trên toàn thế giới khoảng 115 triệu tấn/năm, đối với nước ta sản xuất đường đã phát triển từ lâu đời, nguyên liệu chính là mía, hiện nay sản xuất ở địa phương cần chủ yếu là các lò đường thủ công do tư nhân quản lý, các lò này chỉ sản xuất đường thô công nghệ thô sơ nên lãng phí rất nhiều trong tổn thất đường Mặt khác, trong làm sạch do tiến dộ
và công nghệ còn thấp nên không tránh khỏi đường thành phẩm còn nhiều tạp chất, thậm chí có hại cho sức khỏe con người do sử dụng hóa chất không đúng
Trang 6kĩ thuật Chúng ta cũng có một số nhà máy do nhà nước quản lý được xây dựng
từ trước và sau này với công suất 1000-350 tấn mía/năm như: nhà máy đường Lam Sơn, Vạn Điểm, Quảng Ngãi, Hiệp Hòa, Bình Dương, Trị An… Và một
số nhà máy đường có công suất nhỏ 300-350 tấn mía/năm như: Việt Trì, Sông Lam, Phan Rang … các nhà máy sản xuất đường là Biên Hòa, tổng công suất có khoảng 14 nhà máy đang hoạt động Mặt khác đường còn là nguyên liệu cho môt số ngành sản xuất khác như: Bánh kẹo, nước uống, hoa quả, sữa… Ngoài các sản phẩm chính là đường còn các sản phẩm khác từ mía như: mật, bã được dung để sản xuất cồn, ván ép, sợi dệt, dược phẩm, thức ăn gia súc Bã bùn còn được dùng làm phân bón
Trang 7CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHÀ MÁY ĐƯỜNG LA NGÀ
1.1 QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
Nhà máy đường La Ngà nay là công ty mía đường La Ngà được xây dựng trên vùng đất miền Đông Nam Bộ nằm cạnh trục đường quốc lộ 20 thuộc địa phận xã La Ngà, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai Thuộc tổng Công Ty mía đường II bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Phía Bắc giáp trung tâm nghiên cứu nhiệt đới của Hội Chữ Thập Đỏ Quốc Tế, phía Nam giáp quốc lộ 20, phía Đông giáp sông La Ngà, phía Tây giáp vùng dân cư
Về quá trình xây dựng và phát triển: sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng nơi đây là đồi núi hoang vu, dân cư thưa thớt, còn loang lố hố bom đạn và những bãi mìn chưa tháo gỡ Hòa bình lặp lại ở Việt Nam, chỉ hơn một năm sau nhân dân và chính phủ Đan Mạch đã có dự án giúp nhân dân Việt Nam xây dựng công trình nhà máy đường La Ngà Cơ quan DANIDA Đan Mạch và bộ công nghiệp thực phẩm trước đây nay là bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
đã xúc tiến hiệp định giữa hai chính phủ
Tổng nguồn vốn nhà máy được xây dựng là: 180.248.902 Kouvon DM Tiền Đan Mạch trong đó tiền Đan Mạch chiếm 65% tổng số vốn, Việt Nam chiếm
các công trình phúc lợi công cộng khác
Công Ty De-Dance-Sukeifabriker-DDS đã trúng thầu và ký hợp đồng xây dựng ngày 21 tháng 11 năm 1979 Sau 5 năm xây dựng ngày 4 tháng 4 năm
1984, nhà máy được chính thức đưa vào hoạt động với tên là nhà máy đường La Ngà sau đó đổi tên thành Xí Nghiệp Công Nông Nghiệp Mía Đường La Ngà, Công Ty Mía Đường La Ngà và đến tháng 4 năm 2000 đổi thành Công Ty Cổ Phần Mía Đường La Ngà Nhà máy có công suất 2000 tấn/ngày tương ứng chế biến ra 200 tấn đường chất lượng đường của nhà máy là đường thô có phẩm chất pol = 97%, đường khử =0.9%, tro=0.4%,ẩm=0.8%
Trang 8Thiết bị máy móc: Nhà máy đường La Ngà có hệ thống thiết bị máy móc hiện đại, cơ giới hóa và tự động hóa cao do các công ty hàng đầu của Châu Âu sản xuất
1 Hệ thống máy ép của công ty FS liên hiệp Anh sản xuất
2 Thiết bị khuyếch tán của công ty DDS Đan Mạch sản xuất
3 Lò hơi của công ty DDS Đan Mạch sản xuất
4 Toàn bộ mô tơ của công ty ESEA Thụy Điển sản xuất
5 Thiết bị công nghệ của công ty DDS Đan Mạch sản xuất
6 Thiết bị tự động của công ty điện tử Philip, Hà Lan sản xuất
Công ty gồm 12 đơn vị, 3 đơn vị dịch vụ và 6 phòng ban nghiệp vụ với 1780 cán bộ công nhân viên trong đó công nhân nông nghiệp là 984 người Năm 1994 – 1995 công ty mở thêm xưởng sản xuất vi sinh (Komisrs) từ bã bùn để bón mía, một phân xưởng kẹo có công suất 415 tấn/ngày bằng công nghệ và thiết bị mới của Đài Loan (nhưng đến nay thì không còn), góp vốn thành lập Công Ty men Mauri thuộc tập đoàn Bunsthitp (cũ) có vốn đầu tư 13 430.000 USD để sản xuất men thực phẩm cao cấp (3500 tấn/năm) đã đi vào sản xuất và các nhà trồng nấm với nguồn nguyên liệu là bã mía (nhưng đến nay không còn) Ngoài ra, năm
2003 nhà máy đường Khánh Hội đã chuyển giao dây chuyền sản xuất đường tinh luyện về nhà máy và xây dựng nhà máy ván ép
Công ty nhận đầu tư cho vay vốn sản xuất – chuyển dịch giống mía năng suất cao và bao tiêu, bao thầu vận chuyển toàn bộ sản lượng mía sản xuất hàng năm của huyện Định Quán – tỉnh Đồng Nai và Lâm Đồng, quan hệ mở rộng đại lý tiêu thụ trực tiếp với các đơn vị trong và ngoài nước Các sản phẩm do công ty sản xuất như đường RS, đường thô, rỉ đường, bánh kẹo (nay không còn), bã mía đóng bánh, phân bón sinh học và men thực phẩm v.v
Doanh số sản phẩm hàng hóa tiêu thụ 1995 đạt 92,945 tỷ đồng, 1996 đạt 121,134 tỷ đồng Việt Nam
Trang 91.2 CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA NHÀ MÁY
1.3 NGUYÊN VẬT LIỆU CHÍNH VÀ PHỤ
1.3.1 Nguyên vật liệu chính
Mía cây:
Hiện nay nhà máy đang sử dụng nguồn nguyên liệu mía với các giống mía
như sau: MI, ROC, KOMUS, H39
Việc sản xuất đường từ mía cây chỉ dùng 1 loại nguyên liệu duy nhất đó là
mía cây Đặc điểm của cây mía có chu kỳ sinh trưởng là 1 năm, thời kỳ mía đến
độ chín từ khoảng từ đầu tháng 11 năm trước cho đến cuối tháng 3 năm sau Khi
mía đến độ chín thì trữ lượng có trong cây mía sẽ bị giảm đi rất nhiều, khi đó
nếu đem chế biến thì sẽ không mang lại hiệu quả kinh tế Mặt khác, nếu mía
được thu hoạch mà không chế biến ngay thì dưới tác dụng của vi sinh vật, môi
trường sẽ làm cho lượng đường có trong mía sẽ bị mất đi khi đo nếu đem vào
chế biến cũng không có lợi Chất lượng mía được xác định bằng trữ lượng
đường, mía đủ tiêu chuẩn vào sản xuất khi dự trữ đường đạt trên 8.5 CCS
Với đặc điểm của cây mía như vậy nên việc sản xuất phải tiến hành theo vụ
Thời gian sản xuất tốt nhất là từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau Tuy
nhiên sự chín của mía còn phụ thuộc vào giống mía và thời gian trồng Khi mía
chín là lúc lượng đường trong than mía đạt tối đa và lượng đường khử còn lại ít
nhất qua biểu hiện là: Hàm lượng đường giữa gốc và ngọn là xấp xỉ nhau, lá
chuyển sang màu vàng, độ dài của lá ngắn, các lá sít vào nhau, dóng mía ngắn
P TỔNG GIÁM ĐỐC
CTY CÓ VỐN GÓP KHÔNG CHI PHỐI CỦA TCT
4
CÔNG TY TÀI CHÍNH CỔ PHẦN
1
CÔNG TY
CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ
VIETTEL
3
CÔNG TY CỔ PHẦN EVN QUỐC TẾ (TÊN CŨ: CTY
CP EVN CAMPUCHIA)
3
CÔNG TY TNHH VIETTEL CHT
2
CÔNG TY
CỔ PHẦN ĐẦU TƯ BẤT ĐỘNG SẢN VIETTEL
Kế toán trưởng
Trưởng Phòng KTTC
Trưởng Phòng Kinh Doanh
Trưởng Phòng QLCL
Trưởng Phòng
Kế Hoạch Vật Tư
Giám Đốc Nhà Máy Ván Dăm
Trưởng phòng
Kỹ Thuật
Giám Đốc Nhà Máy Đường
Trưởng Phòng Nguyên Liệu Khuyến Nông
Chánh Vãn Phòng
Giám Đốc Nhà Máy Cơ Khí
Trang 10dần, màu da mía trở nên bóng sậm lại, phấn ít, thành phần chủ yếu của mía tuỳ theo từng giống, loại mía, điều kiện canh tác, đất đai mà mía có thành phần khác nhau Nói chung các thành chất trong cây mía được phân bổ như sau
Về quá trình xây dựng và phát triển sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng nơi đây là đồi núi hoang vu, dân cư thưa thớt, cỏ hoang lố nhố bom đạn và những bãi mìn chưa tháo gỡ Hòa bình lặp lại ở Miền Nam, chỉ hơn một năm sau nhân dân và chính phủ Đan Mạch dã có dự án giúp nhân dân Việt Nam xây dựng công trình nhà máy đường Là Ngà Cơ quan DANINA Đan Mạch và bộ công nghiệp thực phẩm trước đây cải tiến thêm, mở thêm được diện tích trồng mía
Ngoài ra, còn có các nguồn nguyên liệu chính khác nữa như đường thùng và mật trầm nhưng hiện nay nhà máy không sử dụng nữa
Tác dụng của vôi: Khi cho vôi vào nước mía sẽ có những tác dụng sau:
đường saccaroza
pectin, chất màu và acid không tan
Do đó, hạn chế sự phân hủy đường cần có những phương án cho vôi thích
Trang 11Tác dụng cơ học: Những chất kết tủa tạo thành có tác dụng kéo theo những chất lơ lửng và những chất không đường khác
Sát trùng nước mía: Với độ kiềm khi có 0.03% cao phần lớn vi sinh vật không sinh trưởng, tuy nhiên có trường hợp phải dùng đến lượng 0.8 cao
khó khử, trong môi trường kiềm xuất hiện màu vàng, trong môi trường trung tính lại không màu Khi cho vôi vào có màu vàng đó là chất: Antocynine với vôi tạo thành kết tủa loại được, clo (diệp lục tố) là chất dẻo không tan trong nước nhưng lại tan vào nước mía do áp suất và sau khi gia nhiệt được kéo vuông nhờ các kết tủa vô cơ của vôi như: Ca3(PO4)2, CaCO3…
Phẩm chất vôi: Chất lượng của vôi có ảnh hưởng tới hiệu suất làm sạch nước mía Vì vậy, vôi phải đạt tiêu chuẩn chất lượng nhất định nếu có nhiều tạp chất
Al2O3 < 1%, CaCO3 < 1%, Fe2O3 < 1%
Để đảm bảo hiệu suất làm sạch cao cần chú ý hàm lượng CaO phải cao Ngoài
ra, cần chú ý hàm lượng % MgO nếu %MgO > 2% sẽ làm giảm độ hòa tan của vôi, thời gian lắng sẽ kéo dài gây đóng cặn nhiều trong nồi bốc hơi, gia nhiệt, nấu đường, hậu quả cuối cùng là gây cho việc lắng lọc và kết tinh Vôi sử dụng
ở nhà máy đường La Ngà được sử dụng để làm sạch nước mía trong năm qua với tỷ lệ 0.125% so với mía
Chất trợ lắng lọc: Để tăng hiệu quả bùn lọc và rút ngắn thời gian lắng ở khâu làm sạch, ở công ty mía đường La Ngà sử dụng chất trợ lắng và lọc là Polime tổng hợp AP–30, chất trợ lắng sử dụng trong ngành đường là những chất Polime
tích dương tạo thành một khối lớn có khả năng mang điện tích âm, liên kết với
lắng nhanh tăng khoảng 6-7 lần Tuy nhiên, hiệu quả trợ lắng còn phụ thuộc vào mức độ thủy phân, điều kiện đất đai, giống mía và phương pháp sản xuất Lượng Separan ở nhà máy đường La Ngà là 6kg/2000 tấn mía cây
Trang 121.4 SẢN PHẨM, PHỤ PHẨM VÀ THƯƠNG HIỆU
1.4.1 Đường luyện
Đường luyện là sản phẩm chính của nhà máy từ năm 2003 tới nay Được chế biến theo qui trình công nghệ của nhà máy đường Khánh Hội Thành phần đường kính trắng chiếm khoảng 99.75% Saccaroza là thành phần quan trọng của mía và là sản phẩm chính của công nghệ sản xuất đường Saccaroza là một
Saccaroza được cấu tạo bởi:
O H
Đường thô là sản phẩm của nhà máy trong những năm qua lượng đường này
đã đáp ứng một phần nguyên liệu cho hai ngà máy luyện đường RS thuộc Biên Hòa và sản lượng hàng năm xấp xỉ 20.000 tấn Thành phần đường thô chiếm khoảng 96-96.5%
1.4.3 Mật rỉ
Trong quá trình chế biến đường mật rỉ là phụ phẩm Lượng mật chiếm khoảng 4-5% so với mía Thành phần mật rỉ phụ thuộc vào chất lượng mía, thời vụ sản xuất Hàng năm công ty đường thu được khoảng 11000 tấn mật rỉ (với lượng mía ướt tính là 240000 tấn)
Hiện nay, mật rỉ là nguyên liệu chính cho công nghệ sản xuất cồn, rượu Ngoài ra, nó còn là nguyên liệu cho việc sản xuất bột ngọt, men thực phẩm và làm thức ăn gia súc
Trang 14Đường túi 1kg Đường túi 500g
Trang 15CHƯƠNG 2: QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT ĐƯỜNG THÔ 2.1 QUY TRÌNH SẢN XUẤT ĐƯỜNG THÔ
ĐƯỜNG THÔ
ÉP MÍA MÍA
HOÁ CHẾ
NẤU ĐƯỜNG VÀ TRỢ TINH
LY TÂM
Trang 162.2 THUYẾT MINH QUY TRÌNH
2.2.1 Công đoạn ép mía
Trang 172.2.1.1 Quy trình công đoạn ép mía
LÙA
DAO CHẶT II
KHUẾCH TÁN
ÉP SƠ
BỘ
ÉP KIỆT I
BÃ BÙN NƯỚC MÍA
HỖN HỢP
ÉP KIỆT II CẨU
NƯỚC LỌC TRONG
Trang 182.2.1.2 Thuyết minh quy trình
Mía cây từ các ruộng rẫy được vận chuyển về nhà máy bằng các phương tiện ghe thuyền, ô tô, máy kéo Các phương tiện này, khi về đến nhà máy được cân bằng hai bàn cân Nhằm xác định được lượng mía đã thu mua đem vào chế biến trong ngày, cũng làm cơ sở để chi trả tiền cho các chủ mía Rồi được các cẩu mía bốc, xếp trong nhà chứa mía Nhà chứa mía có sức chứa: hơn 2000 tấn mía cây song tùy tình hình thực tế về kế hoạch đào bải mà quyết định lượng mía cần
dự trữ Nhà chứa mía được chia làm 2 phần sân Mỗi phần có bố trí 2 cẩu để đảm bảo không lưu bãi, tránh sự phân hủy đường trong cây mía do để lưu bãi lâu Tại đây, bộ phận kiểm phẩm xác định trữ đường cho từng lô mía
Cẩu: Chuyển mía từ xe hoặc bãi chứa lên bàn lùa để thực hiện các công đoạn tiếp theo Nhà máy có sử dụng 2 cẩu
Bàn lùa: Mía được cẩu lên bàn lùa phía cuối bàn lùa có đặt một thiết bị được gọi là khảo bằng Nhiệm vụ của nó là sang phẳng mía thành một lớp đều nhau, trước khi được đưa xuống băng tải Cuối băng tải mía cũng được lắp đặt một bộ khảo bằng với nhiệm vụ tương đương, giúp cho việc xé, chặt ở thiết bị dao chặt
I, dao chặt II và búa đập làm việc có hiệu quả
Băng tải: Vận chuyển mía tới các công đoạn tiếp theo
Dao băm I, II và búa đập: Ở công đoạn này nhiệm vụ quan trọng của các dao chặt và búa đập là vừa làm nhỏ, vừa xé nát tế bào mía, lại làm tăng mật độ lớp mía Không những làm tăng năng suất và hiệu suất ép nâng công suất cho dây chuyền công nghệ mà còn cải thiện đáng kể cho chế độ làm việc nặng nề cho
sau khâu sử lý mía, mật độ lớp mía
lại được đặt ở đầu băng tải Cuối băng tải này người ta đặt hệ thống búa đập (BD) Mía được đưa tới máy ép sơ bộ bằng băng tải
Ép sơ bộ: Mía sau khi đã được sử lý, được đưa vào máy ép sơ bộ qua một thiết bị nam châm điện để loại bỏ những vật lạ bằng kim loại lẫn vào nhằm bảo
vệ, tránh những hư hỏng cho máy ép và các thiết bị sau nó Tại đây, mía được
Trang 19mía/ngày, lượng nước mía được trích ở đây là (2000-250)*60%=1050 tấn (12.5% hàm lượng xơ) Nước mía này được gọi là nước mía nguyên chất Nó được trộn với nước khuếch tán gọi là nước mía hỗn hợp, được tập kết ở bồn Khuếch tán: Bã mía sau khi ra khỏi máy ép sơ bộ được băng tải đưa tới thiết
bị khuếch tán để tách lượng đường còn lại trong bã Lượng bã mía được đưa vào khuếch tán được tính như sau: 2000-1050 = 950 tấn
Bản chất của khuếch tán là quá trình phân tán các phân tử trong dung dịch để đạt được sự cân bằng về nồng độ ở mọi điểm Động lực của quá trình này là sự chênh lệch về nồng độ
Bã mía được đưa vào khuếch tán ở đầu thấp của thiết bị (khuếch tán được đặt
so với mặt phẳng nằm ngang ) Lượng đường còn lại trong bã mía được đưa vào ngâm ở đây với nước có nồng độ loãng hơn trong
thuận với lượng đường trích ly ra được nếu cùng một nồng độ ban đầu như nhau tuân theo định luật FICK
Nước thẩm thấu và nước sau ép kiệt II là những dung dịch có nồng độ đường đưa vào đầu cao của khuếch tán Ở đây, được đun nóng gián tiếp lên đến nhiệt
độ to
đưa vào khuếch tán có nhiệt độ to
260% đến 280% so với sơ có trong mía Như vậy, lượng nước thẩm thấu cần có cho 2000 tấn mía chừng 700 tấn Nước thẩm thấu cùng nước mía sau ép kiệt I và kiệt II đi ngược chiều với luồng bã mía do được bộ trục HELIT với những vòng xoắn đảo trộn nén, ép và được đưa tới đầu cao của khuếch tán Tại đây, bã mía được thiết bị có tên là vít xả bã (DISCHARGE) đưa bã mía ra khỏi khuếch tán
để đưa tiếp bã qua máy ép kiệt I bằng băng tải bã Băng tải này có cấu tạo đặc biệt đáy bằng hai tầng, tầng trên là một sàn lưới để lọc, tầng đáy dưới là để hứng
là tối ưu nhất với thực tế với dây chuyền công nghệ thực tại ở La Ngà
Máy ép kiệt I: Tiếp tục trích ly lượng đường còn lại trong bã sau khi đã qua
ép sơ bộ Bã mía sau khi ra khỏi máy ép kiệt I thì được phun thêm một lượng
Trang 20nước thẩm thấu kiệt II bằng nước ngưng tụ của công nghệ Sau đó bã mía được đưa qua máy ép kiệt II bằng băng chuyền
Máy ép kiệt II: Ép kiệt lượng nước mía có trong bã mía sao cho bã mía sau khi ra khỏi máy ép kiệt II sẽ có các thông số kỹ thuật đạt pol bã <2%, ẩm bã W<50% Bã mía được tiếp tục đưa qua bộ phận lò hơi dùng làm nhiên liệu đốt, bằng băng tải Khoảng giữa tấm đáy của băng tải người ta thiết kế và lắp đặt một
hệ thống lượt bã nhuyễn bằng những tấm lưới sàn có mật độ và kích thước lỗ phù hợp Nhằm tách một lượng bã nhuyễn cần thiết được dùng cho công đoạn lọc bùn (trợ lọc) sẽ được trình bày ở phần sau
Nước mía thu được ở máy ép kiệt I, máy ép kiệt II có nồng độ đường Saccaroza thấp, được đưa về thùng khuếch tán bằng các bơm được gọi tên là bơm chống cản tắc Nước mía từ máy ép sơ bộ (nước mía nguyên) và nước mía
từ thùng khuếch tán được đưa qua thiết bị sàng cong Sàng cong là một hợp bằng Inox có hình phiễu phía trên được lắp 4 tấm sàng có hình cong bằng Inox ghép lại Với độ dốc cần thiết giúp cho phần bã vụn lẫn trong nước mía được tách ra và tự đổ xuống băng tải Phần nước theo ống tự dẫn về bồn nước mía hỗn hợp Tại đây người ta thực hiện gia vôi sơ bộ
Các thông số kỹ thuật chính trong công đoạn ép mía:
Trang 21So sánh một số thông số đại diện giữa 2 phương pháp ép mía:
Tên thông số đại
diện
khuyếch tán Tổng thu hồi
Tiêu hao điện
năng Pol Bã mía
<3%
96-97% Riêng ở La Ngà: pol bã = 2%; Hiệu suất ép = 95-96%
2.2.1.3 Quy trình thiết bị công đoạn ép mía
KHUYẾCH TÁN
BĂNG TẢI BÃ 2 BĂNG TẢI BÃ 1
SAN BẰNG MÍA
DAO BĂM 1
DAO BĂM 2
BĂNG TẢI NGHIÊNG 1
THIẾT BỊ BÚA ĐẬP
BĂNG TẢI NGHIÊNG 2
Trang 222.2.1.4 Các thiết bị của công đoạn ép
Cẩu mía: dùng để bốc mía từ xe xuống sân mía và bốc lên bàn lùa Có 4 cẩu, các đà chính của than cẩu được bố trí cấu tạo theo kiểu hợp
Cẩu có các thông số kỹ thuật làm việc như sau:
Có hệ thống bôi trơn các gối (Coussine) gắn trực tiếp lên trục quay của san
05’.San bằng mía: được gắn trên băng tải ngang nhằm để gạt mía thành lớp đều trước khi vào dao băm Các cánh quạt cấu tạo theo hình xoắn ốc
Trang 23Dao chặt I: được bố trí theo từng cặp đối xứng, các loại lưới dao được gắn trên giá liền với trục quay
bộ giảm tốc bên trong đến tốc độ dao bằng: 600 vòng/phút
Các thông số kỹ thuật:
C
Búa đập làm xé nát, đánh rơi các tế bào của mía cây Giúp cho việc nâng cao công suất ép, tăng tổng thu hồi và cải thiện các chế độ nặng nề trong hoạt động của các máy ép, các thiết bị sau nó ở mức đáng kể
Các thông số kỹ thuật:
Trang 24 Động cơ điện P = 245KW, n = 735 vòng/phút
Nam châm điện: trên máng xuống mía được lắp một nam châm điện tử với bộ điều khiển tách rời để hút các vật lạ bằng kim loại có từ tính nhằm bảo vệ cho máy ép
Các thông số kỹ thuật:
Máy ép sơ bộ: máy ép có cấu tạo 4 trục, trong đó 3 trục làm việc chính, một trục dùng để tiếp mía cưỡng bức và chống ngẹt mía Lõi trục làm bằng thép đặc biệt, vỏ trục làm bằng gang xám Máy ép có hệ thống lược đáy, lược đỉnh, lược tách rời các vành chắn nước mía, chắn bã được lặp ở 2 đầu trục Hệ thống gối đỡ dùng bằng Coussine và được bôi trơn bằng mỡ chịu nhiệt (BMX2) Nhiệt độ cho
dầu thủy lực và hỗn hợp khí Nitrogene để tạo nên quá trình đẳng áp trong khi làm việc có tải cũng như lúc không tải
Các thông số kỹ thuật:
Máy ép kiệt II: có cấu tạo như của máy ép sơ bộ và máy ép kiệt I Do là máy
ép kiệt cuối cùng nên một số thông số thông số kỹ thuật có khác:
Trang 25 Khe hở làm việc của trục trước với trục đỉnh và trục sau với trục đỉnh cũng nhỏ hơn so với máy ép sơ bộ và máy ép kiệt I
Thiết bị khuếch tán (Kiểu DDS) nhận bã từ máy ép sơ bộ với dung lượng từ 850-1050 tấn/ngày
Cấu tạo và nguyên tắc làm việc
Thiết bị có cấu tạo: gồm 2 trục HELIX ( vít xoắn ) quay ngược chiều nhau để đưa bã mía trước ra sau Ở giữa có khớp nối trung gian đỡ trục Phía cuối có 2 vít xả bã, cùng quay ngược chiều nhau để vớt bã mía ra ngoài Vít xoắn có cấu tạo kiểu vis vô tận Động cơ thủy lực được gắn với hộp giảm tốc hành trình 3 cấp để truyền động và giảm tốc từ 1500 vòng/phút xuống 2.5 vòng/phút, các gối
đỡ trục là các Coussine và bôi trơn bằng mỡ Hai trục HELIX quay ngược chiều nhau vừa làm nhiệm vụ vận chuyển bã vừa làm nhiệm vụ dồn nén bã cưỡng bức
để tăng hiệu suất trích ly Thiết bị khuếch tán được đặt nghiêng về phía trước Mục đích làm cho nước đường có nồng độ thấp đi ngược chiều với bã có nồng
độ ( hàm lượng) đường cao hơn để thực hiện mục đích khuếch tán
Các thông số kỹ thuật:
Tất cả các bộ phận truyền động, chi tiết của thiết bị khuếch tán, do đều tiếp xúc với nước mía nên đều được làm bằng Inox
Sàng cong lọc nước mía: dùng để gạn lọc nước mía hỗn hợp và tách cám mía
chống cản tắc cho bơm và giảm một lượng tạp chất đáng kể cho nước mía Có 4
tấm lưới có hình dáng cong làm bằng thép không rỉ kiểu DSM
Các thông số kỹ thuật:
Trang 26không rỉ
Trang 27MỘ T SỐ CHI TIẾ T MÁ Y Ở CÔ NG ĐOẠN É P
VỊ TRÍ
VAN GIÓ VAN GIÓ VAN GIÓ
KHE HỞ 3mm
VAN GIÓ
Trang 28Bá nh xe tam tinh
Và nh chắ n nướ c mía Rã nh thoá t nướ c mía
1/ 10p
p 1/ 10p
Trang 302.2.2 Công đoạn hóa chế
Nhiệm vụ: Hóa chế là công đoạn có nhiệm vụ làm sạch nước mía và cô đặc nước chè đạt tới một nồng độ Bx nhất định, tạo điều kiện thuận lợi cho các công đoạn tiếp theo
Vài trò: Trong quá trình sản xuất mía đường, công việc làm sạch nước mía có vai trò hết sức quan trọng Nó ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ chế độ chế luyện đường về phương diện kinh tế lẫn phương diện kỹ thuật
Mục đích: Nhằm loại bỏ các tạp chất không đường, cải thiện chất lượng nước mía hỗn hợp Nước mía hỗn hợp là nước mía được trích ra từ cây mía bằng phương pháp ép kết hợp với khuyếch tán Do vậy, lượng nước dùng cho thẩm thấu tương đối cao, hàm lượng chất keo do vi sinh vật tạo ra cũng khá nhiều Trong nước mía hỗn hợp chứa 12,5-15% chất tan Độ tinh khiết của nước mía hỗn hợp là 82-85% còn lại 15-18% là chất không đường kết hợp với chất keo có sẵn trong cây mía và do vi sinh vật gây ra, có ảnh hưởng không tốt cho quá trình sản xuất
Nước mía sau khi ra khởi cây mía mang tính acid có pH = 4-4,5 và mang theo nhiều tạp chất không đường khác Ở nhà máy đường La Ngà do sản xuất đường thô nên cần tạo ra các phản ứng kết tủa Nhằm mục đích trung hòa, lắng, kết tủa xuống thiết bị lắng và được đưa ra ngoài Loại bỏ các chất không đường ra khỏi nước mía hỗn hợp, đặt biệt là các chất có hoạt tính bề mặt, chất keo và các chất rắn lơ lửng trong nước Hóa chất dùng trong việc tạo kết tủa chủ yếu là vôi
phí cho 1 tấn mía bằng 12,5kg Nồng độ sữa vôi đặc thường làm tắc ống dẫn, khi tác dụng với nước mía có thể gây nhiễm cục bộ làm đường khử phân hủy Nhưng khi nồng độ sữa vôi cao tác dụng tạo kết tủa nhanh, giảm lượng nhiệt bốc hơi
Trang 312.2.2.1 Quy trình công đoạn hóa chế
NƯỚC MÍA KHUẾCH
TÁN NƯỚC MÍA NGUYÊN
NƯỚC MÍA HỖN HỢP
BỘ HÂM (t 0 =45-500C)
GIA VÔI CHÍNH
GIA NHIỆT 2 (T0=102-1050C)
Trang 322.2.2.2 Thuyết minh quy trình hóa chế
Nước mía nguyên: Là sản phẩm thu được sau khi ép sơ bộ, nước mía nguyên
Nước mía hỗn hợp mang tính acid có pH= 4-4,5 (thường là 4-4,5) do đó phải dùng vôi, gia vôi sơ bộ tại thùng nước mía hỗn hợp để đưa pH = 6,0-6,5 (gia vôi lạnh) nhằm trung hòa nước mía hỗn hợp Ngoài ra, vôi còn tác dụng kết tủa, đông tụ những chất không đường Do đó, để hạn chế sự phân hủy đường cần những phương án, quy định dùng vôi cho thích hợp Ở đây, dùng phương án cho vôi phân đoạn và gia nhiệt phân đoạn
Bộ hâm: Nhằm tận dụng nhiệt của nước ngưng tụ ở hiệu III và hiệu IV để nâng nhiệt độ nước mía lên
GIA NHIỆT I
GIA NHIỆT II
Trang 33Gia nhiệt I: Nước mía hỗn hợp sau khi được hâm nóng, tiếp tục được đưa ra
C Làm ngưng hoạt động của một số men và vi khuẩn thông thường, làm tăng tốc độ
nước, nhất là Protein Sau đó, mới được đưa đi gia vôi chính để nâng 8.0 Việc khống chế pH ở điểm pH=6.0-6.5 và to
pH=7.8-= 7.0-7.5oC có ý nghĩa quan trọng Ở nhiệt độ thấp mà cho vôi nhiều, khả năng hòa tan lớn (do đối với vôi độ hòa tan tỉ lệ nghịch với nhiệt độ) thiết bị sẽ đóng cặn, gây khó khăn cho việc lưu chuyển dung dịch trong hệ thống ống dẫn và trở ngại cho vận hành khi gia nhiệt Nhưng ở gia nhiệt I nếu nâng nhiệt độ lên cao pH thấp sẽ gây chuyển hóa đường lớn và tạo màu sắc đậm Chính vì các nguyên nhân trên mà ở gia nhiệt I người ta
=70-75oC là hợp lý nhất
Gia vôi chính: Sau khi nâng nhiệt độ lên to
=70-75oC người ta bắt đầu thực hiện gia vôi chính Ở đây pH được nâng lên pH =7.8-8.0 nhằm tạo giá trị pH đẳng điện để kết tủa các muối vô cơ, keo và hấp thụ một số tạp chất lơ lửng có trong nước mía Trong thùng gia vôi chính có cánh khuấy có tác dụng tránh hiện tượng kiềm cục bộ và tạo điều kiện cho phản ứng đều, nhanh Sau khi đã gia vôi trong nước mía được đưa đi đun nóng lần 2 gọi là gia nhiệt II
Gia nhiệt II: Để phản ứng xảy ra hoàn toàn, làm cho nước mía được lắng
Trang 34cần được lọc lại (sẽ được trình bày ở phần sau)
Nguyên tắc làm việc của bồn lắng: Tại bồn lắng, pha rắn được lắng xuống đáy nhờ trọng lực và được cánh khuấy gạt vào giếng bùn Các tạp chất kết tủa này được bơm hút bùn hút ra ngoài Nước chè trong theo đường ống chảy tràn dẫn tới sàn rung Tại đây, các tạp chất có tỉ trọng tương đương với tỉ trọng của nước chè sẽ được sàn gắn, loại ra Lưới sàn rung có mật độ lỗ 30 lỗ/1 in vuông Ở bồn lắng người ta cũng có lúc phải bổ sung hóa chất loại Separan khi cần thiết để trợ lắng Tại máng chảy tràn người ta cũng trộn thêm chất chống đóng cặn mang tên Bussperse 2139 Có tác dụng kiềm chế sự đóng cặn trong các thiết bị bốc hơi nhằm tạo điều kiện dễ dàng trong việc thông rửa thiết bị (cũng có thể trộn vào nước chè trong tại lâm sàng trong chè trong ) Bussperse 2139 có đặc tính kìm chế sự đóng cặn, làm cho cặn xốp, mền, dễ thông rửa Tỉ trọng 1,32g/ml dễ hòa tan trong nước Với cách sử dụng pha dung dịch Bussperse 2139 khuấy đều đậy nắp thùng lại (dùng cho mỗi ca với lượng mía ép khoảng 650 tấn) mở van cho dung dịch Bussperse 1:1 nhỏ giọt vào chè trong tại sàn rung (hoặc tại máng chảy tràn), điều chỉnh van sao cho lượng dung dịch đưa vào chè trong đạt 3 lít trong 1 giờ Như vậy, với lượng mía ép 1900-2000 tấn/ngày lượng dung dịch Bussperse 1:1 sử dụng khoảng 72 lít/ngày
Những thao tác trong vận hành bồn lắng
Nạp nước mía vào bồn lắng Nước mía trước khi vào ngăn tiếp nạp đã được gia vôi và gia nhiệt vào bồn tản hơi theo chiều tiếp tuyến Tại đây 1 phần hơi sẽ thoát khỏi nước mía, theo ống thoát phía trên ra ngoài Do nước mía được đun
lửng trong nước mía Nhờ dòng chảy hướng tiếp tuyến với bồn tản hơi có dạng
là một Cyclon, các bọt khí thoát ra một cách dễ dàng cũng làm giảm tốc độ dòng chảy Trước khi nước mía vào bồn lắng, các cửa liên thông ở ống trung tâm phải được mở ra hoàn toàn để cho phép liên thông 4 ngăn lắng lại với nhau Nếu các cửa liên thông bị đóng trong lúc rạp nước mía, không những cả 4 ngăn lắng nhận nước mía không cùng một lúc mà làm ngăn cửa của bồn lắng bị
Trang 35Từ bồn tản hơi nước mía đi vào ngăn tiếp nạp và sau đó theo ống trụ tâm (ống rỗng) xuống ngăn dưới cùng Khi nước mía đã được nạp đầy vào bồn và bắt đầu có chè trong chảy qua hộp chảy trào thì khởi động tay gạt bùn và bắt đầu sự vận hành sự liên tục của bồn lắng
Việc đóng các cửa liên thông lại tuần tự, khi đó nước mía đi vào từng ngăn lắng thông qua lỗ thủng ở ống lắng trung tâm và đập vào tấm đổi hướng chảy ra với tốc độ giảm dần tới mức tối thiểu của chuyển động rối loạn Các cửa liên thông phải được đóng lại nếu không bùn sẽ tập trung xuống ngăn dưới lúc bồn lắng hoạt động bình thường Các cửa liên thông chỉ được mở ra khi ngưng sản xuất và cần làm trong bồn lắng
Khi bồn lắng đã hoạt động ổn định, cần điều chỉnh cơ cấu chảy trào nước mía cho tới khi nước mía trong ngăn tiếp nạp các máng gạt bùn khoảng 20 mm
để bọt và các tạp chất nổi được gạt ra máng bùn
Để thu được năng suất tối đa cho bồn lắng, điều cần thiết là phải đảm bảo sự cân bằng lưu lượng thích hợp cho 4 ống chảy tràn của 4 ngăn
Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ lắng
khi hạt kết tủa lắng xuống sẽ gặp một lực ma sát lớn gây giảm tốc độ lắng nồng
độ dung dịch cao thì tỉ trọng cao gây sai biệt tỉ trọng giữa hạt kết tủa
mía và một số tạp chất khác có tỉ trọng tuy lớn hơn nước mía nhưng quá nhỏ nên dễ bị bọt khí hút lại và nổi lên bề mặt dung dịch do nhiệt độ hạt kết tủa chìm sâu
Ở nhà máy đường La Ngà, dùng loại thiết bị lọc bùn là loại chân không liên tục Máy lọc là chống lọc lớn, hỗn hợp nước bùn được đắp 1 lớp ngoài lưới của trống lọc còn nước lọc trong được chân không hút vào trong theo một hệ thống ống dẫn ra ngoài Lọc là quá trình tách chất rắn ra khỏi dung dịch bằng cách cho dung dịch đi qua một lớp vật ngăn, các chất rắn được giữ lại trên bề mặt vật
Trang 36ngăn còn nước trong thì đi qua vật ngăn Để có thể lọc được, cần có áp suất dư trước sau vật ngăn Trong quá trình lọc có trở lực lọc, bao gồm trợ lực vật ngăn
và trợ lực lớp bùn lọc Do đó, máy lọc cần làm việc ở áp suất dư nhất định Ở
Ở giai đoạn đầu của quá trình lọc, khi lớp bùn lọc chưa được hình thành nước lọc trong có thể còn đục, cần được đưa đi lọc lại Nước lọc trong được đưa về thùng gia vôi chính Bã bùn sau khi lọc có độ pol=1-2% so với khối lượng bùn
và có độ pol =2-3% so với khối lượng mía, ẩm bùn w=77-78% lớp bùn bám trên trống lọc bùn được phun đều một lượng nước trên bề mặt gọi là nước rửa Lượng nước rửa cần dùng ở đây là 27,5 tấn/ngày
Chè trong: Là sản phẩm của nước mía hỗn hợp sau khi đã qua các công đoạn làm sạch như gia vôi sơ bộ, gia nhiệt I, gia vôi chính, gia nhiệt I, lắng Chè trong thường có: to
=105oC
Bốc hơi: Nhiệm vụ của hệ thống cô đặc là bốc hơi nước mía có nồng độ 60-65
Bx Nếu Bx đạt thấp < 55Bx sẽ làm mất cân bằng dây chuyền sản xuất, do nấu đường không kịp Vì nấu đường kết thành tinh hạt tốt nhất khi Bx >78 nhưng khi cô đặc đến nồng độ Bx >70 đường bắt đầu kết tinh và như vậy đường kết tinh sẽ đọng lại trong đường ống và trong bơm gây khó khăn cho quá trình lưu chuyển Tại công ty đường La Ngà, do công đoạn trích ly dùng phương pháp ép kết hợp khuếch tán đã dùng một lượng nước thẩm thấu khá lớn như đã trình bày phần trên Trong khi nước chè trong sau khi làm sạch có Bx= 13-15 trước khi qua công đoạn kết tinh người ta chọn nồng độ Bx= 60-65
Để khỏi bị chuyển hóa đường, trong quá trình bốc hơi yêu cầu phải có tốc độ bốc hơi cao (nhanh) liên tục và ổn định Ở La Ngà sử dụng phương pháp bốc hơi chân không 4 hiệu
với hệ thống bốc hơi 4 hiệu Theo nguyên lý tạo chân không ở các bình cao dần
Trang 37sự chênh lệch áp suất nhiệt độ sôi (điểm sôi ) của từng bình cần có cũng giảm dần Khi siro ra khỏi hệ thống, nhiệt độ đã giảm Hơi đốt sử dụng cho bốc hơi là
= 110–
1200C, áp suất P < 1 kg/cm2
Ngoài ra, khi cần thiết người ta cũng mở thêm một
khi đã được giảm ổn, giảm áp Hơi đốt được đưa vào bình bốc hơi hiệu I và hơi bốc lên khi ra khỏi hiệu I sẽ làm hơi đốt cho hiệu II Cứ như vậy, hơi đốt cấp cho hiệu III và hơi đốt cấp cho hiệu IV là hơi thứ sau hiệu III
Ngoài ra, người ta cũng có thể dùng hơi thứ sau hiệu I làm hơi đốt cho các nồi nấu đường Trong khi bốc hơi, nồng độ nước chè tăng độ hòa tan của các chất bẩn nhất là các muối vô cơ giảm nên các ống truyền nhiệt của bình bốc hơi bị đóng cặn nhiều
Trang 382.2.2.3 Quy trình thiết bị công đoạn hóa chế nước mía hỗn hợp
2.2.2.4 Các thiết bị chính trong công đoạn hóa chế
Bộ hâm nóng nước mía: (có 3 bộ trong đó có 1 bộ dự phòng) Là bộ truyền nhiệt tận dụng của nhiệt độ nước ngưng tụ hiệu III và hiệu IV Được truyền nhiệt theo nguyên tắc hai dòng nóng và đi ngược chiều nhau Nước mía đi trong ống thép không rỉ và nước ngưng tụ đi phía ngoài
GIA NHIỆT III
BỐC HƠI (CÓ 4 HIỆU: I, II, III,
IV)
NẤU ĐƯỜNG
Trang 39 Diện tích truyền nhiệt: 12,5 m2
/1 bình
Các thông số kỹ thuật:
/1 bình
Trang 40ra: 20 vg / ph
Thiết bị đun nóng lần II: (gia nhiệt II) Dùng để đun nóng nước mía sau khi đã gia vôi chính xong Dùng hơi thứ của bốc hơi hiệu II
Các thông số kỹ thuật:
/ 1 bình
Thùng khuấy sữa vôi đã hòa
Các thông số kỹ thuật:
Bồn lắng trong nước mía: Dùng để lắng trong nước mía sau khi đã gia vôi Bồn có bốn ngăn giống nhau và được bố trí chồng lên nhau, có đường ống tháo sản phẩm riêng và tháo bùn riêng Bên trong thùng có ống trung tâm dùng để phân phối nước mía cho từng ngăn thông qua van liên thông, ở đáy mỗi ngăn có gắn các cánh quạt để gạt bùn vào giếng bùn, cánh gạt được gắn vào ống trung tâm
Các thông số kỹ thuật: