Ý nghĩa của vấn đề này ở Việt Nam hiện nay.ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế:-Sản xuất tự cấp,tự túc:Kiểu tổ chức
Trang 1CÂU 1: Hãy cho biết điều kiện ra đời, đặc trưng, tác dụng của nền kinh tế sản xuất hàng hoá? Trình bày những nội dung cơ bản của hàng hoá và hàng hoá sức lao động? (Cho ví dụ minh họa).Tại sao nói sức lao động là hàng hoá đặc biệt? Ý nghĩa của vấn đề này ở Việt Nam hiện nay.
ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI
Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế:-Sản xuất tự cấp,tự túc:Kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm do lao động tạo ra là nhằm
để thỏa mãn trực tiếp nhu cầu của người sản xuất
-Sản xuất hàng hóa:Là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra để traođổi hoặc mua bán trên thị trường
=> Sản xuất hàng hóa ra đời là bước ngoặc căn bản trong lịch sử phát triển xã hội loàingười,đưa loài người thoát khỏi tình trạng “mông muội”,xóa bỏ nền kinh tế tựnhiên,phát triển lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội
-Thứ nhất: Có sự phân công lao động xã hội
-Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa sản xuất,phân chia lao động xã hộithành các ngành,các lĩnh vực sản xuất khác nhau
-Phân công lao động xã hội làm cho việc trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu,bởi vìmỗi ngành,mỗi người chỉ sản xuất một vài thứ,trong khi đó nhu cầu cuộc sống lại đòihỏi phải có nhiểu thứ khác nhau.Vì vậy họ cần trao đổi với nhau
=>Phân công lao động sản xuất là tiền đề là cơ sở của sản xuất hàng hóa
-Thứ hai:Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất
-Khi đó người sản xuất trở thành những chủ thể có sự độc lập nhất định với nhau vìsản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế, người này muốn tiêudùng sản phẩm lao động của người khác cần phải thông qua trao đổi, mua bán hànghoá
-Do chế độ tư hữu về tư hữu tư liệu sản xuất quy định.Vì chế độ tư hữu về tư liệu sànxuất làm cho tư liệu sản xuất thuộc sở hữu cá nhân,sản phẩm làm ra thuộc quyền sởhữu của họ.Vậy người này muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác cầnphải thông qua trao đổi mua bán hàng hóa
-Do các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sự tách rời quyền sở hữu vàquyền sử dụng đối với tư liệu sản xuất quy định
=>Đó là hai điều kiện cần và đủ để sản xuất hàng hóa.Thiếu một trong hai điều kiện đóthì sản xuất hàng hóa không thể ra đời và sản phẩm lao động không mang hình hàihàng hóa
Trang 2ĐẶC TRƯNG,TÁC DỤNG CỦA NỀN SẢN XUẤT HÀNG HÓA
+Thúc đẩy phân công lao động và chuyên môn hóa SX, tăng NSLĐ
+Mở rộng quan hệ giữa các quốc gia, khai thác được lợi thế các quốc gia với nhau
-Hai là, tính tách biệt về kinh tế đòi hỏi người sản xuất hàng hóa phải năng động trong
sản xuất - kinh doanh để sản xuất và tiêu thụ hàng hóa
+Ra sức cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, nâng cao chất lượng, cải tiến quy trình,mẫu mã hàng hóa, tổ chức tốt quá trình tiêu thụ
=>Từ đó làm tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
Ba là, sản xuất hàng hóa quy mô lớn có ưu thế so với sản xuất tự cấp tự túc về quy mô,trình độ kỹ thuật, Công nghệ, về khả năng thỏa mãn nhu cầu Vì vậy, sản xuất hànghóa quy mô lớn là hình thức tổ chức kinh tế xã hội hiện đại phù hợp với xu thế thời đạingày nay
Bốn là, sản xuất hàng hóa là mô hình kinh tế mở, thúc đẩy giao lưu kinh tế, giao lưuvăn hóa, tạo điều kiện nâng cao, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của xã hội
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HÀNG HÓA VÀ HÓA SỨC LAO ĐỘNG (CHO VÍ DỤ MINH HỌA)
HÀNG HÓA
Khái niệm hàng hóa
Trang 3Hàng hóa là sản phẩm của lao động,có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con ngườithông qua trao đổi,mua bán
Hàng hóa có thể ở hai dạng: vật thể (hữu hình),phi vật thể (vô hình)
Hai thuộc tính của hàng hóa
Gía trị sử dụng
-Khái niệm: Là công dụng của hàng hóa có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con
người, không kể nhu cầu đó được thỏa mãn trực tiếp hay gián tiếp
-Ví dụ:Gía trị sử dụng của cơm là để ăn,của quần áo là để mặc,của thiết bị,của nguyên
liệu,nhiên liệu là để sản xuất
kể hình thức xã hội của của cải đó như thế nào.+Hàng hóa ngày càng phong phú, đa dạng, hiện đại thì giá trị sử dụng càng cao
Giá trị trao đổi:
-Khái niệm: Giá trị trao đổi là một quan hệ về số lượng, là một tỷ lệ theo đó những
giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác
-Ví dụ: 1 m vải = 10 kg thóc
-Đặc trưng của giá trị hàng hóa:
+Là thuộc tính xã hội của hàng hóa
Trang 4+Là một phạm trù lịch sử,( nghĩa là nó chỉ tồn tại ở những phương thức sản xuất cósản xuất và trao đổi hàng hóa
+Biểu hiện quan hệ sản xuất xã hội, tức là quan hệ kinh tế giữa những người sản xuấthàng hóa
Giá trị trao đổi chỉ là hình thức biểu hiện của giá trị; giá trị là nội dung, là cơ sở củagiá trị trao đổi Giá trị thay đổi thì giá trị trao đổi cũng thay đổi theo
=.>Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa
+ Hàng hoá là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị Hai thuộc tínhtrên đều do cùng một lao động sản xuất ra hàng hóa
+ Hai thuộc tính của hàng hóa là sự thống nhất của các mặt đối lập Sự đối lập và mâuthuẫn ở chỗ;người làm ra hàng hóa đem bán chỉ quan tâm đến giá trị hàng hóa do mìnhlàm ra, nếu họ có chú ý đến giá trị sử dụng cũng chính là để có được giá trị
+Ngược lại, người mua hàng hóa lại chỉ chú ý đến giá trị sử dụng của hàng hóa, nhưngmuốn tiêu dùng giá trị sử dụng đó người mua phải trả giá trị của nó cho người bán.Giátrị được thực hiện trước, sau đó giá trị sử dụng mới được thực hiện
HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG
Lao động cụ thể
-Là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên mônnhất định Mỗi lao động cụ thể có mục đích riêng, đối tượng riêng, phương tiện riêng,phương pháp riêng và kết quả riêng
-Ví dụ: lao động cụ thể của người thợ mộc, mục đích là sản xuất cái bàn, cái ghế, đốitượng lao động là gỗ, phương pháp của anh ta là các thao tác về cưa, về bào, khoan,đục: phương tiện được sử dụng là cái cưa, cái đục, cái bào, cái khoan; kết quả lao động
là tạo ra cái bàn, cái ghế
-Mỗi lao động cụ thể tạo ra một loại giá trị sử dụng nhất định Các lao động cụ thể hợpthành hệ thống phân công lao động xã hội
-Giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn, vì vậy, lao động cụ thể cũng lả phạm trù vĩnhviễn tồn tại gắn liền với vật phẩm, nó là một điều kiện không thể thiếu trong bất kỳ
-Ví dụ :Dệt vải,dạy học
Lao động trừu tượng
-Là lao động của người sản xuất hàng hóa khi đã gạt bỏ những hình thức cụ thể của nó,hay nói cách khác, đó chính là sự tiêu hao sức lao động (tiêu hao sức bắp thịt, thầnkinh) của người sản xuất hàng hóa nói chung
Trang 5-Lao động bao giờ cũng là sự hao phí sức lực của con người xét về mặt sinh lý, nhưngkhông phải sự hao phí sức lao dộng nào về mặt sinh lý cũng là lao động trừu tượng.-Ví dụ:Lao động của người thợ mộc và lao động của người thợ may, nếu xét về mặt laođộng cụ thể thì hoàn toàn khác nhau, nhưng nếu gạt bỏ tất cả những sự khác nhau ấysang một bên thì chúng chỉ còn có một cái chung, đều phải tiêu phí sức óc, sức bắp thịt
và sức thần kinh của con người Lao động trừu tượng chính là lao động hao phí đồng
- Lao động trừu tượng tạo nên giá trị của hàng hóa, giá trị là lao động trừu tượng kết tinh trong hàng hóa
-Là một phạm trù lịch sử riêng có của sản xuất hàng hóa
Hàng hóa sức lao động cũng có 2 thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng Nhưng trong cả
2 thuộc tính đó của hàng hóa sức lao động đều tồn tại những khía cạnh khác biệt để
có thể khẳng định rằng: “Hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt”.
Trong thuộc tính “ giá trị”: là hàng hóa đặc biệt, giá trị hàng hóa sức lao động khác với hàng hóa thông thường ở chỗ nó còn bao gồm cả yếu tố tinh thần và lịch sử Điều đó có nghĩa là ngoài những nhu cầu về vật chất, người công nhân còn có những nhu cầu về tinh thần, văn hóa… Những nhu cầu đó phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch
sử của mỗi nước ở từng thời kỳ, đồng thời nó còn phụ thuộc vào cả điều kiện địa
lý, khí hậu của nước đó
Trong thuộc tính “ giá trị sử dụng”: quá trình sử dụng hay tiêu dùng hàng hóa sức lao động khác với hàng hóa thông thường ở chỗ: hàng hóa thông thường sau quá trình tiên dùng hay sử dụng thì cả giá trị lẫn giá trị sử dụng của nó đều tiêu biến mất theo thời gian Trái lại, quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động, đó lại là quá trình sản xuất ra một loạt hàng hóa nào đó, đồng thời là quá trình tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân hàng hóa sức lao động Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản đã chiếm đoạt
Trang 6=>Nói cách khác, hàng hóa sức lao động tạo ra giá trị thặng dư khi được đem vào sửdụng và chỉ có hàng hóa sức lao động mới có thể tạo ra giá trị thặng dư Chính vì vậy
mà hàng hóa sức lao động là một hàng hóa đặc biệt khác hẳn với những hàng hóathôngthườngkhác
Ý nghĩa của vấn đề này ở Việt Nam hiện nay.
Việc nghiên cứu hàng hoá sức lao động có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng thịtrường lao động ở Việt Nam Đảng và Nhà nước ta đã thừa nhận sức lao động là hànghoá (khi có đủ các điều kiện trở thành hàng hoá) cho nên việc xây dựng thị trường sứclao động là tất yếu Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa làvấn đề cốt lõi, trọng tâm của Đảng ta
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đòi hỏi phải có sự pháttriển đồng bộ các loại thị trường và Nghị quyết Đại hội IX cũng đã nhấn mạnh phảitiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường, thị trường lao động từ chỗ không tồn tại
đã bắt đầu hình thành và phát triển
Thị trường lao động là một trong những loại thị trường cơ bản và có một vị trí đặcbiệt trong hệ thống các thị trường của nền kinh tế Quá trình hình thành và phát triểncũng như sự vận động của thị trường lao động có những đặc điểm hết sức riêng biệt.Thị trường lao động cũng như các loại thị trường khác tuân thủ theo những quy luậtcủa thị trường như quy luật cung cầu, quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh Điểmkhác biệt lớn nhất ở đây là do tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động
Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng và Nhà nước đã ban hành hệ thống các chính sách
và cơ chế quản lý cho sự phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, tạo ra nhiềuđiều kiện thuận lợi để các ngành, cách hình thức kinh tế, các vùng phát triển, tạo nhiềuviệc làm đáp ứng một bước yêu cầu việc làm và đời sống của người lao động, do đó cơhội lựa chọn việc làm của người lao động ngày càng được mở rộng
Đại hội VIII của Đảng nêu rõ: “Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân,mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc cho người lao động” Mọi côngdân đều được tự do hành nghề, thuê mướn nhân công theo pháp luật Phát triển dịch vụviệc làm Tiếp tục phân bố lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước, tăng dân cưtrên các địa bàn có tính chiến lược về kinh tế, an ninh quốc phòng Mở rộng kinh tếđối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu Giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếuviệc làm ở nông thôn
Câu 2 Trình bày lượng giá trị của hàng hoá và các yếu tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hoá? Để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam, theo anh (chị) cần phải làm gì?
BÀI LÀM
Trang 7-Lượng giá trị của hàng hoá: lượng giá trị của hàng hóa là lượng lao động hao phí
để sản xuất ra hàng hóa đó quyết định.Lượng giá trị của hàng hóa được tính bằng thờigian lao động xã hội cần thiết
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một loại hànghóa trong điều kiện bình thường của xã hội, tức là với một trình độ kĩ thuật trung bình ,trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao động trung bình so với hoàn cảnh xã hộinhất định.thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết gần sát với thời gian laođộng cá biệt của những của những người sản xuất và cung cấp đại bộ phận một loạihàng hóa nào đó trên thị trường
-Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa:
Do thời gian lao động xã hội cần thiết luôn thay đổi nên lượng giá trị của hàng hóacũng là một đại lượng không cố định Sự thay đổi lượng giá trị của hàng hóa tùy thuộcvào những nhân tố sau:
+Thứ nhất, năng suất lao động : năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao
động, được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc
số lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
Có hai loại năng suất lao động: năng suất lao động cá biệt và năng suất lao động xã
hội năng suất lao động xã hội càng tăng , thời gian lao động xã hội cần thiết để sảnxuất ra hàng hóa càng giảm , lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít
Ngược lại năng suất lao động xã hội càng giảm , thì thời gian lao động xã hội cầnthiết để sản xuất ra hàng hóa càng tăng và lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càngnhiều lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa tỷ lệ thuận với số lao động kết tinh và tỷ
lệ nghịch với năng suất lao động xã hội Như vậy muốn giảm giá trị của mỗi đơn vịhàng hóa xuống, thì ta phải tăng năng suất lao động xã hội
Năng suất lao động có ảnh hưởng đến giá trị xã hội của hàng hóa chính là năng suấtlao động xã hội
Năng suất lao động tùy thuộc vào:
+ sự phát triển của khoa học- kỹ thuật
+ trình độ khéo léo của người lao động
+ sự kết hợp của xã hội trong sản xuất
+ hiệu quả của các tư liệu sản xuất/ các điều kiện tự nhiên
+Thứ hai, đó là cường độ lao động.
Cường độ lao động là khái niệm nói lên mức độ khẩn trương, là sự căng thẳng mệtnhọc của người lao động
Trang 8Khi cường độ lao động tăng lên, thì lượng lao động hao phí trong cùng một đơn vịthời gian cũng tăng lên và lượng sản phẩm tạo ra cũng tăng lên tương ứng, còn lượnggiá trị của một đơn vị sản phẩm vẫn không đổi Xét về bản chất tăng cường độ laođộng cũng giống như kéo dài thời gian lao động.
Mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến số lượng giá trị củahàng hóa
Theo mức độ phức tạp của lao động ta có thể chia lao động thành hai loại đó là laođộng giản đơn và lao động phức tạp Lao động giản đơn là lao động mà bất kỳ mộtngười bình thường nào có khả năng lao động cũng có thể thực hiện được Lao độngphức tạp là lao động đòi hỏi phải được huấn luyện thành lao động chuyên môn lànhnghề mới có thể tiến hành được
Trong cùng một thời gian lao động thì lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị lao laođộng hơn lao động giản đơn bởi vì thực chất lao động phức lạp chính là lao động giảnđơn được nhân lên Trong quá trình trao đổi mua bán, lao động phức tap được quy đổithành lao động giản đơn một cách tự phát do vậy lượng giá trị của hàng hóa được đobằng thời gian lao động xã hội cần thiết, giản đơn trung bình quyết định
CÁC BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA HÀNG HÓA VIỆT NAM:
Ta cần:
- Áp dụng chính sách chính phủ:_ mới các chuyên gia nước ngoài về tổ chức
các khóa tập huấn nhằm trao đổi nguồn công nghệ mới Nhà nước cần đưa ranhững định hướng về quản lí giá cả Có chính sách khuyến khích các doanhnghiệp trong nước mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sảnphẩm.Tạo điều kiện tổ chức các buổi hội thảo về cải tiến chất lượng, giảm giáthành sản phẩm để các doanh nghiệp học tập, tham khảo giá cả lẫn nhau.Tăngthuế nhập khẩu, giảm thuế xuất khẩu, giảm thuế xuất hàng nội địa, giảm thuếđầu vào cho các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa nội địa ,…nhằm giảm lượnghàng hóa nhập khẩu từ bên ngoài giúp nâng cao thị phần hàng hóa nội địa trongnước và ngoài nước
- Nâng cao trình độ lành nghề của người lao động Việt Nam: Nhà nước ta cần
có những biện pháp thiết thực để nâng cao trình độ cho người lao động như-Phát triển hệ thống cơ sở đào tạo nghề theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa Tậptrung đầu tư xây dựng, hiện đại hóa một số trường dạy nghề đạt trình độ tiêntiến trong khu vực -Khuyến khích phát triển cơ sở đào tạo nghề ngoài công lập,tại các DN và cở sở đào tạo nghề có vốn đầu tư nước ngoài…
- Về phía doanh nghiệp: Đầu tư, nhanh chống đổi mới công nghệ, dây chuyền
sản xuất vào sản xuất sản phẩm là mục tiêu chất lượng
Trang 9• Xây dựng các chiến lược nghiên cứu, xâm nhập thị trường thế giới, nghiên cứunhu cầu, thị hiếu của thị trường xuất khẩu.
• Tập trung giải quyết khâu tiếp thị
- Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Nước ta là
đất nước có tài nguyên thiên nhiên phong phú nhưng do quá trình công nghiệphoá hiện đại hoá cùng quá trình phát triển nền kinh tế mà vô tình đã gây ảnhhưởng nghiêm trọng đến tài nguyên môi trường nước, đất , rừng, để có mộtnền kinh tế mạnh nhưng vững chắc thì ngay từ bây giờ đảng nhà nước ta cùngtoàn thể nhân dân cần có những biên pháp, hành động cụ thể bảo vệ tài nguyênmôi trường khai thác sử dụng hợp lý
- Hàng Việt Nam cần đảm bảo chất lượng và giá cả phù hợp Nếu các nhà sản
xuất hàng hóa Việt Nam luôn giữ uy tín bằng các sản xuất hàng hóa chất lượng
và có giá cả hợp lí thì không bao giờ khách hàng nỡ quay lưng với hàng nội địa.Các ngành chức năng cần sử lí nghiêm các nhà sản xuất chạy theo lợi nhuận màsản xuất hàng kém chất lượng làm mất lòng tin người tiêu dùng
- Xử lý nghiêm hàng giả, hàng nhái Việt Nam
CÂU 3: Chứng minh quy luật tích lũy là quy luật chung nhất của mỗi phương thức sản
xuất Liên hệ với thực tiễn Việt Nam hiện nay ?
BÀI LÀM
I Lý luận
- Tích lũy cơ bản, trong kinh tế chính trị Mác – Lenin là việc biến một bộ phận giá trị
thặng dư hay chuyển hóa giá trị thặng dư trở lại thành tư bản
Tính tất yếu và khách quan của tích lũy cơ bản:
• Đáp ứng nhu cầu của tái sản xuất mở rộng nền kinh tế TBCN
• Để có ưu thế trong cạnh tranh
• Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ
Trang 10• Đảm bảo sự thống trị của giai cấp tư bản đối với giai cấp công nhân
Thực chất của tích lũy tư bản:
• Tái sản xuất giản đơn không phải là hình thái điển hình của chũ nghĩa tư bản,
mà hình thái sản xuất điển hình của nó là tái sản xuất mở rộng Tái sản xuất mởrộng bao gồm tái sản xuất của cải vật chất, sức lao động, quan hệ sản xuất, môitrường, sống Là sự lặp lại quá trình sản xuất với quy mô lớn hơn trước, với một
tư bản lớn hơn trước Muốn vậy, phái biến một bộ phận giá trị thặng dư thành tưbản phụ thêm Như vậy, thực chất của tích lũy tư bản là chuyển hóa một phầngiá trị thặng dư thành tư bản hay tư bản hóa giá trị thặng dư để tái đầu tư và mởrộng sản xuất
Động cơ của tích lũy cơ bản:
• Là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản – quy luật giá trị thặng dư,quy luật này chỉ rõ mục đích sản xuất của nhà tư bản là giá trị và sự tăng thêmgiá trị Để thực hiện mục đích đó, các nhà tư bản không ngừng tích lũy để mởrộng sản xuất, xem đó là phương tiện căn bản để tăng cường bóc lột công nhânlàm thuê Mặt khác, cạnh tranh buộc các nhà tư bản phải không ngừng làm cho
tư bản của mình tăng lên bằng cách tăng nhanh tư bản tích lũy
Những nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy cơ bản:
• Cùng với quá trình tái sản xuất TBCN, quy mô tích lũy tư bản cũng khôngngừng tăng lên Việc xem xét những nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tưbản phải được chia làm 2 trường hợp:
- Một là, trường hợp khối lượng giá trị thặng dư không đổi thì quy mô của tíchlũy tư bản phụ thuộc vào tỷ lệ phân chia khối lượng giá trị thặng dư đó thành 2quỹ: quỹ tích lũy và quỹ tiêu dùng của nhà tư bản
- Hai là, nếu tỷ lệ phân chia đó đã được xác định thì quy mô của tích lũy tư bảnphụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư Trong trường hợp này khối lượng giátrị thặng dư bị phụ thuộc vào những yếu tố sau:
• Trình độ bóc lột sức lao động bằng những biện pháp: tăng cường độ lao động,kéo dài thời gian lao động, cắt giảm tiền lương công nhân
• Trình độ năng suất lao động xã hội: năng suất lao động xã hội tăng lên sẽ cóthêm những yếu tố vật chất để biến giá trị thặng dư thành tư bản mới, nên làmtăng quy mô tích lũy tư bản
• Sự chênh lệch giữa tư bản được sử dụng và tư bản đã tiêu dùng
• +Quy mô tư bản ứng trước
Mối quan hệ giữa tích tụ và tập trung tư bản
• Tích tụ tư bản là sự tăng lên của tư bản cá biệt bằng cách tư bản hóa giá trịthặng dư, là kết quả trực tiếp của tích lũy tư bản Dẫn đến cạnh tranh gay gắt vàtập trung nhanh
Trang 11• Tập trung tư bản là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách hợp nhấtnhững tư bản cá biệt có sẵn trong xã hội thành một tư bản cá biệt khác lớn hơn.Đẩy nhanh tích tụ tư bản.
Quy luật tích lũy là quy luật chung nhất của mọi phương thức sản xuất:
• Phương thức sản xuất công xã nguyên thủy là phương thức sản xuất đầu tiên và
đã tồn tại lâu nhất, khi đó lực lượng sản xuất và năng suất lao động hết sức thấpkém Trải qua quá trình lao động hàng vạn năm người nguyên thủy dần dầnchuyên môn hóa các loại công cụ Lúc bấy giờ họ sống từng bầy Đất đai, câytrái, súc vật, mỗi tư liệu sinh hoạt đều thuộc sở hữu của công xã Việc phân chiasản phẩm lao động như thức ăn đều được chia đều Sau đó, lực lượng sản xuấtphát triển các công cụ bằng đồng được làm ra, trồng trọt và chăn nuôi thay thếcho săn bắt và hái lượm Với sự phát triển của lực lượng sản xuất, năng suất laođộng tăng lên, bắt đầu xuất hiện sản phẩm thặng dư và trao đổi xã hội phân chiathành giai cấp với các lợi ích kinh tế khác nhau
• Trong chế độ phong kiến Nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển thúc đẩy
sự phát triển của sản xuất và trao đổi Tuy vậy, những biến đổi kỹ thuật dướichế độ phong kiến diễn ra chậm chạp, sản xuất dựa chủ yếu vào lao động thủcông của nông dân và thợ thủ công Công cụ chủ yếu dùng bằng sắt, phân bónđược sử dụng rộng rãi; ở thời kì đầu, tất cả ruộng đất thuộc địa chủ phong kiếnđược chia làm hai phần, một phần do địa chủ trực tiếp quản lý, phần còn lạiđược chia cho nông nô Nông nô có quyền canh tác trên phần đất của mình đểsinh sống, đồng thời phải thực hiện canh tác trên phần đất của địa chủ dưới hìnhthức địa tô lao dịch Sản phẩm làm ra trên phần đất thuộc về địa chủ Ở thời kỳsau, hầu như toàn bộ ruộng đất đều được giao cho nông dân tá điền sử dụng,những nông dân này phải nộp địa tô hiện vật và sau này là địa tô tiền cho địachủ
• Trong chế độ TBCN, công thương nghiệp phát triển mạnh mẽ Các nhà tư bản
ra sức bóc lột công nhân một cách tàn bạo Họ dùng nhiều hình thức bóc lộtkhác nhau như: kéo dài thời gian lao động, cắt giảm tiền công, tăng cường dộlao động… Nhà tư bản thu được giá trị thặng dư một cách nhanh chóng cùngvới mâu thuẫn sâu sắc giữa các nhà tư bản và giai cấp công nhân
• Trong giai đoạn hiện nay, công nghiệp hóa hiện đại hóa, các doanh nghiệp ViệtNam sản xuất bằng những dây chuyền máy móc hiện đại, tư liệu sản xuất phongphú, lực lượng sản xuất có trình độ cao… làm cho năng suất lao động tăng đồngthời giá trị thặng dư được tích lũy một cách nhanh chóng, được áp dụng hầu hếttrên tất cả các ngành nghề
• Như vậy, tích lũy là phương thức chung nhất của mọi phương thức sản xuất Bất
kỳ trong thời đại nào, chế độ nào, mục tiêu của sản xuất đều muốn tạo ra giá trịthặng dư để tích lũy chúng thành của cải riêng của mình bằng các phương thứcsản xuất phù hợp trong từng thời kỳ khác nhau
II Vận dụng
Trang 12• Ở Việt Nam cũng không khác các nước khác, muốn tồn tại và phát triển thìcũng phải tích lũy
Đối với doanh nghiệp
- Doanh nghiệp nhà nước: Phải có chính sách và hướng phát triển hợp lý
- Doanh nghiệp tư nhân: VN hiện nay nền kinh tế thị trường chủ yếu nằm trongcác doanh nghiệp tư nhân; Doanh nghiệp tư nhân mở rộng sản xuất vốn đầu tư
để đứng vững trong quá trình cạnh tranh
Thực trạng tích lũy vốn ở Việt Nam
- Thời bao cấp:
• Cuộc sống khó khăn thiếu thốn => quá trình tích lũy vốn gặp trở ngại
• Nhà nước can thiệp sâu vào nền kinh tế => Doanh nghiệp không phát huy hếtkhả năng tham gia vào thị trường của mình
• Nguồn viện trợ nước ngoài chứa nhiều yếu tố chính trị => không phát huy hếtkhả năng vốn có
- Thời mở cửa:
• Chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, quy mô vốn doanh nghiệp còn thấp
• Tỷ lệ tiết kiệm, đầu tư thấp, số ít doanh nghiệp đầu tư không hiệu quả
• Nhà nước đang tăng đầu tư, mở rộng kinh doanh nhưng hệ thống hành chínhcòn nhiều thủ tục phiền hà
• Doanh nghiệp có biện pháp lôi kéo, giữ chân nhân tài thị trường tiền tệ, vốnchậm phát triển
• Các ngân hàng nước ngoài xuất hiện ở VN ngày càng nhiều
• Hình thức tích tụ và tập trung vốn chưa tạo ra sức hấp dẫn
• Hệ số sử dụng vốn trong nền kinh tế thấp
• Sử dụng và quản lý vốn chưa hiệu quả
• Lãi suất tín dụng chưa phù hợp để đẩy mạnh tích lũy vốn
Giải pháp:
• Giải quyết đúng đắn mối quan hệ tích lũy – tiêu dùng
• Tăng cường tích lũy vốn trong nước và có biện pháp thu hút vốn đầu tư nướcngoài
• Quản lý hiệu quả các nguồn thu
• Xây dựng lãi suất tiền gửi trung hạn và dài hạn hợp lý
• Ổn định giá trị tiền tệ
Trang 13• Sử dụng hiệu quả các nguồn vốn
• Huy động vốn trong nhân dân một cách linh hoạt và đa dạng
• Ngân hàng cần tạo ra sự tin cậy cho người dân
• Hoàn thiện môi trường và chính sách đầu tư
• Mở rộng và kích thích thị trường chứng khoáng hoạt động
• Mở rộng quan hệ hợp tác trong và ngoài nước
• Hoàn thiện chính sách và pháp luật
Câu 4: Vận dụng kiến thức đã học, hãy giải thích tại sao xuất khẩu tư bản là xu hướng tất yếu hiện nay? Việc tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài đã ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế hàng hóa ở nước ta hiện nay?
Tại sao xuất khẩu tư bản là xu hướng tất yếu hiện nay?
* Bản chất của xuất khẩu tư bản:
• Xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài (đầu tư tư bản ra nướcngoài) nhằm mục đích bốc lột giá trị thặng dư và các nguồn lợi khác ở các nướcnhập khẩu tư bản
Lênin khẳng định rằng, xuất khẩu tư bản khác về nguyên tắc với xuất khẩu hàng hóa
và là quá trình ăn bám bình phương Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xuất khẩu tưbản trở nên phổ biến vì:
- Một là, trong một số ít nước phát triển đã tích luỹ được một khối lượng lớn tưbản kếch xù và một bộ phận đã trở thành “tư bản thừa” do không tìm được nơiđầu tư có tỷ suất lợi nhuận cao ở trong nước
- Hai là, khả năng xuất khẩu tư bản xuất hiện do nhiều nước lạc hậu về kinh tế bịlôi cuốn vào sự giao lưu kinh tế thế giới, nhưng lại rất thiếu tư bản Các nước
đó giá ruộng đất lại tương đối hạ, tiền lương thấp, nguyên liệu rẻ, nên tỷ suất lợinhuận cao
- Ba là, chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì mâu thuẫn kinh tế - xã hội càng gaygắt Xuất khẩu tư bản trở thành biện pháp làm giảm mức gay gắt đó
* Các hình thức và hậu quả của xuất khẩu tư bản
• Xuất khẩu tư bản tồn tại dưới mọi hình thức, nếu xét cả cách thức đầu tư thì cóđầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp:
Trang 14– Đầu tư trực tiếp là hình thức xuất khẩu tư bản để xây dựng những xí nghiệp mớihoặc mua lại những xí nghiệp đang hoạt động ở nước nhận đầu tư, biến nóthành một chi nhánh của công ty mẹ.
– Đầu tư gián tiếp là hình thức xuất khẩu tư bản dưới dạng cho vay thu lãi Thôngqua các ngân hàng tư nhân hoặc các trung tâm tín dụng quốc tế và quốc gia, tưnhân hoặc các nhà tư bản cho các nước khác vay vốn theo nhiều hạn định khácnhau để đầu tư vào các đề án phát triển kinh tế
* Các hình thức và hậu quả của xuất khẩu tư bản
Nếu xét theo chủ sở hữu, có xuất khất tư bản nhà nước và xuất khẩu tư bản tưnhân:
– Xuất khẩu tư bản nhà nước là hình thức xuất khẩu tư bản mà nhà nước tư sảnlấy tư bản từ ngân quỹ của mình đầu tư vào nước nhập khẩu tư bản, hoặc việntrợ hoàn lại hay không hoàn lại để thực hiện những mục tiêu về kinh tế, chínhtrị và quân sự
+ Về kinh tế, xuất khẩu tư bản nhà nước thường hướng vào các ngành thuộc kếtcấu hạ tầng để tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư tư bản tư nhân
+ Về chính trị, viện trợ của nhà nước tư sản nhằm cứu vãn chế độ chính trị thâncận đang bị lung lay hoặc tạo ra mối liên hệ phụ thuộc lâu dài
+ Về quân sự, viện trợ của nhà nước tư sản nhằm lôi kéo các nước phụ thuộc vàocác khối quân sự hoặc buộc các nước nhận viện trợ phải đưa quân tham chiếnchống nước khác, cho nước xuất khẩu lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ củamình hoặc đơn thuần để bán vũ khí
– Xuất khẩu tư bản tư nhân là hình thức xuất khẩu tư bản do tư bản tư nhân thựchiện Ngày nay, hình thức này chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia tiến hànhthông qua hoạt động đầu tư kinh doanh Hình thức xuất khẩu tư bản tư nhân cóđặc điểm là thường được đầu tư vào các ngành kinh tế có vòng quay tư bảnngắn và thu được lợi nhuận độc quyền cao
* Những biểu hiện của xuất khẩu tư bản
– Thứ nhất là hướng xuất khẩu tư bản đã có sự thay đổi cơ bản Trước kia, luồng
tư bản xuất khẩu chủ yếu từ các nước tư bản phát triển sang các nước kém pháttriển ( chiếm tỷ trọng trên 70% ) Nhưng những thập kỷ gần đây đại bộ phậndòng đầu tư lại chảy qua lại giữa các nước tư bản phát triển với nhau
– Thứ hai là chủ thể xuất khẩu tư bản có sự thay đổi lớn, trong đó vai trò các công
ty xuyên quốc gia trong xuất khẩu tư bản ngày càng to lớn, đặc biệt là trongFDI Mặt khác, đã xuất hiện nhiều chủ thể xuất khẩu tư bản từ các nước đangphát triển mà nổi bật là các Nics châu Á
Trang 15– Thứ ba là hình thức xuất khẩu tư bản rất đa dạng, sự đan quyện giữa xuất khẩu
tư bản và xuất khẩu hàng hoá tăng lên Chẳng hạn, trong đầu tư trực tiếp xuấthiện những hình thức mới như BOT, BT sự kết hợp giữa xuất khẩu tư bản vớicác hợp đồng buôn bán hàng hoá, dịch vụ, chất xám không ngừng tăng lên – Thứ tư là sự áp đặt mang tính thực dân trong xuất khẩu tư bản đã được gỡ bỏdần và nguyên tắc cùng có lợi được đề cao
Kết luận:
Ngày nay, xuất khẩu tư bản luôn thể hiện kết quả hai mặt Một mặt, nó làm cho cácquan hệ tư bản chủ nghĩa được phát triển và mở rộng ra trên địa bàn quốc tế, gópphần thúc đẩy nhanh chóng quá trình phân công lao động và quốc tế hoá đời sốngkinh tế của nhiều nước; là một trong những nhân tố cực kỳ quan trọng tác động từbên ngoài vào làm cho quá trình công nghiệp hoá và tái công nghiệp hoá, hiện đạihoá ở các nước nhập khẩu tư bản phát triển nhanh chóng Song mặt khác, xuấtkhẩu tư bản vẫn để lại cho các quốc gia nhập khẩu tư bản, nhất là với các nướcđang phát triển những hậu quả nặng nề như: nền kinh tế phát triển mất cân đối và lệthuộc, nợ nần chồng chất do bị bóc lột quá nặng nề Song điều này tuỳ thuộc mộtphần rất lớn vào vai trò quản lý của nhà nước ở các nước nhập khẩu tư bản Lợidụng mặt tích cực của xuất khẩu tư bản , nhiều nước đã mở rộng việc tiếp nhận đầu
tư để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá ở nứơc mình Vấn đề đặt ra là phải biếtvận dụng mềm dẻo,linh hoạt , nguyên tắc cùng có lợi, lựa chọn phương án thiếtthực, để khai thác nguồn lực quốc tế có hiệu quả
Việc tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài đã ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh
tế hàng hóa ở nước ta hiện nay?
*Đặc điểm của việc tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài:
Đầu tư nước ngoài mang đầy đủ những đặc trưng của đầu tư nói chung nhưng cómột số đặc trưng khác với đầu tư trong nước đó là:
Chủ đầu tư có quốc tịch nước ngoài
Các yếu tố đầu tư được di chuyển ra khỏi biên giới
Vốn đầu tư có thể là tiền tệ, vật tư hàng hóa , tư liệu sản xuất, tài nguyên thiênnhiên nhưng được tính bằng ngoại tệ
*Các hình thức biểu hiện của đầu tư nước ngoài thường là
• Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức, gọi tắt là ODA
• Nguồn vốn tín dụng thương mại
Trang 16• Nguồn vốn đầu tư từ việc bán cổ phiếu, trái phiếu cho người nước ngoài, gọitắt là FPI.
• Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, gọi tắt là FDI Đây là nguồn vốn đầu tưkhá phổ biến hiện nay của nước ngoài đầu tư vào một quốc gia nào đó nhằmmục đích kiếm lợi nhuận là chủ yếu Trong thực tế, nguồn vốn ODA và FDI làkhá phổ biến, hai nguồn này đều có vị trí khá quan trọng
Việc tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài có những ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cực đếnnền kinh tế hàng hóa ở nước ta hiện nay Cụ thển như:
Về mặt tích cực:
• FDI (Nguồn vốn đầu tư từ việc bán cổ phiếu, trái phiếu cho người nướcngoài) không để lại gánh nặng nợ cho Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư nhưODA hoặc các hình thức đầu tư nước ngoài khác như vay thương mại, pháthành trái phiếu ra
• Các nhà đầu tư nước ngoài tự bỏ vốn ra kinh doanh, trực tiếp điều hành sảnxuất kinh doanh, hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư Nước tiếp nhậnFDI ít phải chịu những điều kiện ràng buộc kèm theo của người cung ứng vốnnhư của ODA
• Thực hiện liên doanh với nước ngoài, việc bỏ vốn đầu tư của các doanh nghiệptrong nước có thể giảm được rủi ro về tài chính, trong tình huống xấu nhất khigặp rủi ro thì các đối tác nước ngoài sẽ là người cùng chia sẻ rủi ro với các công
ty của nước sở tại
• FDI không đơn thuần chỉ là vốn, mà kèm theo đó là công nghệ, kỹ thuật,phương thức quản lý tiên tiến, cho phép tạo ra những sản phẩm mới, mở ra thịtrường mới… cho nước tiếp nhận đầu tư
• Thông qua tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài, nước tiễp nhận đầu tư có điều kiệnthuận lợi để gắn kết nền kinh tế trong nước với hệ thống sản xuất, phân phối,trao đổi quốc tế, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước này
• Thông qua tiếp nhận đầu tư nước ngoài , các nước sở tại có điều kiện thuận lợi
để tiếp cận và thâm nhập thị trường quốc tế, mở rộng thị trường xuất khẩu,thích nghi nhanh hơn với các thay đổi trên thị trường thế giới… Đầu tư nướcngoài có vai trò làm cầu nối và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, mộtnhân tố đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới
• Đầu tư nước ngoài có lợi thế là có thể được duy trì sử dụng lâu dài, từ khi mộtnền kinh tế còn ở mức phát triển thấp cho đến khi đạt được trình độ phát triểnrất cao Vốn ODA thường được dành chủ yếu cho những nước kém phát triển,
Trang 17sẽ giảm đi và chấm dứt khi nước đó trở thành nước công nghiệp, tức là bị giớihạn trong một thời kỳ nhất định FDI không phải chịu giới hạn này, nó có thểđược sử dụng rất lâu dài trong suốt quá trình phát triển của mỗi nền kinh tế.
Về mặt tiêu cực:
• Việc sử dụng nhiều vốn đầu tư FDI có thể dẫn đến việc thiếu chú trọng huyđộng tối đa vốn trong nước, gây ra sự mất cân đối trong cơ cấu đầu tư , có thểgây nên sự phụ thuộc của nền kinh tế vào vốn đầu tư nước ngoài Do đó, nếu tỷtrọng FDI chiếm quá lớn trong tổng vốn đầu tư phát triển thì tính độc lập tự chủ
có thể bị ảnh hưởng, nền kinh tế phát triển có tính lệ thuộc bên ngoài, thiếuvững chắc
• Đôi khi công ty 100% vốn nước ngoài thực hiện chính sách cạnh tranh bằng
con đường bán phá giá, loại trừ đối thủ cạnh tranh khác, độc chiếm hoặc khốngchế thị trường, lấn áp các doanh nghiệp trong nước
• Thực tế đã cho thấy khi thực hiện các dự án liên doanh, các đối tác nước ngoài
đã tranh thủ góp vốn bằng các thiết bị và vật tư đã lạc hậu, đã qua sử dụng, hoặcnhiều khi đã đến thời hạn thanh lý, gây ra thiệt hại to lớn cho nền kinh tế củanước tiếp nhận đầu tư
• Thông qua sức mạnh hơn hẳn về tiềm lực tài chính, sự có mặt của các doanhnghiệp có vốn nước ngoài gây ra một số ảnh hưởng bất lợi về kinh tế- xã hộinhư làm tăng chênh lệch về thu nhập, làm gia tăng sự phân hóa trong các tầnglớp nhân dân, tăng mức độ chênh lệch phát triển giữa các vùng
Kết luận:
Với những mặt tích cực và tiêu cực của đầu tư nước ngoài, nếu có sự chuẩn bị
kỹ lưỡng, đầy đủ và có các biện pháp phù hợp, nước tiếp nhận FDI có thể hạnchế, giảm thiểu những tác động tiêu cực này và sử lý hài hòa mối quan hệ củanhà đầu tư nước ngoài với lợi ích quốc gia để tạo nên lợi ích tổng thể tích cực.Đồng thời cần tạo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế
ở Việt Nam; thu hút đầu tư nước ngoài với mục tiêu quan trọng nhất không phải
là số lượng vốn thu nhận được, mà phải là hài hòa hiệu quả kinh tế- xã hội-môitrường, hài hòa lợi ích của nước chủ nhà với lợi ích của nhàđầu tư, kích thíchnền kinh tế hàng hóa trong nước phát triển mạnh
Phần I: Lý luận chung về tích lũy tư bản.
1. Giá trị thặng dư - nguồn gốc của tích lũy tư bản.
_Theo đánh giá của Lenin thì lí luận về giá trị thặng dư là “hòn đá tảng” củahọc thuyết kinh tế của Mác
Trang 18_Các nhà tư bản để đạt được mục đích tối đa của mình, họ đã mua sức lao độngcủa người công nhân kết hợp với tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm và thu
về giá trị thặng dư
_Thật vây, giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động docông nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không, phản ánh mối quan hệkinh tế bản chất nhất của chủ nghĩa tư bản – quan hệ bóc lột lao động làm thuê.Giá trị thặng dư do lao động không công của công nhân tạo ra là nguồn gốc làmgiàu của các nhà tư bản
_Ví dụ:
_Như vậy nguồn gốc của tích luỹ tư bản là giá trị thặng dư - là lao động củacông nhân bị nhà tư bản chiếm không Nói cách khác, toàn bộ của cải của giaicấp tư sản đều do lao động của giai cấp công nhân tạo ra
2. Vì sao nói quy luật tích lũy là quy luật kinh tế chung của mọi phương thức sản xuất.
Mỗi phương thức sản xuất có một quy luật kinh tế tuyệt đối, quy luật phản ánhmối quan hệ kinh tế bản chất nhất của phương thức sản xuất ấy Để tạo ra giá trị thặng
dư chính là quy luật tuyệt đối của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Nội dung quy luật:
_Sản xuất ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản bằng cách tangcường bóc lột lao động làm thuê trên cơ sở tăng năng suất lao động và cường độ laođộng
Thể hiện:
+ Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là giá trị sử dụng mà làsản xuất ra giá trị thặng dư, là nhân giá trị lên Theo đuổi giá trị thặng dư tối đa là mụcđích và động cơ thúc đẩy sự hoạt động của mỗi nhà tư bản, cũng như của toàn bộ xãhội tư bản Nhà tư bản cố gắng sản xuất ra hàng hoá với chất lượng tốt đi chăng nữa,thì đó cũng chỉ vì nhà tư bản muốn thu được nhiều giá trị thặng dư
+ Sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa không chỉ phản ánh mục đích của nền sảnxuất tư bản chủ nghĩa, mà còn vạch rõ phương tiện, thủ đoạn mà các nhà tư bản sửdụng để đạt được mục đích như tăng cường bóc lột công nhân làm thuê bằng cách tăngcường độ lao động và kéo dài ngày lao động, tăng năng suất lao động và mở rộng sảnxuất
+Như vậy, quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tưbản Thực chất của quy luật này là tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư cho nhà tưbản bằng cách tăng cường bóc lột lao động làm thuê Quy luật giá trị thặng dư ra đời
và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của chủ nghĩa tư bản
+ Quy luật này quyết định toàn bộ sự vận động của chủ nghĩa tư bản, một mặt
nó là động lực thúc đẩy sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển nhanh chóng, mặt khác lạilàm tăng mâu thuẫn cơ bản của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
Trang 193. Đặc điểm của sản xuất, giá trị thặng dư trong giai đoạn hiện nay
+ Chế độ người bóc lột người chỉ tồn tại trong những điều kiện kinh tế nhấtđịnh Chủ nghĩa tư bản ngày nay tuy có những điều chỉnh nhất định về hình thức sởhữu, quản lý và phân phối để thích nghi ở mức độ nào đó với điều kiện mới, nhưng sựthống trị của chủ nghĩa tư bản tư nhân vẫn tồn tại nguyên vẹn, bản chất bóc lột của chủnghĩa tư bản vẫn không thay đổi Nhà nước tư sản hiện nay tuy có tăng cường canthiệp vào đời sống kinh tế và xã hội, nhưng về cơ bản nó vẫn là bộ máy thống trị củagiai ấp tư sản
+ Hiện nay do trình độ đã đạt được của văn minh nhân loại và do cuộc đấutranh của giai cấp công nhân, mà một bộ phận không nhỏ công nhân ở các nước tư bảnphát triển có mức sống tương đối sung túc, nhưng về cơ bản, họ vẫn phải bán sức laođộng và vẫn bị nhà tư bản bóc lột
Tuy nhiên, ngày nay sự tiến bộ của khoa học - công nghệ đã đưa đến sự biếnđổi sâu sắc các yếu tố sản xuất và bản thân quá trình sản xuất làm cho việc sản xuất ragiá trị thặng dư có những đặc điểm mới:
Một là, do kỹ thuật và công nghệ hiện đại được áp dụng rộng rãi nên khối lượnggiá trị thặng dư được tạo ra chủ yếu nhờ tăng năng suất lao động, ở đây, việc tăng năngsuất lao động có đặc điếm là chi phí lao động sống trong một đơn vị sản phẩm giảmnhanh, vì máy móc hiện dại thay thế được nhiều lao động sống hơn Đồng thời, doviệc sử dụng máy móc hiện đại nên chi phí lao động quá khứ trong một đơn vị sảnphẩm cũng giảm xuống một cách tuyệt đối
Hai là, cơ cấu lao động xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay có sự biếnđổi lớn Do áp dụng rộng rãi kỹ thuật và công nghệ hiện đại nên lao động phức tạp, laođộng trí tuệ tăng lên và thay thế lao động giản đơn, lao động cơ bắp Chính nhờ sửdụng lực lượng lao động có trình độ kỹ thuật cao mà ngày nay tỷ suất và khối lượnggiá trị thặng dư đã tăng lên rất nhiều
Ba là, sự bóc lột của các nước tư bản phát triển trên phạm vi quốc tế ngày càngđược mở rộng dưới nhiều hình thức: xuất khẩu tư bản và hàng hoá, trao đổi khôngngang giá lợi nhuận siêu ngạch mà các nước tư bản phát triển bòn rút từ các nướckém phát triển trong mấy chục năm qua đã tăng lên gấp nhiều lần Sự cách biệt giữanhững nước giàu và những nước nghèo ngày càng tăng và đang trở thành mâu thuẫnnổi bật trong thời đại ngày nay
PHẦN II: LIÊN HỆ THỰC TIỄN VIỆT NAM
_Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, vấn đề tích luỹ vốn được xem là yếu tố để có thể
mở rộng sản xuất tăng khả năng cạnh tranh và đem lại thu nhập cao trong tương lai,cùng với nó việc phân bố và sử dụng hiệu quả cũng là bài toán đòi hỏi các doanhnghiệp cần có sự lựa chọn và đưa ra các quyết định cần thiết
_Đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát riển kinh tế, nhất làhơn 20 năm đổi mới vừa qua, tốc độ tăng trưởng khá cao, sản xuất phát triển, có tíchluỹ từ nội bộ, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Để giữ được tốc độ tăng trưởngcao trong những năm tới sẽ phụ thuộc rất nhiều vào việc tích lũy, huy động vốn chonền kinh tế Nhiều chuyên gia quốc tế cho rằng Việt Nam muốn phát triển đạt tốc độ
Trang 20theo hướng rồng bay thì phải nỗ lực huy động tích luỹ trong nước, tăng cường nó cóhiệu quả với vốn nước ngoài và đầu tư phải có hiệu quả cao để hệ số ICOR chỉ ở mức2,5 và mức tăng trưởng phải ít nhất là trên 8% một năm, như vậy thì thu nhập bìnhquân đầu người của Việt Nam có thể tăng gấp 45 lần trong vòng một thế hệ Việt Nam
có thể lựa chọn các tình huống tăng trưởng tuỳ theo mức tích luỹ trong nước và mứcđầu tư trên GDP cũng như hiệu suất sử dụng vốn Việt Nam muốn đẩy nhanh tốc độCNH-HĐH nền kinh tế cần huy động tối đa không chỉ nguồn vốn tiền mặt còn nằm rảirác trong dân cư mà còn cần phải huy động các nguồn tài lực, những kinh nghiệmquản lý, và tất cả các quan hệ bang giao cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đạihoá nền kinh tế Chúng ta sẽ xem xét thực trạng và giải pháp tích lũy vốn ở Việt namhiện nay
1 THỰC TRẠNG TÍCH LŨY VỐN CỦA VN
+Trước đây, trong nền kinh tế bao cấp, chỉ huy khi mà cuộc sống của người dâncòn vô cùng khó khan, tiêu dung còn thiếu thốn thì quá trình tích lũy vốn còn gặpnhiều trở ngại Sự can thiệp quá sâu vào nền kinh tế của Nhà nước làm cho các tổ chứcdoanh nghiệp không thể phát huy hết được khả năng tham gia vào thị trường của mình.Nguồn vốn viện trợ của nước ngoài lại chứa đựng nhiều yếu tố chính trị nên khôngđược phát huy hết khả năng vốn có của nó
+Với chính sách mở cửa phát triển kinh tế, đời sống nhân dân được cải thiện rõrệt, tổng thu nhập quốc dân tang nhanh, thị trường hàng hóa phong phú và sôi động.Tuy nhiên, những thành quả đó vẫn còn quá nhỏ bé, nền kinh tế nước ta vẫn còn lạchậu, kém phát triển Một trong những nguyên nhân chính là thwujc trạng tích lũy vốncủa ta chưa đáp ứng yếu cầu phát triển, quy mô vốn của các doanh nghiệp thấp
+Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, tính đến ngày 01/01/2004 cả nước có72.012 doanh nghiệp thực tế hoạt động với tổng số vốn là 1.724.558 tỷ đồng (nếu quyđổi ra đô la Mỹ( thời điểm năm 2003)thì quy mô vốn của các doanh nghiệp ở ViệtNam chỉ tương đương với 1 tập đoàn quốc gia cỡ trung bình trên thế giới) Trong đódoanh nghiệp Nhà nước chiếm 59.0% tổng vốn của doanh nghiệp cả nước (1.018.615
tỷ đồng), doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 19.55%( 337.155 tỷ đồng), doanhnghiệp có vốn đầu nước ngoài chiếm 21.44% tổng vốn các doanh nghiệp cả nước(868.788 tỷ đồng) Xét riêng đối với mỗi doanh nghiệp, vốn của từng doanh nghiệp rấtnhỏ( năm 2004
2 CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH TÍCH LŨY Ở VIỆT NAM
Kết luận
+Qua lý luận tích lũy tư bản, ta thấy rằng cùng với sự phát triển của xã hội, tích lũy ngày càng đóng vai trò cần thiết Nhờ tích lũy mà của cải xã hộikhông ngừng tăng lên Tuy nhiên trong từng giai đoạn lịch sử tích lũy lại mang nhữngbản chất khác nhau: dưới chủ nghĩa tư bản, tích lũy là phương tiện để giai cấp tư sản
Trang 21bóc lột lao động làm thuê, tích lũy càng nhiều lao động làm thuê càng bị bóc lột nặng
nề gây mâu thuẫn đối kháng không thể giải quyết được, trong chủ nghĩa xã hội, tíchlũy là phương tiện làm tăng của cải, tích lũy càng cao thì đời sống của nhân dân càng
+Riêng đối với Việt Nam, để đạt những thuận lợi cùng với việc vượt qua nhữngthách thức trong công nghiệp hiện đại hóa đất nước, trước hết phải có nguồn vốn dồidào và quan trọng là việc sử dụng vốn như thế nào để đạt hiệu quả.Sự phát triển bềnvững và liên tục của nền kinh tế cũng tạo áp lực, thách thức đòi hỏi mỗi người dân,mỗi doanh nghiệp…không chỉ biết làm giàu cho mình mà còn phải làm giàu cho toàn
xã hội.Quy luật cạnh tranh đã bắt buộc bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phảikhông ngừng mở rộng vốn đầu tư để phát triển doanh nghiệp Mà con đường duy nhất
là phải tích lũy ngày càng nhiều hơn để tái sản xuất mở rộng Mặt khác việc thu hútvốn đầu tư nước ngoài(FDI, ODA,…) sẽ có tác động hỗ trợ rất lớn Có như vậy chúng
ta mới từng bước thực hiện thành công công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, pháttriển nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, sớm đạt mục tiêu dân giàu nước mạnh,
XH công bằng, dân chủ văn minh
Câu 5 Hãy lý giải luận điểm: trong các giai cấp đối lập với giai cấp tư sản, thì chỉ
có giai cấp công nhân là thực sự cách mạng? Liên hệ với giai cấp công nhân Việt Nam?
I Hãy lý giải luận điểm: trong các giai cấp đối lập với giai cấp tư sản, thì chỉ có giaicấp công nhân là thực sự cách mạng?
1.Khái niệm giai cấp công nhân:
Thuật ngữ giai cấp công nhân ( hay giai cấp vô sản, giai cấp vô sản hiện đại, giai cấpcông nhân hiện đại, giai cấp công nhân đại công nghiệp ) biểu thị khái niệm về mộtgiai cấp là “”con đẻ”” của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, “”là sản phẩm của bản thânnền đại công nghiệp” Và chỉ có giai cấp công nhân hiện đại mới có thể đại biểu cholực lượng sản xuất tiên tiến và phương thức sản xuất 2
Giai cấp công nhân có hai đặc trưng cơ bản:
+Phương thức lao động: Trực tiếp hay gián tiếp vận hành những công cụ sản xuất cótính chất công nghiệp ngày càng hiện đại, ngày càng có trình độ xã hội hóa cao
+Địa vị trong hệ thống quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa:
+Về cơ bản, giai cấp công nhân là giai cấp không có tư liệu sản xuất, phải bán sức laođộng cho các nhà tư bản
+Toàn bộ sự sống còn phụ thuộc vào tình hình làm ăn, sự biến động của cuộc cạnhtranh giữa các nhà tư bản
Trang 22->Đặc trưng khiến giai cấp công nhân trở thành giai cấp vô sản -> lực lượng đối khángvới giai cấp tư sản.
Ngày nay, sự phát triển của khoa học, kéo thoe sự thay đổi, phát triển của gia cấp côngnhân:
+Phương thức lao động: xuất hiện một bộ phận công nhân của những nghành ứngdụng công nghệ cao có trình độ tri thức ngày càng cao
+Phương diện đời sống: ở các nước phát triển, một bộ phận nhỏ có được tư liệu sảnxuất nhưng chiếm tỷ lệ rất ít
2 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:
Một trong những cống hiến vĩ đại của C.Mác là phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giaicấp công nhân: Chủ nghĩa Mác đã làm rõ tính tất yếu diệt vong của phương thức sảnxuất tư bản chủ nghĩa trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Mà “trong các giai cấpđối lập với giai cấp tư sản, thì chỉ có giai cấp công nhân là thực sự cách mạng”, “”làngười xây dựng xã hội chủ nghĩa”
Trong đó, giai cấp công nhân là giai cấp có sứ mệnh lãnh đạo, tập hợp được các tầnglớp nhân nhân lao động, tiến hành đấu tranh cách mạng xóa bỏ chế độ tư bản chủnghĩa, xóa bỏ mọi chế độ áp bức bóc lột và xây dựng xã hội mới về mọi mặt kinh tế,chính trị, văn hóa, tư tưởng
Theo C.Mác và Ph Ăngghen, để thực hiện sứ mệnh, giai cấp công nhân cần phải trảiqua hai bước:
+ Bước 1: “… giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị”, “giai cấp vô sản chiếmlấy chính quyền nhà nước”
+ Bước 2: Giai cấp vô sản dung sự thống trị của mình đoạt lấy toàn bộ tư liệu sản xuấttrong tay tư bản để tiến hành tổ chức xây dựng xã hội mới – xã hội chủ nghĩa
Không tiến hành được bước thứ nhất thì không thục hiện được bước thứ hai Hoànthành toàn bộ các bước thì mới coi là hoàn thành sứ mệnh
3 Tại sao “trong các giai cấp đối lập với giai cấp tư sản, thì chỉ có giai cấp công nhân
là thực sự cách mạng?”
- Giai cấp công nhân là giai cấp tiên phong cách mạng: đại diện cho phương thức tiến
bộ hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Lợi ích căn bản thống nhất với lợi íchcủa nhân dân lao động -> Có khả năng, điều kiện tập hợp quần chúng nhân dân làmcách mạng
- Giai cấp công có tính cách mạng triệt để, là giai cấp không gắn với tư hữu -> Kiênđịnh trong cuộc đấu tranh xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng xã hội mới
Trang 23- Có ý thức tổ chức kỷ luật (làm việc trong môi trường sản xuất tập trung cao, trình độ
kỹ thuật ngày càng hiện đại, cơ cấu chặt chẽ, làm việc theo dây chuyền)-> Đấu tranhbằng phẩm chất kỷ luật
- Giai cấp công nhân có bản chất quốc tế Giai cấp công nhân ở tất cả các nước đều cóchung một mục đích là đồng thời giải phóng bản thân và xã hội khỏi áp bức bóc lột, cóchung một kẻ thù đó là giai cấp tư sản bóc lột
II Liên hệ với giai cấp công nhân Việt Nam
Vào cuối TK 19, cùng với công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp dẫn tới sự
ra đời tất yếu khách quan của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở việt nam từ đóxuất hiện giai cấp công nhân Việt Nam Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng
xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làmcông hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp,hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp
- Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam : Giai cấp công nhân nước ta có sứmệnh lịch sử to lớn: Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là ĐảngCộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiênphong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân vớigiai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng
-Giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Công nhân lao động nước ta hiện nay chiếm khoảng 13,5% dân số giai cấp công nhânlao động Việt Nam ngày càng đa dạng về cơ cấu ngành nghề, trình độ học vấn, chuyênmôn, kỹ năng nghề nghiệp Đã hình thành ngày càng đông đảo bộ phận CN trí thức (cótrình độ ĐH, CĐ trở lên) làm công tác quản lý, nghiên cứu và quản lý khoa học kỹthuật gắn với sản xuất kinh doanh hằng năm đóng góp trên 50% tổng sản phẩm xã hội
Giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là ĐảngCộng sản Việt Nam, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội,lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhậpkinh tế quốc tế; có nhiều cố gắng để phát huy vai trò là lực lượng nòng cốt trong liênminh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạocủa Đảng Trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giai cấp công nhân đã đóng góp trựctiếp to lớn vào quá trình phát triển của đất nước, cùng với các giai cấp, tầng lớp vàthành phần xã hội khác, giai cấp công nhân nước ta là cơ sở chính trị - xã hội vữngchắc của Đảng và Nhà nước