- Tổng kết từ những thành tựu tự nhiên của khoa học, phê phán những quan niệm duy tâm, siêu hình về phạm trù vật chất, Lênin đã đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về phạm trù vật chất: “Vậ
Trang 1CÂU HỎI ÔN TẬP NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
CÂU 1: PHÂN TÍCH PHẠM TRÙ VẬT CHẤT THEO QUAN ĐIỂM CỦA LÊNIN VÀ CHO BIẾT Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ NÀY.
- Tổng kết từ những thành tựu tự nhiên của khoa học, phê phán những quan niệm duy tâm, siêu hình về phạm trù vật chất, Lênin đã đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về phạm trù vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem đến cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta sao lại, chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.”
Ví dụ: Các sự vật như: nguyên tử, phân tử, các thiên hà, siêu thiên hà trong vũ trụ… các hiện tượng như mưa, nắng, thủy triều… chúng tồn tại một cách khách quan
Phân tích:
- Từ định nghĩa vật chất của Lênin ta có vật chất là một phạm trù triết học cho ta thấy vật chất là một phạm trù rộng nhất, khái quát nhất, không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật chất thường dùng trong các khoa học cụ thể hay trong đời sống hằng ngày - Vật chất còn là kết quả của sự khái quát trừu tượng háo những thuộc tính, những mối liên hệ vốn có của sự vật, hiện tượng, nó phản ánh cái chung, cái vô hạn, vô tận không sinh ra không mất đi Vì vậy không thể đồng nhất vật chất với các vật thể cụ thể hay một thuộc tính nào đó của vật chất
- Thuộc tính cơ bản nhất của vật chất là “thực tại khách quan”, “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Như vậy nó tồn tại độc lập ngoài ý thức không phụ thuộc vào ý thức con người dù cho con người có nhận thức được hay không nhận thức được nó
- “Thực tại khách quan” là tất cả những gì tồn tại bên ngoài và không lệ thuộc vào cảm giác, ý thức của con người Đây là thuộc tính quan trọng nhất của vật chất, là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất Tất cả những gì tồn tại bên ngoài, độc lập với cảm giác, ý thức, và đem lại cho chúng ta trong cảm giác, trong ý thức là vật chất
- “Thực tại khách quan” được đem lại cho con người trong cảm giác”, “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Điều đó khẳng định vật chất có trước, cảm giác và ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc khách quan của cảm giác, ý thức
- “Thực tại khách quan” được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh” Điều này khẳng định rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới vật chất Vật chất là cái có thể gây nên cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của con người, ý thức con người là
sự phản ánh đối với vật chất, còn vật chất là cái được ý thức phản ánh
=> Kết luận: Vật chất không tồn tại một cách vô hình, thần bí mà tồn tại một cách hiện thực, được ý thức con người
phản ánh, do đó về nguyên tắc, không thể có đối tượng vật chất không thể nhận thức được, mà chỉ có những đối tượng vật chất chưa nhận thức được mà thôi
Ý nghĩa nghiên cứu:
- Định nghĩa vật chất của Lênin đã:
+ Bao quát cả hai mặt vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng
+ Chống lại quan điểm duy tâm, tôn giáo về phạm trù vật chất
Trang 2+ Khắc phục được tính chất siêu hình, cơ giới, máy móc trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật trước Mác
+ Chống lại quan điểm của nghĩa chủ nghĩa duy vật tầm thường, là đồng nhất vật chất với ý thức
+ Có ý nghĩa trong việc chống lại thuyết không thể
+ Liên kết chủ nghĩa duy vật biện chứng với chủ nghĩa duy vật lịch sử thành một thể thống nhất
+ Mở đường cho các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu và khám phá những kết cấu phức tạp của thế giới vật chất
- Trong thời đại ngày nay khi khoa hoc kỹ thuật là sự lớn mạnh của quá trình cơ khí hóa về tự động hóa sản xuất cơ cấu lao động xã hội ngày càng phức tạp trình độ trí thức của con người phải càng ngày được nâng cao
- Vào thế kỉ XXI khoa học biến thành sức sản xuất trực tiếp do đó xảy ra hiện tượng sản xuất mang ý nghĩa khoa học Việc kết hợp hữu cơ thành một hệ thống tự động duy nhất tất cả các quá trình sản xuất (Máy công tác + Động cơ + Phương tiện vận tải) cũng chịu tác động của những nguyên tắc chung về điều khiển và tự điều khiển
- Những biến động chất lượng về cơ sở công nghệ của sản xuất có nghĩa là chức năng của tri thức được con người trong các khâu của quá trình sản xuất trực tiếp cả việc điều khiển và kiểm tra quá trình đó
- Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật công nghệ trên phạm vi toàn thế giới các loại hình thức công nghệ mới ra đời nắm vững nguyên tắc khoa học sản xuất và đảm bảo hoạt động của sản xuất phát triển sản xuất trên cơ sở các thành tựu khoa học kỹ thuật
- Sản xuất chuyển từ phát triển bề rộng sang phát triển về bề sâu nhờ áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật biểu hiện của nó là năng suất sản xuất đã tăng vọt
- Khoa học hiện đại phân ngành mạnh thâm nhập lẫn nhau kết hợp với kỹ thuật công nghệ thành một thể thống nhất không thể tách rời Nó mở ra phạm vi nghiên cứu thế giới những vấn đề ở thế giới vi mô tìm ra hạt vật chất cơ cấu trực thuộc tính tương tác theo quan hệ khác nhau
- Những mặt trái của việc nghiên cứu khoa học hiện đại là có thể gây ra mặt hậu quả không thể lường trước ảnh hưởng tới toàn cầu Đó là những quan niệm nhân văn không đúng đắn sẽ làm cạn kiệt tài nguyên đe dọa đời sống con người tàn phá nền đạo đức văn hóa xã hội
=> Kết luận: Nghiên cứu về nội dung định nghĩa của vật chất cũng như đặc điểm của khoa học ngày nay và ảnh
hưởng của phạm trù vật chất đến khoa học ta nhận xét rằng: Phạm trù vật chất đến khoa học rất rộng lớn phản ánh cả
về bê rộng lẫn bề sâu Bằng phương pháp nghiên cứu vật chất trong phép duy vật biện chứng và hệ thống hóa các phạm trù và quy luật của mình khoa học phản ánh các thuộc tính hiện tượng quá trình của thế giới từ vi mô đến vĩ
mô từ vô sinh đến hữu sinh từ sinh vật đến con người và xã hội con người
Trang 3CÂU 2: DỰA TRÊN QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG HÃY KHÁI QUÁT
VỀ NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT, KẾT CẤU CỦA Ý THỨC PHÂN BIỆT CÁC THÀNH TỐ: TRI THỨC, TÌNH CẢM, LÝ TRÍ, TỰ Ý THỨC, VÔ THỨC LIÊN HỆ BẢN THÂN TRONG QUÁ TRÌNH HỌC TẬP.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, ý thức được hình thành từ hai nguồn gốc
Nguồn gốc của ý thức:
Nguồn gốc tự nhiên:
- Là quá trình hình thành bộ óc con người và sự hình thành bộ óc con người
- Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao đó là bộ óc con người
- Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất tồn tại khách quan, có trước, độc lập với ý thức con người
- Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô tận, vô hạn, không sinh không mất
- Mọi tồn tại của thế giới vật chất đều có mối liên hệ với nhau
- Nhận thức thế giới con người, giải thích tính đa dạng của thế giới, con người tiếp tục nhận thức tính đa dạng của thế giới để cải tạo thế giới
- Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất khác trong tác động qua lại giữa chúng
- Phản ánh là thuộc tính của tất cả các dạng vật chất, thể hiện dưới nhiều hình thức: phản ánh, vật lý, hóa học, sinh học
- Hình thức phản ánh sinh học đặc trưng cho giới hữu sinh là tính kích thích Ở động vật bậc cao có hệ thần kinh trung ương là tâm lý, phản ánh năng động sáng tạo ở dạng cao nhất là bộ óc con người Phản ánh có tính chủ động, lựa chọn thông tin, xử lý thông tin, tạo thông tin mới Sự phản ánh năng động gọi là ý thức
- Ý thức là chức năng của bộ óc và là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc Bộ óc ngày càng hoàn thiện thì hoạt động sinh lý thần kinh càng có hiệu quả, ý thức con người càng sâu sắc
- Quan hệ giữa con người hướng tới khách quan tạo ra quá trình phản ánh năng động, sáng tạo
Nguồn gốc xã hội:
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng: Sự ra đời của ý thức là nguồn gốc xã hội, đó chính là lao động và cùng với lao động là ngôn ngữ
- Lao động là con người sử dụng công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên và làm thay đổi giới tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người
- Trong quá trình lao động đã làm cho cấu trúc có thể thay đổi tạo ra dáng đi thẳng, giải phóng hai tay và các khí quan não bộ phát triển
- Khi con người tác động vào thế giới khách quan làm cho thế giới khách quan bộc lộ thuộc tính, kết cấu, bộc lộ những quy luật vận động con người có thể quan sát được và thông qua sự hoạt động của các giác quan đã tác động tới bộ óc, làm cho bộ óc hoạt động, bộ óc tạo ra khả năng hình thành tri thức nói riêng và ý thức nói chung
=> Kết luận:
- Sự ra đời của ý thức chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan và thông qua hoạt động cải tạo lao động
- Bản chất của ý thức:
+ Là sự phản ánh hiện thực khách quan có vai trò trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo, là hình ảnh của thế giới khách quan, thể hiện quá trình hoạt động tâm lý, sinh lý của con người
+ Là hình ảnh về thế giới khách quan, hình ảnh ấy bị thế giới khách quan quy định nhưng nó không còn y nguyên như thế giới khách quan mà được cải biến thông qua lăng kính chủ quan của con người
Trang 4+ Là hiện tượng xã hội mang bản chất xã hội Sự ra đời, tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn.
- Mác khẳng định: “Ý thức chẳng qua là vật chất được di chuyển vào trong não người và được cải biến đi trong đó”
Kết cấu của ý thức:
- Ý thức có kết cấu: tri thức, tình cảm, lý trí
+ Tri thức là những hiểu biết của con người về tự nhiên, xã hội, tư duy Nó là kết quả của quá trình nhận thức
và mọi hoạt động của con người cần có tri thức và được tri thức định hướng Như vậy tri thức là phương thức tồn tại và là điều kiện để ý thức phát triển
+ Tình cảm là biểu hiện rung động, thái độ của con người trong các mối quan hệ
+ Lý trí là khả năng huy động sức mạnh tinh thần của con người vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong cuộc sống
+ Tự ý thức là ý thức của cá nhân về hành vi, tình cảm, tư tưởng, động cơ của bản thân trong xã hội
+ Vô thức là hiện tượng tâm lý nằm ngoài phạm vi của lý trí, ý thức con người không kiểm soát được
Liên hệ bản thân: (sinh viên tự bổ sung :3)
- Cần có phương pháp học cụ thể như:
- Đặt ra những mục tiêu có thời hạn ngắn để có thể thực hiện tốt
- Quản lý thời gian bằng thời khóa biểu…
CÂU 3: PHÂN TÍCH CÁC CẶP PHẠM TRÙ CÁI RIÊNG-CÁI CHUNG VÀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁI RIÊNG-CÁI CHUNG Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ NÀY
- Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường tiếp xúc với những sự vật, hiện tượng, qúa trình khác nhau như cái bàn, cái nhà, cái cây cụ thể… Mỗi sự vật đó được gọi là một cái riêng, đồng thời, chúng ta cũng thấy giữa chúng lại có những mặt giống nhau như những cái bàn đều được làm từ gỗ, đều có màu sắc, hình dạng Mặt giống nhau đó người ta gọi là cái chung của những cái bàn
=> Vậy ta có thể định nghĩa cái riêng dùng để chỉ một vật, một hiện tượng, một quá trình nhất định Còn cái chung dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những yếu tố nhưng nó lại tồn tại phổ biến ở nhiều sự vật, hiện tượng
- Trong lịch sử triết học đã có hai quan điểm trái ngược nhau về mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung
+ Phái duy thực cho rằng cái riêng chỉ tồn tại tạm thời, thoáng qua, không phải là cái tồn tại vĩnh viễn, chỉ có cái chung mới tồn tại vĩnh viễn, thật sự độc lập với ý thức của con người Cái chung không phụ thuộc vào cái riêng, mà còn sinh ra cái riêng Theo Platon, cái chung là cái tồn tại vĩnh viễn bên cạnh những cái riêng chỉ có tính chất tạm thời Ví dụ bên cạnh cái cây riêng lẻ còn có cái cây nói chung Cái cây riêng lẻ có ra đời, tồn tại tạm thời và mất đi nhưng ý niệm cái cây nói chung thì tồn tại mãi mãi Từ đó, Platon cho rằng cái cây riêng lẻ
là do ý niệm cái cây nói chung sinh ra Như vậy, theo Platon cái riêng do cái chung sinh ra
+ Phái duy danh cho rằng chỉ có cái riêng tồn tại thật sự, còn cái chung là những tên gọi trống rỗng do con người đặt ra không phản ánh cái gì trong hiện thực Quan điểm này không thừa nhận nội dung khách quan của các khái niệm Chẳng hạn họ cho khái niệm vật chất, chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm… là những từ không có ý nghĩa Như vậy ranh giới giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm bị xóa nhòa và con người không cần phải quan tâm đến cuộc đấu tranh giữa các quan điểm triết học nữa
Trang 5=> Họ đều sai lầm ở chỗ họ không thấy được cái riêng – cái chung đều tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người và chúng có mối liên hệ với nhau thể hiện qua:
+ Thứ nhất, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng biểu hiện sự tồn tại của mình Điều đó có nghĩa là cái chung thực sự tồn tại nhưng nó chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng chứ không tồn tại biệt lập, bên ngoài cái riêng Ví dụ như không có cái cây nói chung tồn tại bên cạnh cây cam, cây quýt cụ thể Nhưng đặc tính chung này lặp lại ở những cái cây riêng lẻ và được phản ánh trong khái niệm “cái cây”
+ Thứ hai, cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung, nghĩa là cái riêng tồn tại độc lập nhưng sự tồn tại độc lập đó không có nghĩa cái riêng hoàn toàn cô lập với cái khác Ngược lại, bất kỳ cái riêng nào cũng nằm trong mối liên hệ dẫn tới cái chung, thông qua hàng nghìn sự chuyển hóa, nó còn liên hệ với cái riêng thuộc loại khác
+ Thứ ba, cái riêng toàn bộ, phong phú, đa dạng hơn cái chung vì bên cạnh các thuộc tính được lặp lại các sự vật khác, tức là bên cạnh cái chung bất cứ cái riêng nào cũng còn chứa đựng những cái đơn nhất tức là những thuộc tính chỉ vốn có ở nó và không tồn tại ở bất kỳ sự vật nào khác
+ Cuối cùng, cái chung thể hiện tính phổ biến, quy luật của nhiều cái riêng
Ý nghĩa nghiên cứu:
- Cần nhận thức cái chung để vận dụng vào cái riêng
- Chống bệnh giáo điều, siêu hình, máy móc, cục bộ
- Không thể tách cái chung ra khỏi cái riêng, không được tuyệt đối hóa cái chung Nếu tuyệt đối hóa cái chung sẽ mắc phải quan điểm sai lầm tả khuynh, giáo điều Muốn tìm ra cái chung phải nghiên cứu từng cái riêng, thông qua cái riêng Phê phán quan điểm sai lầm của phái duy thực
- Không được tách rời cái riêng ra khỏi cái chung, không được tuyệt đối hóa cái riêng sẽ mắc phải quan điểm sai lầm hữu khuynh Phê phán quan điểm sai lầm của phái duy danh
=> Phải phát triển cái mới tiêu biểu cho sự phát triển và tạo điều kiện cho nó phát triển trở thành cái chung Ngược lại, hạn chế và xóa bỏ những cái cũ lỗi thời, lạc hậu
CÂU 4: PHÂN TÍCH NỘI DUNG TỪ NHỮNG SỰ THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG THÀNH NHỮNG SỰ THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ NÀY.
- Trong đời sống hằng ngày, đằng sau các hiện tượng muôn hình muôn vẻ, con người dần dần nhận thức được tính trật
tự và mối liên hệ có tính lặp lại của các hiện tượng, từ đó hình thành nên khái niệm “quy luật” Với tư cách là phạm trù của lý luận nhận thức, khái niệm “quy luật” là mối liên hệ khách quan bản chất tất nhiên, lặp đi lặp lại giữa các yếu tố, thuộc tính trong mỗi sự vật hiện tượng với nhau Thế giới tồn tại nhiều quy luật: quy luật riêng, quy luật chung và quy luật phổ biến Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại là quy luật phổ biến, chỉ rõ phương thức vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Nhận thức được quy luật này có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động thực tiễn khi chúng ta xem xét các sự vật, hiện tượng Nếu nhận thức không đúng quy luật này sẽ dẫn đến tư tưởng tả khuynh, hữu khuynh Tả khuynh là phủ nhận sự tích lũy về lượng, muốn có ngay sự thay đổi về chất, còn hữu khuynh là khi chất đã biến đổi vượt quá giới hạn độ nhưng không dám thực hiện sự thay đổi căn bản về chất
+ Chất là dùng để chỉ những thuộc tính, quy luật khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó để phân biệt nó với cái khác, chỉ những thuộc tính cơ mới tạo thành chất + Lượng chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng Nói đến lượng của sự vật tức là sự vật đó lớn hay bé, tốc độ phát triển nhanh hay chậm, trình độ cao hay thấp… đo bằng các đại lượng cụ thể, bằng số tuyệt đối như trong lượng, thể tích hoặc so sánh với vật thể khác, thời kỳ này với thời kỳ khác Ví dụ tốc độ của ánh sáng là 300.000 km/giây, một cái bàn có chiều cao 80 phân, một nước có 50 triệu dân
Trang 6Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng:
- Sự vật, hiện tượng nào cũng là thống nhất hai mặt chất và lượng, tác động qua lại
- Sự thay đổi về lượng dẫn đến sự chuyển hóa về chất, nhưng sự thay đổi về lượng chưa dẫn đến sự thay đổi về chất giới hạn đó gọi là độ
- Khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định dẫn đến sự thay đổi về chất giới hạn đó gọi là điểm nút Khi đạt tới điểm nút thì sự ra đời của chất mới đó chính là bước nhảy vọt của quá trình vận động, phát triển của sự vật
- Quy luật chuyển hóa giữa chất và lượng là một quy luật hoàn toàn xác định, mối quan hệ này hình thành một cách khách quan chứ không thể gán ghép một cách tùy tiện đồng thời sự chuyển hóa lượng và chất bao giờ cũng phụ thuộc vào những điều kiện nhất định - - Quy luật lượng và chất được vận dụng trong xã hội thể hiện ở mối quan hệ giữa tiến hóa và cách mạng Trong sự phát triển của xã hội, sự thay đổi dần về lượng gọi là tiến hóa, còn sự thay đổi về chất theo hướng tiến hóa lên gọi là cách mạng, tiến hóa chuẩn bị cho cách mạng Trong giai đoạn tiến hóa, chế độ xã hội chưa có sự thay đổi căn bản về chất, còn cách mạng là kết quả của quá trình tiến hóa, chấm dứt một quá trình này mở
ra một quá trình tiến hóa mới cao hơn, chế độ xã hội cũ bị xóa bỏ, chế độ xã hội mới ra đời thay thế
Ý nghĩa nghiên cứu vấn đề này:
- Trong hoạt động thực tiễn phải coi trọng cả hai chỉ tiêu chất và lượng
- Khắc phục sự nôn nóng, tả khuynh như khi lượng chưa biến đổi đến điểm nút đã thực hiện bước nhảy, khắc phục tính hữu khuynh là chống lại quan điểm bảo thủ, trì trệ khi lượng đã biến đổi đến điểm nút nhưng không thực hiện bước nhảy
- Vận dụng linh hoạt các bước nhảy, nhận thức được từng hình thức bước nhảy, có thái độ ủng hộ bước nhảy, tạo mọi điều kiện cho bước nhảy được thực hiện một cách kịp thời
- Nhận thức được sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất sẽ rút ra được ý nghĩa phương pháp luận quan trọng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
CÂU 5: HÀNG HÓA LÀ GÌ? PHÂN TÍCH HAI THUỘC TÍNH CỦA HÀNG HÓA PHÂN BIỆT HÀNG HÓA THÔNG THƯỜNG VÀ HÀNG HÓA SỨC LAO DỘNG.
Khái niệm:
- Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người được sản xuất ra để trao đổi, mua bán
Phân tích hai thuộc tính của hàng hóa:
- Hàng hóa có thể ở dạng hữu hình như cây bút, cục tẩy… hay dạng vô hình như dịch vụ, thương mại của giáo viên, nghệ sĩ, bác sĩ…
=> Vậy cho nên hàng hóa có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị
a) Giá trị sử dụng của hàng hóa:
- Là công dụng của nó có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người một cách trực tiếp hay gián tiếp
- Một hàng hóa có nhiều giá trị sử dụng và số lượng này được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển của khoa học kĩ thuật
- Giá trị sử dụng của vật phẩm do thuộc tính của tự nhiên quy định, vì vậy nó là phạm trù vĩnh viễn
- Trong kinh tế trao đổi hàng hóa thì giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi
Trang 7b) Giá trị của hàng hóa:
- Muốn hiểu được giá trị của hàng hóa phải đi từ giá trị trao đổi Giá trị trao đổi là những tỉ lệ theo đó một hàng hóa này đổi thành một hàng hóa khác
Ví dụ: 1 m vải bằng 5 kg thóc
=> Vải và thóc là hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau nhưng lại trao đổi được cho nhau vì các hàng hóa này đều là sản phẩm của quá trình lao động, tức là sức lao động của con người đã kết tinh vào sản phẩm Sỡ dĩ
nó trao đổi theo một tỉ lệ ngang bằng vì hao phí lao động để làm ra 1 m vải đã ngang bằng với hao phí lao động làm ra 5 kg thóc
=> Vậy lao động hao phí là cơ sở chung của trao đổi gọi là giá trị của hàng hóa
- Giá trị hàng hóa là hao phí lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa
- Giá trị hàng hóa chỉ được biểu hiện thông qua bên ngoài thông qua trao đổi mua bán, vì vậy giá trị hàng hóa là một phạm trù lịch sử chỉ tồn tại trong nền kinh tế hàng hóa
PHÂN BIỆT HÀNG HÓA THÔNG THƯỜNG VÀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG:
Khái niệm
- Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người được sản xuất ra để trao đổi, mua bán
- Sức lao động là toàn bộ năng lực bao gồm thể lực, trí lực tồn tại trong cơ thể sống của con người, là khả năng lao động của con người Trong xã hội, sức lao động là yếu tố rất cơ bản của quá trình sản xuất
- Sức lao động chỉ trở thành hàng hóa khi có hai điều kiện sau:
+ Người có sức lao động phải được tự do về thân thể và tự do bán sức lao động của mình nhưng chỉ bán sức lao động trong một thời gian nhất định
+ Người lao động không có tư liệu sản xuất để tự mình tiến hành sản xuất để có thu nhập tồn tại buộc họ phải bán sức lao động của mình
Phân biệt
- Giống nhau: Cả hai đều là hàng hóa và đều có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng
- Khác nhau:
+ Hàng hóa sức lao động khi đưa vào sử dụng thì giá trị sử dụng không bị biến đi như hàng hóa thông thường
mà còn tăng thêm Trong một thời gian sử dụng, các hàng hóa thông thường đều bị mất dần giá trị sử dụng của
nó cho đến hết Ngược lại, đối với hàng hóa sức lao động, trong quá trình lao động sản xuất, sức lao động chuyển hóa toàn bộ những lao động quá khứ của tư liệu sản xuất và lao động mới của nó sang sản phẩm mới,
vì thế nó tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của nó Đây chính là giá trị sử dụng đặc biệt của hàng hóa sức lao động, nguồn gốc của sự tăng giá trị trong sản xuất, nguồn gốc của giá trị thặng dư
+ Hàng hóa sức lao động có thể mua bán chịu, mua dứt bán dứt Người lao động có thể ứng trước một khoản tiền trong số tiền lương của anh ta trước khi nhận được lương để đáp ứng một nhu cầu sinh hoạt của bản thân
và gia đình anh ta
+ Hàng hóa sức lao động bao gồm yếu tố tinh thần và lịch sử Điều đó có nghĩa là số lượng và cơ cấu nhu cầu của người công nhân phụ thuộc vào quá trình phát triển lịch sử của một nước nhất định, vào những điều kiện trong đó giai cấp công nhân hình thành, vào trình độ văn hóa của họ Do đó ở những nước khác nhau, nhu cầu của giai cấp công nhân cũng khác nhau.Ngay cả ở trong cùng một nước nhưng ở các thời đại khác nhau, nhu cầu của giai cấp công nhân cũng khác nhau Hơn nữa bản thân các nhu cầu của người lao động vể thức ăn, quần áo, nhà ở, điện nước… cũng khác nhau tùy theo điều kiện khí hậu và tự nhiên ở các nước
Trang 8+ Hàng hóa sức lao động không thể tách rời người chủ lao động Khác với hàng hóa thông thường sau khi được sản xuất ra sẽ được mang ra thị trường bán, sức lao động không thể tách rời người chủ lao động bởi toàn
bộ thể lực và trí lực là những thứ phi vật chất bên trong người lao động
- Người mua có quyền sử dụng, không có quyền sở
hữu, người bán phải phục tùng người mua
- Người mua và ngươi bán hoàn toàn độc lập với nhau
- Giá cả nhỏ hơn giá trị - Giá cả có thể tương đương với giá trị
- Giá trị bao gồm cả yếu tố tinh thần, vật chất và
lịch sử
- Chỉ thuần túy là yếu tố vật chất
- Giá trị sử dụng đặc biệt: tạo ra giá trị mới lớn hơn
giá trị của bản thân nó, đó chính là giá trị thặng dư
- Giá trị sử dụng thông thường
- Là nguồn gốc của giá trị thặng dư - Biểu hiện của của cải
CÂU 6: PHÂN TÍCH SỰ HOẠT ĐỘNG CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ TRONG NỀN KINH TẾ HÀNG HÓA VÀ Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU QUY LUẬT NÀY.
- Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và lưu thông hàng hóa
Nội dung: Thông qua lỗ và lãi thì nó tác động đến chủ thể sản xuất kinh doanh, buộc chủ thể là phải điều
chỉnh phương thức kinh doanh sao cho có hiệu quả nhất
Yêu cầu:
- Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở của nó, tức là dựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết Cụ thể trong sản xuất, quy luật giá trị yêu cầu hao phí lao động cá biệt phải nhỏ hơn hoặc bằng hao phí lao động xã hội
- Trong lưu thông, quy luật giá trị yêu cầu phải trao đổi theo nguyên tắc ngang giá Nguyên tắc ngang giá là giá mua bán thực tế trên thị trường là giá có thể được hàng, giá được người mua hàng chấp nhận
- Giá cả trên thị trường lên xuống xoay quanh giá trị và trở thành cơ chế hoạt động của quy luật giá trị
- Cơ chế này phát sinh tác dụng trên thị trường thông qua cạnh tranh và quan hệ cung cầu
Tác dụng:
Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa
• Trên thị trường, mặt hàng nào có giá trị cao, người sản xuất sẽ thu được nhiều lời và sẽ mở rộng quy mô sản xuất, ngược lại mặt hàng nào có giá trị thấp sẽ thu được ít lời hoặc thua lỗ và
sẽ thu hẹp quy mô sản xuất
• Theo tác động của quy luật giá trị thông qua giá cả thị trường mà quy mô sản xuất mặt hàng này được mở rộng ra còn mặt hàng kia bị thu hẹp lại
• Đưa hàng hóa từ nơi giá thấp đến nơi giá cao để bán, đưa hàng hóa từ nơi cung lớn hơn cầu đến nơi cung thấp hơn cầu
• Đó chính là tác động điều tiết của quy luật giá trị
Trang 9 Kích thích cải tiến kĩ thuật, hợp lý sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển
• Các hàng hóa được sản xuất ra theo các giá trị cá biệt nhưng khi bán trên thị trường lại bán theo giá trị xã hội Nhà sản xuất nào có giá trị cá biệt nhỏ hơn giá trị xã hội sẽ thu được nhiều lời, có điều kiện phát triển, làm giàu, ngược lại sẽ thua lỗ, phá sản
• Muốn giảm giá trị cá biệt, người ta phải cải tiến kỹ thuật, công nghệ, áp dụng kỹ thuật mới, hợp lý hóa, tăng năng suất lao động
• Từ đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển trên toàn xã hội
Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hóa người sản xuất hàng hóa thành người giàu, người nghèo
• Trong kinh tế thị trường, nhà sản xuất nào có giá trị cá biệt nhỏ hơn giá trị xã hội sẽ phát triển làm giàu, trở thành ông chủ Ngược lại sẽ thua lỗ, phá sản, trở thành người làm thuê
• Mặt khác trong kinh tế thị trường, ít người có yếu tố, thời cơ, nguy cơ may rủi cũng dẫn đến
sự phân hóa giàu nghèo
Ý nghĩa nghiên cứu:
- Trong thời kỳ quá độ của Việt Nam thì còn sản xuất hàng hóa Vì vậy ta phải hết sức coi trọng quy luật giá trị, chú ý hao phí lao động xã hội thấp, đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh
- Quy luật giá trị có tác dụng kích thích người sản xuất áp dụng khoa học-kĩ thuật vào sản xuất để tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm dẫn đến nước ta cần phải đẩy mạnh sản xuất hàng hóa để phát huy mặt tích cực của quy luật giá trị
CÂU 7: PHÂN TÍCH HẠI PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ NÊU RÕ KHÁI NIỆM, NHẬN XÉT VÀ VÍ DỤ PHÂN BIỆT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TUYỆT ĐỐI, GIÁ TRỊ THẶNG
DƯ TƯƠNG ĐỐI VÀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ SIÊU NGẠCH.
- Kể từ khi học thuyết giá trị thặng dư của Các Mác ra đời đến nay, thế giới đã trải qua những biến đổi sâu sắc Rất nhiều sự kiện đã khẳng định tính đúng đắn của những kết luận rút ra từ học thuyết giá trị thặng dư như: những cuộc
“khủng hoảng giẫy chết” của chủ nghĩa tư bản thế giới đầu thế kỉ XX; sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa hiện thực; phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản chủ nghĩa; sự tan rã của hệ thống dân tộc thuộc địa… Phải nói rằng học thuyết giá trị thặng dư là “hòn đá tảng” trong toàn bộ lý luận kinh tế của Các Mác, nhờ có nó mà toàn bộ bí mật của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa được vạch trần, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được nêu ra một cách chính xác, mà trong đó hai phương pháp sản xuất chính là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối được áp dụng rộng rãi nhất, nhằm tạo ra tư bản để tích lũy và tái mở rộng sản xuất, đưa xã hội tư bản ngày càng phát triển Do vậy, phương pháp sản xuất giá trị thặng dư cùng với tính thực tiễn của nó
có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đồng thời cũng đã vạch trần bản chất bóc lột của tư bản thông qua bóc lột giá trị thặng
dư
Khái niệm
- Giá trị thặng dư tuyệt đối được sản xuất bằng cách kéo dài thời gian lao động để tăng thời gian lao động thặng dư trong điều kiện thời gian lao động cần thiết không đổi Bằng cách đó, thời gian lao động thặng dư được kéo dài ra, nhà
tư bản có được nhiều giá trị thặng dư hơn Nhưng độ dài lao động vấp phải vấn đề sức khỏe vì vậy nhà tư bản tiếp tục tìm phương pháp khác
Ví dụ: Nhà tư bản bán ngày lao động 8 giờ trong đó thời gian lao động tất yếu (thời gian lao động cẩn thiết) là
4 giờ, như vậy thời gian lao động thặng dư là 4 giờ Nếu 1 giờ công nhân tạo ra giá trị mới là 10 đồng, giá trị thặng dư tuyệt đối bằng 40 đồng Nếu nhà tư bản kéo dài thời gian lao động thêm 2 giờ nữa thì giá trị thặng dư tuyệt đối tăng lên 60 đồng/giờ
Trang 10Ví dụ: Ngày lao động cố định giả định là 10 giờ, trong đó 5 giờ là thời gian lao động tất yếu Thời gian lao động thặng dư là 5 giờ Nhà tư bản tìm cách giảm giá trị sức lao động từ 5 giờ xuống còn 4 giờ, do đó thời gian lao động thặng dư tăng lên từ 5 giờ lên 6 giờ, m tăng từ 100% lên 150%
Khái niệm
- Giá trị thặng dư tương đối được thực hiện bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết để tăng thời gian lao động thặng dư, trong điều kiện thời gian ngày lao động được giữ cố định Muốn rút ngắn thời gian lao động cần thiết phải thực hiện tăng năng suất lao động mà trước hết là ở khu vực sản xuất tư liệu tiêu dùng, kế đến đó là khu vực sản xuất
tư liệu sản xuất Muốn tăng năng suất phải cải tiến kĩ thuật, nâng cao công nghệ, đào tạo công nhân lành nghề Điều này trước tiên có thể diễn ra ở một số xí nghiệp, còn số đông các xí nghiệp khác chưa có điều kiện từ đó hình thành giá trị thặng dư siêu ngạch
Khái niệm
- Giá trị thặng dư siêu ngạch là giá trị thặng dư thu được ở mức cao hơn mức trung bình của xã hội Nó có được là nhờ vào việc cải tiến, phát minh ra kỹ thuật, công nghệ mới, phát minh quản lý mới làm cho năng suất lao động cá biệt cao vượt trội so với năng suất lao động xã hội
- Nếu xét trên phạm vi từng doanh nghiệp, từng nhà sản xuất thì giá trị thặng dư siêu ngạch xuất hiện rồi mất đi, nhưng xét trên phạm vi xã hội thì thường xuyên xuất hiện
Phân biệt
- Giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực mạnh nhất để thúc đẩy các nhà tư bản và toàn bộ các nhà tư bản thúc đẩy cải tiến kĩ thuật
- Giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biểu tượng của giá trị thặng dư tương đối vì cả hai đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động nhưng giá trị thặng dư siêu ngạch dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội
- So sánh hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối:
Giống nhau:
- Cả hai phương pháp đều tìm cách kéo dài thời gian lao động thặng dư
Khác nhau: Về phương pháp thực hiện:
- Giá trị thặng dư tuyệt đối tăng cường độ lao động
- Giá trị thặng dư tương đối tăng năng suất lao động
Nhận xét
- Việc nghiên cứu 2 phương pháp nói trên, khi gạt bỏ mục đích và tính chất của chủ nghĩa tư bản thì các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, nhất là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch có thể vận dụng trong các doanh nghiệp ở nước ta nhằm kích thích sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, sử dụng kỹ thuật mới, cải tiến tổ chức quản lý, tiết kiệm chi phí sản xuất
- Đối với quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân của nước ta, việc nghiên cứu sản xuất giá trị thặng dư gợi mở cho các nhà hoạch định chính sách phương thức làm tăng của cải, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trong điều kiện điểm xuất phát của nước ta còn thấp, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cần tận dụng triệt để các nguồn lực, nhất là lao động và sản xuất kinh doanh Về cơ bản lâu dài, cần phải coi trọng việc tăng năng suất lao động xã hội, coi đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là là giải pháp cơ bản để tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
- Nếu gạt bỏ mục đích và tính chất tư bản chủ nghĩa thì các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, nhất là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và siêu ngạch có tác dụng mạnh mẽ, kích thích các cá nhân và tập thể người