1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Kiến thức lâm nghiệp xã hội

146 608 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiến thức lâm nghiệp xã hội
Tác giả PTS. Trần Đình Đàn, PGS. PTS. Ngô Quang Đê, KS. Phạm Xuân Hoàn, PGS. PTS. Phùng Ngọc Lan, KS. Nguyễn Xuân Liệu, PTS. Hoàng Thanh Lộc, PGS. PTS. Nguyễn Xuân Quát, KS. Đào Xuân Trường
Trường học Nhà Xuất Bản Nông Nghiệp
Thể loại Tài liệu
Năm xuất bản 1995
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiến thức Lâm Nghiệp Xã Hội. Thực hiện đường lối đổi mới, nghề rừng nước ta đã chuyển từ Lâm nghiệp Nhà nước quản lý theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang Lâm nghiệp xã hội, sản xuất hàng hoá dựa trên cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, lấy hộ nông dân làm đơn vị kinh tế tự chủ, lực lượng quốc doanh giữ vai trò chủ đạo hỗ trợ dân làm nghề rừng.

Trang 2

Tham gia biªn so¹n:

PGS PTS NguyÔn Xu©n Qu¸t

KS §µo Xu©n Tr−êng

Trang 3

mục lục

Lời Giới Thiệu 6

MộT Số MÔ HìNH SảN XUấT LÂM NGHiệP 7

PGS PTS Phùng Ngọc Lan, PGS PTS Ngô Quang Đê, KS Phạm Xuân Hoàn, PGS PTS Nguyễn Xuân Quát I Mô hình lâm nghiệp xã hội 7

II Mô hình khoanh nuôi phục hồi rừng 21

III Mô hình thâm canh rừng trồng 23

THU HáI, CHế BIếN Và BảO QUảN HạT GIốNG 29

KS Nguyễn Xuân Liệu 1 Nhận biết quả, hạt chín và thời vụ thu hái 29

2 Thu hái 34

3 Vận chuyển qủa đến nơi chế biến 36

4 Chế biến hạt giống 36

Kỹ thuật ươm cây 46

PGS PTS Ngô Quang Đê 1 Vườn ươm 46

2 Kích thích hạt nảy mầm (Xử lý hạt) 48

3 Gieo hạt 49

4 Cấy cây mầm vào bầu 51

5 Đóng bầu 51

6 Quản lý và chăm sóc cây con 52

Trang 4

NHÂN GIốNG SINH DưỡNG 59

PTS Hoàng Thanh Lộc I Ghép cây 59

II Giâm hom 67

III Chiết Cành 71

TRồNG RừNG THÂM CANH 75

PGS PTS Nguyễn Xuân Quát 1 Khái niệm chung 75

2 Tại sao phải thâm canh rừng trồng 76

3 Các mục tiêu và điều kiện để trồng rừng thâm canh 78

4 Nội dung và biện pháp thâm canh rừng trồng 79

5 Hệ thống các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh 84

6 Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật ứng dụng trong trồng rừng thâm canh ở Việt Nam 87

pHòNG TRừ MộT Số SÂU BệNH HạI CHíNH ở VườN ươM Và RừNG TRồNG 94

KS Đào Xuân Trường Nguyên tắc chung 94

I Sâu hại ở vườn ươm 94

II Sâu hại rừng trồng 101

III Phòng trừ bệnh hại 106

IV An toàn khi sử dụng thuốc trừ sâu 111

KHOANH NUÔI PHụC HồI RừNG 114

PGS PTS Ngô quang Đê, KS Phạm Xuân Hoàn Thế nào là khoanh nuôi? 114

Nhũng nơi nào có thể khoanh nuôi phục hồi rừng? 115

Tiến hành khoanh nuôi như thế nào? 116

Trang 5

RõNG PHßNG Hé 117

PTS TrÇn §×nh §µn Rõng phßng hé ®Çu nguån 117

Rõng phßng hé ch¾n giã, chèng c¸t bay 119

Rõng phßng hé ch¾n sãng lÊn biÓn 121

Rõng phßng hé b¶o vÖ m«i truêng sinh th¸i 124

Kü thuËt trång mét sè loµi c©y phßng hé 124

PHô LôC 127

Phô lôc 1: Quy Ph¹m Kü ThuËt Trång Rõng P¬mu vµ lµm Giµu Rõng B»ng P¬mu 127

Phô lôc 2: Quy Tr×nh T¹m Thêi Khai Th¸c TËn Dông C©y P¬mu 134

Phô lôc 3: Quy ph¹m kü thuËt trång, nu«i d−ìng vµ b¶o vÖ rõng §−íc 138

Phô lôc 4: Quy Tr×nh Kü ThuËt TrÝch Nhùa Th«ng 3 L¸ 143

Trang 6

Lời Giới Thiệu

Thực hiện đường lối đổi mới, nghề rừng nước ta đã chuyển từ Lâm nghiệp Nhà nước quản lýtheo cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang Lâm nghiệp xã hội, sản xuất hàng hoá dựatrên cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, lấy hộ nông dân làm đơn vị kinh tế tự chủ, lực lượngquốc doanh giữ vai trò chủ đạo hỗ trợ dân làm nghề rừng

Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách thích hợp về sử dụng đất trống đồi núi trọc, khuyếnkhích đầu tư phát triển rừng, phát triền kinh tế xã hội miền núi, giao đất Lâm nghiệp cho các

tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích Lâm nghiệp

Vì vậy, trong những năm gần đây Lâm nghiệp xã hội ở nước ta đã phát triển mạnh mẽ, thực

sự góp phần tích cực thực hiện xoá đói giảm nghèo, đời sống vật chất và tinh thần của bộ phậnkhá đông dân cư nông thôn miền núi đã được cải thiện Ngày càng có nhiều tổ chức, cá nhân

và hộ gia đình nhận đất nhận rừng đề bảo vệ và kinh doanh rừng

Để có thêm tài liệu phổ cập lâm nghiệp, năm 1994 sách "Kiến thức Lâm nghiệp xã hội'' tập I

đã được xuất bản Năm 1995, Vụ Khoa học công nghệ và Nhà xuất bản Nông nghiệp tổ chứcbiên soạn và xuất bản tiếp sách "Kiến thức Lâm nghiệp xã hội" tập II

Mục đích xuất bản sách nhằm phục vụ đông đảo nhân dân làm nghề rừng và cán bộ khuyếnlâm, hướng dẫn những vấn đề về kỹ thuật và quản lý sản xuất kinh doanh rừng, góp phần đẩymạnh phong trào trồng cây gây rừng, bảo vệ rừng, sử dụng tài nguyên rừng hợp lý và nângcao thu nhập cho người làm nghề rừng

Vụ Khoa học công nghệ xin cảm ơn các cán bộ khoa học đã có nhiều đóng góp trong việcbiên soạn và xuất bản cuốn sách này

Trong quá trình biên soạn không tránh khỏi những thiếu sót, mong nhận được nhiều ý kiến

đóng góp quý báu của đông đảo bạn đọc để sách xuất bản trong những năm sau có nội dung

và chất lượng cao hơn

Vụ KHOA HọC CôNG NGHệ

Trang 7

MộT Số MÔ HìNH SảN XUấT LÂM NGHiệP

PGS PTS Phùng Ngọc Lan PGS PTS Ngô Quang Đê

KS Phạm Xuân Hoàn PGS PTS Nguyễn Xuân Quát

I Mô hình lâm nghiệp xã hội

1 Thôn Bồ Các (Lạng Sơn)

Thôn Bồ Các, xã Minh Sơn, huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn đang trở thành một trong những

điển hình phát triển lâm nghiệp xã hội Thôn Bồ Các được hình thành từ năm 1913 Lúc đầuchỉ có một số hộ gia đình dân tộc Nùng thuộc dòng họ Từ và họ Lạc từ Lạng Sơn di cư đến

đây làm ăn Thuở ấy, xung quanh thôn Bồ Các là những cánh rừng già rộng mênh mông vớinhiều loài cây gỗ quí Mỗi dòng họ chiếm giữ một bên khe suối khai phá rừng rậm, đốtnương làm rẫy Năm 1963, có thêm một số hộ gia đình từ Tam Lung, Lạng Sơn di cư đến đâysinh sống Đến nay, thôn Bồ Các có gần 40 hộ gia đình với hơn 200 người Do tập quán phárừng làm rẫy, dân số ngày càng tăng nên rừng già không còn nữa, chỉ còn lại một ít rừng phụchồi với những loài cây tạp ít có giá trị kinh tế, đất trống đồi trọc ngày càng tăng, đất đai ngàycàng bị thoái hoá Cơ cấu cây trồng còn thuần nông và quảng canh Trước năm 1990, rừng

và đất rừng của thôn Bồ Các do lâm trường Hữu Lũng Lạng Sơn quản lý Quản lý của lâmtrường vẫn còn nặng về hình thức Rừng và đất rừng vẫn chưa có chủ thực sự Hiện tượngphá rừng làm rẫy, đất trống đồi trọc không có người sử dụng, đất đai thoái hoá vẫn tiếp diễn.Thực hiện chính sách giao đất giao rừng của Nhà nước, từ năm 1990, lâm trường đã tiến hànhgiao đất giao rừng cho các hộ gia đình trong thôn Từ đó, rừng và đất rừng đã có chủ thực sự,nhân dân không còn phá rừng như trước đây

Các hộ gia đình trong thôn đã nhận bảo vệ khoanh nuôi 33,3 ha rừng phục hồi Có 19 hộ gia

đình đã khoanh nuôi các khu rừng gần gia đình, hình thành vườn rừng cho từng hộ, diện tíchbình quân mỗi vườn rừng là 1,75 hecta Nhờ có các vườn rừng, các gia đình có nơi thu nhặtcủi khô để giải quyết nhu cầu chất đốt và một số nhu cầu về gỗ gia dụng, gỗ làm chuồng trại

Do vậy, hiện tượng phá rừng không còn nữa

Ngày nay, người dân thôn Bồ Các không chỉ bảo vệ được rừng hiện có mà còn trồng thêm

được rừng mới Chỉ sau 3 năm giao đất (1990 - 1992), nhân dân thôn Bồ Các đã trồng được

71 hecta rừng cung cấp gỗ trụ mỏ Rừng bạch đàn đã được trồng hỗn giao với keo để cải tạo

đất đai và bảo vệ môi trường Tỷ lệ sống đạt cao, 95% tổng số cây trồng, 100% hộ gia đìnhtrong thôn tham gia trồng rừng Bình quân mỗi hộ gia đình trong 3 năm trồng thêm được gần

2 hecta rừng

ỏ thôn Bồ Các hiện nay, có ba gia đình đang xây dựng mô hình lâm nghiệp trang trại Đó làbác Giàu, anh Cương, anh Can Qui mô mỗi trang trại từ 3 đến 4 hecta, nội dung hoạt độngchủ yếu của trang trại là sản xuất nông lâm nghiệp, có kết hợp chăn nuôi và chế biến nông sản(xay sát lúa)

Cơ cấu cây trồng bố trí như sau:

- Trên đỉnh đồi trồng rừng bạch đàn hỗn giao với keo, kết hợp trồng cây rừng để phân định

Trang 8

- ở sườn đồi trồng các loài cây ăn quả: na, mơ, dứa, mận, cam, quít, v.v Các loài cây ăn quảcòn được kết hợp trồng xung quanh nhà và trang trại.

- ở chân đồi, trồng cây công nghiệp (mía), canh tác nông lâm kết hợp như ngô, sắn, khoailang, khoai từ, đậu, lạc

Nhân dân đã trồng rừng nông lâm kết hợp theo các mô hình sau đây:

Trang 9

Sản phẩm nông lâm kết hợp đã được các hộ gia đình bán ra thị trường, thu nhập về hoa màuchiếm từ 35% đến 45% thu nhập gia đình, trung bình thu nhập gần một triệu đồng/năm, cógia đình thu nhập hoa màu trên 3.000.000 đ/năm không kể phần gia đình sử dụng.

Các hộ gia đình đã mạnh dạn gây trồng các giống mới như lúa bào thai, ngô lai, đậu xanh vỏtrắng v v khi canh tác, nhân dân san băng để chống xói mòn, giữ nước bảo vệ đất đai.Các hộ gia đình đều phát triển chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà vv vừa để sử dụng trong gia đình,bán ra thị trường và có nguồn phân chuồng bón cho cây trồng Hiện nay, một số hộ đã bắt

đầu nuôi ong để tận dụng nguồn hoa phong phú của núi rừng Kinh nghiệm ở nhiều địaphương cho thấy: phát triển nuôi ong sẽ tạo ra nguồn thu nhập đáng kể, có gia đình có hàngtrăm bọng ong mật, thu nhập hàng năm vài chục triệu đồng

Để chủ động cung cấp cây con trồng rừng, trong thôn Bồ Các còn có hai gia đình anh Cương

và anh Sơn xây dựng vườn ươm, hàng năm cung cấp cho nhân dân trong thôn từ 10.000 cây

đến 15.000 cây Lâm trường Hữu Lũng đã cử cán bộ đến hướng dẫn kỹ thuật

Có được những thành công trên đây, phải nhắc đến chủ trương đúng đắn của lâm trường HữuLũng Lâm trường không chỉ mạnh dạn giao đất giao rừng cho dân mà còn có cơ chế cho vayvốn hỗ trợ và hướng dẫn kỹ thuật, nguồn vốn phát triển lâm nghiệp của thôn Bồ Các chủ yếudựa vào vốn vay của Lâm trường Hữu Lũng Lâm trường ký kết hợp đồng trồng rừng với các

hộ gia đình, cho vay vốn ở hai mức khác nhau 300.000 đ/ha (1990) và 500.000 đ/ha (1991),

và tiêu thụ một phần sản phẩm cho nhân dân

Vốn cho dân vay là chi phí khảo sát thiết kế, cung cấp hạt giống cây con, chỉ đạo kỹ thuật vàmột phần tiền công lao động Vốn vay được ứng trước theo tiến độ thi công và lâm trường sẽcho vay đủ hạn mức sau khi nghiệm thu rừng trồng đạt tiêu chuẩn kỹ thuật Lâm trường thuhồi vốn vay bằng cách thu hồi sản phẩm khai thác rừng cuối cùng theo tỷ lệ phần trăm Vớimức vay 300.000 đ/ha năm 1990, các gia đình trả vốn vay cho lâm trường bằng 37% sảnlượng khai thác (tương ứng 37 m3 gỗ) Do giá cả thay đổi với mức vay 500.000 đ/ha năm

1991, các gia đình trả vốn vay cho lâm trường bằng 33,3% sản phẩm khai thác (tương ứng33,3 m3) Lâm trường phải trả thuế đất, thuế tài nguyên, bảo hiểm sản xuất và các chi phíkhác cho địa phương

Hai gia đình xây dựng vườn ươm cũng ký kết hợp đồng thoả thuận với lâm trường Hai gia

đình nhận thầu với lâm trường cung cấp cây con cho các hộ gia đình trong thôn Vốn đầu tưchi phí cho vườn ươm được trích từ vốn vay của lâm trường cho các hộ gia đình Giá cây con

sẽ được bán theo giá thoả thuận

Cơ chế vốn vay của lâm trường Hữu Lũng đã huy động được 100% số hộ gia đình của thôn

Bồ Các tham gia trồng rừng Cơ chế này giải quyết được khó khăn về vốn và kỹ thuật của cácgia đình hiện nay, đồng thời lại tạo cho người dân yên tâm về tiêu thụ sản phẩm khai thác saunày

Ngày nay, cứ đến thôn Bồ Các cũng thấy nhộn nhịp cảnh làm ăn Màu xanh của núi rừng

đang trở lại với Bồ Các, gần 80% số hộ gia đình đã có điện, 10 gia đình đã có ti vi, 10 gia

đình có xe máy, hầu hết các gia đình đều có máy thu thanh và xe đạp Trong thôn có hai máyxát gạo Hai dòng họ Từ và họ Lạc vẫn giữ được tình đoàn kết dân tộc, già làng vẫn có uy tín,bảo ban con cháu làm ăn, các con cái vẫn giữ phong tục hàng năm tổ chức sinh nhật cho bố

mẹ Trong thôn không có ai nghiện hút, cờ bạc, trật tự an ninh tốt

Những thành công của thôn Bồ Các chứng minh mối quan hệ chặt chẽ giữa lâm nghiệp Nhànước và lâm nghiệp xã hội Người dân ở đây đã gọi kỹ sư Nguyễn Văn Định, phân trườngtrưởng với cái tên trìu mến "Giám đốc nông dân'', ''Giám đốc của quê mình"

Trang 10

2 Bản Hìn (Sơn La)

Bản Hìn thuộc xã Chiềng An, thị xã Sơn La là một bản điển hình toàn diện của tỉnh Sơn La.Bản Hìn hình thành từ năm 1933, lúc đầu chỉ có 5 hộ gia đình họ Tòng chuyển đến đây khaiphá vùng thấp ven con suối Nà Hìn để làm ruộng nước, Lúc này, xung quanh bản Hìn là rừngrậm với nhiều loài gỗ quí, nhiều chim thú rừng, cây thuốc v.v Đất lành chim đậu, càngngày càng có nhiều gia đình đến bản Hìn sinh sống Tỷ lệ sinh đẻ cao 2,7% Đến nay, bảnHìn có gần 160 hộ với gần 1.000 dân thuộc 9 dòng họ sinh sống Trong nhiều năm trước đây,người dân bản Hìn phải phá rừng, đốt nương làm rẫy (đến nay, rừng già và các động vật rừngkhông còn nữa) Dân số ngày càng tăng, diện tích đất đai có hạn nên bình quân diện tíchcanh tác tính theo đầu người ngày càng thấp Cuộc sống người dân vất vả quanh năm mà vẫnkhông đủ ăn, có gia đình thiếu ăn từ 3 đến 6 tháng Phong tục mê tín dị đoan còn nặng nề.Khi ốm đau thì mời thầy cúng Con em trong bản ít được đến trường học

Trong những năm gần đây, nhân dân bản Hìn đang vươn lên đổi mới cuộc sống và bản làng

Từ khi có chính sách giao đất giao rừng của Nhà nước ban hành, hợp tác xã bản Hìn đã đượctrực tiếp quản lý bảo vệ 150 ha rừng tự nhiên và đất lâm nghiệp, tổ chức khoanh nuôi bảo vệchăm sóc rừng, trồng rừng Ngoài ra, hợp tác xã còn nuôi dưỡng và khai thác 10 ha rừng tre

Từ thực tiễn mất rừng và thiếu đất canh tác, ngày nay, người dân bản Hình đã tự nhận thức

được sự cần thiết phải bảo vệ rừng Hợp tác xã đã khoanh các khu rừng phòng hộ, rừng đượcthu hái măng, rừng được nhặt củi khô Nhân dân trong bản đã tự qui định chặt chẽ về bảo vệrừng Ai đốt phá rừng bị phạt 100.000 đ, 50 kg thóc và đền bù thiệt hại, ai chặt tre không

đúng quy định bị phạt 3.000 đ/cây, ai lấy măng sai qui định phải phạt 500 đ/cái Khi cần phảikhai thác gỗ, dù là phục vụ cho yêu cầu của bản, cũng phải được chi bộ và đại hội xã viênthông qua Chỉ trong 2 nãm 1990 và 1991, hợp tác xã đã triển khai trồng 50 ha rừng trên đấtnương rẫy với sự tham gia của 106 hộ gia đình trong bản

Chi bộ và chính quyền bản chú ý phát triển kinh tế hộ gia đình Được sự hỗ trợ của Trungtâm khoa học và sản xuất lâm nghiệp vùng Tây Bắc, hợp tác xã đã triển khai cho các hộ gia

đình gây trồng 23 ha vườn cây ăn quả: nhãn, xoài, mận, quít, cây công nghiệp như cà phê.Năm 1992, Đề tài lâm nghiệp xã hội đã chọn bản Hìn để xây dựng mô hình lâm nghiệp xãhội Nhân dân được phổ cập về lâm nghiệp nói chung và lâm nghiệp xã hội nói riêng Nhậnthức của nhân dân về rừng và bảo vệ rừng được nâng cao Sau lớp học phổ cập lâm nghiệp xãhội đã có 29 hộ gia đình tự nguyện đăng ký tham gia đề tài lâm nghiệp xã hội Đề tài đã lựachọn 10 hộ gia đình chỉ đạo điển hình xây dựng phương án sản xuất phát triển kinh tế hộ gia

đình Dựa vào vốn đất đai, lao động và kinh nghiệm sản xuất của gia đình, xây dựng phương

án sản xuất hợp lý để giải quyết những nhu cầu lương thực, thực phẩm cho đời sống hàngngày và sản xuất hàng hoá bán ra thị trường Kinh nghiệm cho thấy các gia đình đều có nhucầu về lương thực, thực phẩm, chất đốt, gỗ gia dụng và tiền mặt để mua sắm cho gia đình.Nếu giải quyết tốt những nhu cầu trên thì nhân dân sẽ không phá rừng Muốn vậy, phải thựchiện lấy ngắn nuôi dài, nông lâm kết hợp Nhiều mô hình nông lâm kết hợp đã xuất hiện như:

• Lúa nương + cây ăn quả lâu năm

• Ngô hoặc sắn + cây ăn quả lâu năm

• Lúa, ngô + cây ăn quả + cây công nghiệp

• Lạc, đậu tương + cây ăn quả

• Bạch đàn, keo + lúa nương + cây ăn quả

• Lúa, ngô + tre bao quanh

Hầu hết các gia đình đều phát triển chăn nuôi, không chỉ giải quyết nhu cầu thực phẩm màcòn tạo ra nguồn phân chuồng sử dụng kết hợp với phân bón hoá học Mặc dù ở miền núi

Trang 11

nhưng bình quân đất đai tính theo đầu người chỉ có 0,7 hecta/người Dân số càng tăng, đất đaicanh tác ngày càng thiếu thốn Từ thực tiễn đó, nhân dân đều tự nhận thức được nhu cầu phảibón phân, thâm canh nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi Nếu không thâm canh, sẽ không

đủ ăn Nhân dân còn mạnh dạn gây trồng các giống mới có năng suất cao như giống lúa 203,giống ngô Baiôxit vv … Bài học thực tiễn của bản Hìn cho thấy muốn xoá đói giảm nghèo vàlàm giàu, không thể chỉ canh tác quảng canh như trước đây mà phải ứng dụng tiến bộ khoahọc kỹ thuật gây trồng giống cây trồng vật nuôi mới, có năng suất cao, thực hiện bón phân,thâm canh, cải tạo đất (gây trồng các loài cây họ đậu), chống xói mòn, v.v Ngày nay, trongbản không còn các hộ gia đình thiếu ăn từ 3-6 tháng nữa Có gia đình có thu nhập hàng nămcao như anh Tòng Văn Pâng và ông Tòng Văn Phụng Năm 1994, anh Pâng thu nhập được13.900.000 đ, ông Phụng thu nhập được 11.380.000 đ Năm 1994, bản Hìn có 156 hộ gia

đình thì đã có 96 hộ có nhà ngói, 29 hộ gia đình có tivi, 36 hộ gia đình có xe máy, phần lớncác hộ đều có máy thu thanh nghe tin tức Được sự giúp đỡ của tỉnh, thực hiện phương châmNhà nước và nhân dân cùng làm, bản Hìn đã đầu tư 9.000.000 đ làm đường ô tô về đến bản vàxây dựng một nhà văn hoá khang trang, có video chiếu hàng tuần cho nhân dân đến xem.Ngày nay, bản Hìn đã có trường học, 186 trẻ em được cắp sách đến trường 100% trẻ em đếntuổi đi học đều đến trường học tập Nhân dân ốm đau không còn cúng bái mê tín như trước

đây Bản Hìn đã có cán bộ y tế chăm lo sức khoẻ cho nhân dân Thực hiện kế hoạch hoá gia

đình, các cặp vợ chồng trẻ ngày nay cam kết chỉ có từ 1-2 con Những đổi mới này đã thay

đổi phong tục tập quán lạc hậu trước đây Ngày nay, những đoàn khách quốc tế và trong nước

đến thăm bản Hìn còn được thưởng thức những buổi biểu diễn ca múa đậm đà màu sắc dântộc Thái do đội văn nghệ của bản trình diễn Trong bản đã có 2 diễn viên nghiệp dư đượcsang Thái Lan biểu diễn

Đời sống vật chất tinh thần văn hoá, dân trí của bản Hìn được nâng cao rõ rệt so với trước đây

Đạt được cuộc sống như ngày hôm nay còn do bản Hìn có các tổ chức Đảng, đoàn thể quầnchúng đoàn kết thống nhất thực hiện nghiêm chỉnh các chủ trương chính sách của Đảng vàNhà nước, luôn luôn chăm lo đời sống của nhân dân Chi bộ Đảng là trung tâm đoàn kết nhândân và lãnh đạo toàn diện trong mọi hoạt động của bản Các đảng viên làm đầu tàu gươngmẫu cho nhân dân noi theo Chính quyền bản thống nhất chủ trương với chi bộ và tổ chứcquần chúng triển khai Bản Hìn có chi đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, chi hội phụ nữbản; Hội cựu chiến binh và chi hội bảo thọ Chi hội bảo thọ gồm các cụ già trên 55 tuổi, các

cụ được bản giao cho quản lý một vườn quả và một ao cá Chi đoàn thanh niên và chi hội phụnữ được bản giao khoán quản lý bảo vệ rừng Kinh nghiệm cho thấy sự thống nhất giữa lãnh

đạo Đảng - chính quyền - đoàn thể và nhân dân là nhân tố rất quan trọng quyết định nhữngthành công của bản Hìn

Có được những đổi mới của bản Hìn ngày hôm nay, phải nói đến sự quan tâm giúp đỡ của Uỷban nhân dân tỉnh Sơn La, Uỷ ban nhân dân thị xã Sơn La và lãnh đạo các ban, ngành trongtỉnh Nhân dân bản Hìn đã vươn lên xứng đáng với lòng tin và sự giúp đỡ của lãnh đạo tỉnh,thị xã Sơn La và đang là một điểm sáng trên núi rừng Sơn La

3 Xóm Rãnh (Hoà Bình)

Xóm Rãnh thuộc xã Toàn Sơn huyện Đà Bắc tỉnh Hoà Bình hình thành từ năm 1958 Buổi

đầu đến đây lập nghiệp chỉ có 3 hộ gia đình dân tộc Dao Sau đó, dân cư đến sinh sống đôngdần Xóm Rãnh tiếp nhận 15 hộ gia đình chuyển từ vùng ngập và 35 hộ gia đình từ ứng Hoà

đến xây dựng kinh tế mới Xóm Rãnh là cộng đồng dân cư bao gồm các dân tộc Dao, Mường

và Kinh cùng chung sống xây dựng bản làng

Trước năm 1958, rừng ở đây còn tốt với diện tích khoảng 500 ha Ruộng nước hầu như không

có (0,6 ha) Nhân dân phải phá rừng làm rẫy, diện tích rừng mất đi nhanh chóng, đồi trọc

Trang 12

thuần nông, quảng canh Năng suất lúa thấp Đời sống nhân dân gặp khó khăn Bình quânmỗi người dân chỉ có 6-8 kg thóc trong một tháng Nạn đói diễn ra thường xuyên, hàng nămthiếu ăn từ 5-6 tháng Chăn nuôi theo tập quán thả rông, không sử dụng được nguồn phân bónlại làm mất vệ sinh bản làng Hơn 30% số trẻ em đến độ tuổi đi học không đến trường học.Bản làng không có trạm xá Số người mắc bệnh hàng năm chiếm tới 10% tổng dân số Sốtrét, bướu cổ là dịch bệnh thường xảy ra trong vùng Phong tục mê tín còn nặng nề, người ốmchữa bệnh bằng cúng bái Tỷ lệ tăng dân số tới 3,8%.

Năm 1963, hợp tác xã nông nghiệp Xóm Rãnh được thành lập, chủ trương vận động nhân dânkhai hoang mở rộng diện tích lúa nước, giảm phát rừng làm rẫy

Năm 1969, Xóm Rãnh là điểm chỉ đạo điển hình về vận động định canh định cư của tỉnh HoàBình

Năm 1980, tỉnh đã đầu tư khai hoang làm ruộng, đắp đập làm hồ, xây dựng trại chăn nuôi,cung cấp giống lương thực và gia súc vv Tuy nhiên, đời sống nhân dân vẫn thiếu thốn, khôngchấm dứt được nạn phá rừng làm rẫy, đất đai vẫn tiếp tục bị thoái hoá Nguyên nhân cơ bản

là đầu tư còn mang tính bao cấp, chưa chỉ dẫn cho nhân dân cách làm ăn mới, Sản xuất vẫncòn ở trạng thái tự cấp tự túc, chưa đi lên sản xuất hàng hoá

Năm 1989, được sự giúp đỡ của Bộ lâm nghiệp, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Sơn Bình (cũ), SởLâm nghiệp, Xóm Rãnh đã được Ban định canh định cư và Chi cục kiểm lâm chỉ đạo xâydựng dự án mới với quan điểm toàn diện về lâm nghiệp xã hội

Dự án đã tiến hành giao đất giao rừng cho các hộ gia đình, phát triển kinh tế hộ gia đình làmcơ sở cho định canh định cư Năm 1990, đã hoàn thành giao đất giao rừng cho các hộ gia

Dự án để qui hoạch lại đất đai và lao động, định hướng phát triển sản xuất gắn với sản xuấthàng hoá Phát triển sản xuất để giải quyết vấn đề lương thực, sản xuất hàng hoá bán ra thịtrường để mua lương thực và giải quyết nhu cầu tiền mặt chi tiêu trong gia đình là định hướngphát triển đúng đắn không chỉ cho Xóm Rãnh mà còn đúng cho nhiều vùng trung du, miềnnúi khác Nhân dân Xóm Rãnh đã lựa chọn cây mía tím là cây ngắn ngày có thị trường tiêuthụ ở Hoà Bình - Hà Nội Đến năm 1992, 100% số hộ gia đình của Xóm Rãnh đã trồng míatím được 35 ha

Nhân dân Xóm Rãnh đã thực hiện thâm canh, mạnh dạn áp dụng gây trồng các giống câytrồng mới như lúa cạn CH3, ngô TSB2, lúa nước CR203, chè hom PH2, dưa chuột Thái Lan,v.v Phát triển 15 ha cây ăn quả như cam, quít, vải thiều và 7 ha chè

Nhiều mô hình nông lâm kết hợp ở Xóm Rãnh đã mang lại hiệu quả kinh tế và bảo vệ môitrường như:

Cây rừng + lúa

Cây rừng + ngô

Mía + lạc + ngô

Trang 13

Phát triển sản xuất nông nghiệp bằng thâm canh sử dụng giống mới và phân bón, thực hiệnphương thức canh tác nông lâm kết hợp v.v đã tạo tiền đề cho Xóm Rãnh đi lên sản xuấthàng hoá, thoát khỏi tình trạng tự cấp tự túc Ngày nay, bình quân mỗi người dân Xóm Rãnh

đã đạt hơn 20 kg thóc trong một tháng, không còn gia đình nào thiếu ăn Thu nhập bằng tiềnbình quân mỗi người đạt trên 600.000 đ/năm Gia đình các ông Triệu Tấn Dũng, Phạm VãnThắng, Nguyễn Văn Thông v.v đã thu nhập hàng năm hơn 10.000.000đ Hàng chục hộ gia

đình đã mua tivi, máy thu thanh, cát xét, xe máy, máy khâu, máy xay xát v.v Nhiều hộ gia

đình đã làm nhà mới, bản làng ngày càng đẹp đẽ khang trang

Xóm Rãnh đã gắn liền phát triển kinh tế và phát triển văn hoá, giáo dục, y tế Ngày nay, XómRãnh đã có một trường học xây dựng kiên cố với 3 phòng học, 1 nhà ở cho giáo viên Hầu hếttrẻ em đều đến trường học Số người mù chữ chỉ còn lại 5% dân số Xóm Rãnh đã có mộttrạm xá Nhân dân ốm đau đã đến trạm xá điều trị, nạn mê tín dị đoan đã giảm rõ rệt Tỷ lệsinh đẻ chỉ còn 1,8% Số người đặt vòng tránh thai trong độ tuổi sinh đẻ đạt 80% Đã giảiquyết được nguồn nước sạch cho nhân dân Mỗi hộ gia đình có một bể nước ăn

Đặc biệt, Xóm Rãnh chú trọng cử tuyển con em người địa phương đi học, đào tạo cán bộ y tế,giáo viên, cán bộ khoa học kỹ thuật v.v Cộng đồng dân cư Xóm Rãnh bao gồm 3 dân tộcDao, Mường, Kinh đoàn kết cùng nhau xây dựng bản làng

Nhờ phát triển lâm nghiệp xã hội đúng hướng, màu xanh của núi rừng đang trở lại với XómRãnh Đây không chỉ là màu xanh của lá cây mà còn là màu xanh của hy vọng về một cuộcsống no đủ về vật chất, phong phú về tinh thần, đậm đà truyền thống đoàn kết dân tộc

4 Ông Quàng Văn Hiến (Sơn La)

Mặc dù tuổi đã ngoài năm mươi nhưng ông vẫn còn giữ lại phong cách làm ăn của thời traitrẻ Gia đình ông đã định cư lâu đời ở bản Hôm, xã Chiềng Cọ, thị xã Sơn La Ông vẫnkhông quên những năm tháng trước đây phải lên rừng phát nương làm rẫy, quanh năm vất vảkhó nhọc mà chẳng đủ nuôi sống gia đình Bản làng ông xưa kia có những cánh rừng già chephủ, có nhiều chim thú rừng nhưng đến nay chẳng còn nữa ở bản Hôm, ruộng nước có rất ít,cuộc sống chủ yếu trông vào núi đồi và sự ưu đãi của thiên nhiên Do vậy, cuộc sống của

đồng bào rất nghèo đói và lạc hậu Rừng càng ngày càng bị tàn phá, đất làm nương ngàycàng bị xói mòn xơ xác

Từ năm 1990 nhờ chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước cùng với sự chỉ đạo của cấp

uỷ Đảng và chính quyền địa phương, ông Hiến đã vận dụng những điều kiện sẵn có của mình

về đất đai và lao động, quyết tâm phấn đấu vươn lên xoá đói giảm nghèo và tạo ra nhiều sảnphẩm cho xã hội

Đầu năm 1991, ông nhận 37 hecta rừng và đất rừng, trong đó có 20 hecta rừng núi đá, 13

Trang 14

chỉ có 4 lao động chính và 3 lao động phụ) từ trong bản ra nương để định cư và ổn định sảnxuất và qui hoạch lại sử dụng đất đai như sau:

Trên đất dốc, trồng trẩu; ở chân đồi, trồng nhãn; tiếp theo, trồng cam quít Trên đất thunglũng tương đối bằng phẳng, trồng cây công nghiệp: cà phê, dâu tằm và cây ăn quả như mơ,mận hậu, vải thiều và chuối; trồng kết hợp với đậu, lạc để vừa thu hoạch sản phẩm, vừa cải tạo

đất Thuê cầy máy 3 ha để cải tạo lại đất canh tác trồng cà phê

Khoanh nuôi bảo vệ 20 ha rừng núi đá Lúc đầu, nhân dân các bản xung quanh đến chặt phá.Nhưng ông đã kiên trì giải thích thuyết phục và đến nay ông đã bảo vệ được rừng, cây cốiphát triển tốt

Theo qui hoạch trên, ông tổ chức sản xuất:

• Năm 1991, trồng 600 khóm chuối để tạo ra tàn che trồng 1300 cây cà phê

• Năm 1992, phát đồi trồng 40.000 cây trẩu, 5.000 cây cà phê, 170 cây mơ Vân Nam, 260cây mơ địa phương

• Năm 1993, trồng 240 cây lát hoa, 1500 cây bạch đàn, 1260 cây nhãn, 6.040 cây cà phê,trồng chuối, cốt khỉ, keo để vừa cải tạo đất vừa tạo tàn che cho cây cà phê Nhờ vậy, cuốinăm 1993, ở Sơn La tuy bị sương muối nặng nhưng cà phê của ông không bị chết

• Năm 1994, trồng thêm 16.000 cây cà phê, 370 cây mơ, 80 cây vải thiều, 150 cây mận hậu

• Dự định đến cuối năm 1995, trồng thêm 700 cây mơ và 25.000 cây cà phê để phủ kínvườn cây công nghiệp và vườn cây ăn quả

Trang 15

Hình 2 Quy hoạch đất đai, bố trí trồng trang trại lâm nghiệp hộ Quàng Văn Hiến,

Bản Hôm - Chiềng Cọ - Sơn La

Trang 16

Để bảo vệ trang trại, ông đã đào 1320m hào, trồng hàng rào cây móc mèo để phòng chống lửacháy lan và trâu bò phá hoại.

Ông thường xuyên theo dõi thông tin trên báo, đài về thị trường và kỹ thuật Những kinhnghiệm rút ra được từ thực tế sản xuất, ông đều phổ biến lại cho bà con trong bản Ông đãvận động các hộ gia đình trong bản nhận 218 ha trồng cafe - dâu tằm và vận động được trên

130 hộ gia đình thực hiện giãn hộ giãn bãi Ông vận động các cụ phụ lão xây dựng vườn rừnglập quỹ bảo thọ được 1.000.000đ, lao động gây quỹ được 700.000đ

Để giải quyết vốn phát triển sản xuất, ông mạnh dạn vay vốn của ngân hàng, ký kết hợp đồngvới công ty cà phê vay vốn dưới hình thức cung cấp cây con và sau này trả lại vốn vay khi thuhoạch cà phê, tự nguyện đăng ký tham gia đề tài lâm nghiệp xã hội cấp Nhà nước (KN0805),

được đề tài giúp đỡ xây dựng phương án sản xuất phát triền kinh tế hộ gia đình, hỗ trợ vốn sảnxuất bằng cây con, phân bón, thuốc trừ sâu, phát triển chăn nuôi và hướng dẫn kỹ thuật sảnxuất

Sau 3 năm xây dựng mô hình lâm nghiệp trang trại, tuy chưa định hình và nhiều sản phẩm câytrồng lâu năm chưa được thu hoạch như cà phê, trẩu, lát hoa, v.v nhưng cuối năm 1994, gia

đình ông đã thu hoạch được 9.270.000đ, thoát khỏi cảnh đói nghèo năm xưa, không những đủ

ăn quanh năm mà còn có khả năng tích luỹ phát triển sản xuất, con cái đều được học hành

Ông có 6 người con thì một con trai đang công tác ở Đài phát thanh Sơn La, 2 con gái là giáoviên trường phổ thông cơ sở, 3 con còn lại đều đi học ở trường phổ thông trung học Dự kiếnkhi trang trại của ông định hình, hàng năm sẽ thu hoạch được gần 100 triệu đồng

Từ đất đai, lao động, vốn vay và kỹ thuật, ông đã xây dựng một trang trại khang trang, thoátkhỏi tình trạng đói nghèo và bắt đầu có tích lũy phát triển sản xuất Ông Hiên đã đi theo con

đường phát triển lâm nghiệp xã hội, dám nghĩ, dám làm và là một trong những người Thái đầutiên của tỉnh Sơn La phát triển kinh tế hộ gia đình theo hướng lâm nghiệp trang trại

Trang 17

H×nh 3 MÆt b»ng khu trang tr¹i l©m nghiÖp hé Quµng V¨n HiÕn,

B¶n H«m - ChiÒng Cä - S¬n La

Trang 18

5 Anh Nguyễn Văn Đoàn (Vĩnh Phú)

Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, Nguyễn Văn Đoàn trở về xây dựng quê hương mình ở

đội 13, xã Tiên Sơn, huyện Đoan Hùng, tỉnh Vĩnh Phú tài sản gia đình ban đầu chỉ có mộtnhà lá cọ 3 gian và diện tích đất canh tác 2.720m2 Cuộc sống gia đình phải chật vật kiếmsống mới đủ ăn cho 2 vợ chồng và 2 con gái còn nhỏ

Năm 1992, anh Đoàn tự nguyện đăng ký tham gia đề tài lâm nghiệp xã hội KN0305 Với sứckhoẻ của độ tuổi 35, anh cùng vợ con tự xây dựng nên cơ nghiệp của mình bằng mô hình lâmnghiệp trang trại Được sự giúp đỡ của đề tài lâm nghiệp xã hội anh rà soát lại quỹ đất đai,lao động, xây dựng phương án sản xuất phát triển kinh tế hộ gia đình

Anh mạnh dạn ký kết hợp đồng nhận khoán khoanh nuôi và bảo vệ 6 hecta rừng luồng, diễnvới trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp Cầu Hai Thời gian nhận khoán là 15 năm Sản lượngkhai thác từ năm thứ 6 đến năm thứ 15 là 2.100 cây /hecta/năm Phân chia lợi ích sản phẩmkhai thác như sau:

- Chủ hộ gia đình: 54% sản lượng khai thác

- Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp: 36%

- Trọng tài kinh tế: 10%

Trên diện tích đất nhận khoán anh còn trồng thêm được 0,5 ha rừng diễn và 2,3 ha rừng luồng

ở sườn đồi quanh nhà Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp hỗ trợ trồng rừng mỗi hecta 100 kggạo, cung cấp giống và hướng dẫn kỹ thuật Anh Đoàn bỏ công gây trồng chăm sóc và bảo

vệ Anh Đoàn được hưởng 100%, sản phẩm trồng xen theo phương thức nông lâm kết hợp(sắn, lạc, đỗ vv…) Nếu gia đình tự lo tiền giống, phân bón, thiết kế, công trồng thì gia đình

được hưởng 70% sản lượng khai thác và Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp hưởng 30%.Trong phần sản lượng khai thác gia đình được hưởng, trung tâm nghiên cứu mua lại 70% sảnphẩm theo giá thoả thuận, còn lại 30% thuộc quyền sử dụng của gia đình Nếu gia đìnhkhông bảo vệ được rừng thì phải bồi hoàn lại giá trị đầu tư trồng rừng cho Trung tâm nghiêncứu lâm nghiệp và phạt 50đ/1m2 đất trồng rừng Nếu gia đình vi phạm quá 2 lần thì huỷ bỏhợp đồng giao khoán bảo vệ rừng và giao lại cho chủ hộ khác Mặc dù diện tích đất trồng lúacủa gia đình chỉ có 1390m2 nhưng anh Đoàn đã trồng 2 vụ lúa: Vụ chiêm và vụ mùa với giốngmới, bón phân thâm canh, Trong nám 1994, anh đã thu hoạch được 1.500 kg thóc Gia đình

có 4 nhân khẩu (2 vợ chồng, 2 con gái 6 tuổi và 4 tuổi) bình quân mỗi người dạt 31 kgthóc/tháng Gia đình anh không những đủ ăn mà còn thừa lương thực Ngoài ra, còn thu đượchơn một triệu đồng tiền bán sắn, đỗ, lạc v.v Trong vườn trồng cây ăn quả: táo, chanh,chuối, dứa v.v và trồng chè Hàng năm thu hoạch được hơn một tạ chè khô bán ra thịtrường Anh còn cải tạo mở rộng ao cá diện tích 336m2 và nuôi trâu, bò, lợn, gà Riêng sảnphẩm chăn nuôi trong năm 1994, đã thu được 5.500.000đ Mô hình lâm nghiệp trang trại củagia đình anh có đủ cả yếu tố: Rừng (R1), Vườn (V), Ao (A), Chuồng (C) và ruộng (R2) Đây

là mô hình R1.V.A.C.R2 rất thích hợp với phương thức canh tác trên đất dốc ở trung du, miềnnúi (xem hình 4, 5)

Trang 19

Hình 4 Mô hình xây dựng

lâm nghiệp trang trại trên đất dốc ở vùng trung du và miền núi

(hộ Nguyễn Văn Đoàn, xã Tiêu Sơn, Đoan Hùng, Vĩnh Phú)

Trang 20

Hình 5 Sơ đồ bố trí quy hoạch trang trại hộ Nguyễn Văn Đoàn

Khoảnh 2, Lô 4, xã Tiêu Sơn

Trang 21

Ưu điểm của mô hình canh tác này là:

• Vừa kết hợp được cây nông nghiệp (lương thực, thực phẩm), cây ăn qủa, cây công nghiệp,chăn nuôi dưới nước và trên mặt đất với cây lâm nghiệp

• Bảo vệ được đất đai, chống xói mòn, bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái lâu bền.Anh Đoàn còn tự làm lò gạch, sản xuất được 20.000 viên gạch chuẩn bị xây dựng nhà mớikiên cố

Năm 1994, thu nhập kinh tế của gia đình được 15.625.000đ Cuộc sống gia đình anh khôngchỉ no đủ mà còn có tích luỹ phát triển sản xuất và làm giàu từ mô hình lâm nghiệp trang trại.Anh Đoàn đã khơi dậy tiềm năng đất đai, lao dộng bằng lòng quyết tâm và trí tuệ đã tạo ramột cuộc sống ngày càng giàu có và làm đẹp thêm cảnh quan của vùng trung du quê hươnganh

II Mô hình khoanh nuôi phục hồi rừng

1 Lâm trường Truông Bát (Hà Tĩnh)

Năm 1993, Lâm trường giao khoán khoanh nuôi phục hồi 662 ha rừng non mới tái sinh tựnhiên cho 44 hộ thành viên Hiện nay, 70 ha rừng đã được luỗng phát vệ sinh; 12,3 ha đượctrồng quế dưới tán Một số diện tích khác được trồng xen theo phương thức nông lâm kếthợp Tính bình quân mỗi hộ làm nông - lâm nghiệp vừa nhận khoán khoanh nuôi 5-7 ha cóthể đạt:

- Kinh phí hỗ trợ khoanh nuôi: 180.000đ

- Thu lâm sản phụ (củi và cây phi mục đích ) 550.000đ

- Thu từ kinh tế vườn, chăn nuôi 2.500.000đ

Hình thức khoán khoanh nuôi phục hồi rừng đã đem lại hiệu quả rõ rệt không chỉ ở thu nhập

mà chất lượng rừng ngày càng được cải thiện (theo Trần Ngọc Sơn - TCLN 10/94)

2 Xã Ngọc Réo (Kon Tum)

Xã Ngọc Réo là xã 100% đồng bào dân tộc Xen Vá và Rngao nằm gần thị xã Kon Tum.Toàn xã có 9 làng, 546 hộ và 2.814 nhân khẩu Tổng diện tích tự nhiên là 11.074 ha; trong đó

đất lâm nghiệp 9.141 ha

Trước năm,1993, hàng năm có tới 400 ha rừng bị phá, trong đó có 260 ha làm nương rẫy Từ

1993, xã đứng ra quản lý rừng và đất rừng theo phương thức khoanh nuôi phục hồi rừng vớidiện tích 8.925 ha; trong đó 755 ha rừng nghèo kiệt, rừng non có 2.494 ha và 902 ha rừng lồ

ô, đất trống 4.758 ha Hiện nay, toàn bộ diện tích trên đã được giao đến các hộ gia đình bìnhquân mỗi hộ 16 ha, hộ nhiều nhất 20 ha Rừng ở xã Ngọc Réo đã có chủ thực sự, thành cônglớn nhất là mùa khô 1993-1994 đã chấm dứt được nạn phá rừng làm rẫy Bên cạnh việc giao

đất, giao rừng để khoanh nuôi phục hồi, công tác định canh, định cư cũng ổn định Đồng bào

đã thay đồi tập quán canh tác, chuyển sang làm lúa nước, chấm dứt tình trạng thả gia súc bừa

Trang 22

và cải tạo cơ sở hạ tầng: 34 km đường ô tô từ thị xã vào, 19 phòng học, gần 100% các em đếntuổi đều đi học, y tế cộng đồng phát triển, thực hiện vệ sinh phòng bệnh, các hộ có nhà vệsinh v.v (Theo Nguyễn Duy Lượng - TCLN 6/94).

3 Lâm trường Phương Ninh (Cần Thơ)

Lâm trường nằm trong huyện Phụng Hiệp (cách Cần Thơ 50 km) Tổng diện tích tự nhiên2.810 ha, diện tích rừng chiếm 40% xấp xỉ 1.124 ha Năm 1989, lâm trường giao 161,45 hacho 12 hộ, bình quân mỗi hộ 13-14 ha Tỉ lệ ăn chia được xác định theo tuổi rừng lúc chiakhoán Đất trên bờ kênh Xáng 1.200 m2 trồng mía, đất ruộng được nhận khoán 1-2 công đấttuỳ theo khả năng từng hộ, 1.000 m kênh thu hoạch cá, bờ kênh, khoảnh, lô trồng dưa chuột,bầu bí

Theo hợp đồng, cá được thu hoạch vào tháng 9 hàng năm, từ tháng 5 đến tháng 8 được phép

đặt lờ, giăng lưới kiếm ăn hàng ngày Mía được đầu tư 700.000 - 800.000 đ/công (sào) Đầutư một lần, thu hoạch mía được 3 chu kỳ Sau khi trồng 12 tháng thu nộp 180 kg đường thôcho lâm trường, chu kỳ 2 năng suất mía cao hơn chu kỳ 1 Năm 1994, có hộ nhận rừng từ

1984 (sau 10 năm) ở tuổi khai thác được 9,4 ha (17 ha nhận khoán, sau khi trừ chi phí còn lại

8 triệu đồng, không kể các khoản thu ngắn ngày khác như mía, cá, rau, dưa để ổn định đờisống) Theo Lê Thị Ngọc ánh - Trung tâm khuyến nông - lâm Cần Thơ

4 Khoanh nuôi phục hồi rừng tụ nhiên sau khai thác chọn ở huyện Vân Đồn (đảo Kế Bào) Quảng Ninh

Đây là mô hình tiến hành nghiên cứu có hệ thống ở các ô tiêu chuẩn định vị được bố trí saukhai thác chọn tại đảo Kê Bào năm 1990 Các ô này được bảo vệ, phục vụ cho nghiên cứuquá trình phục hồi rừng tự nhiên Sau 3 năm, tù kết quả điều tra ban đầu, rừng được điều tralại và đánh giá kết quả của quá trình khoanh nuôi, bảo vệ trên hai chỉ tiêu chính: Sinh trưởngcủa tầng cây cao và đánh giá tái sinh tự nhiên, kết quả thu được như sau:

22,227,69

2528

Lọng bàng, chè rừng, giẻLọng bàng, táu, re

1993

510580

73,2582,7

3134

Re, lim giẻ, trám

Re, trám, giẻ, lim

1993

483364

29,0635,06

3225

Re, giẻ, mắc miễng, trámGiẻ, mắc miễng, trám, re

1993

278340

27,4532,29

2725

Lọng bàng, táu, giẻ, trámMắc miễng, lọng bàng, trám

Trang 23

Bảng 2 So sánh số lượng và chất lượng tái sinh

37203640

Táu, lọng bàng, reLim, lọng bàng, re, giẻ

1993

2217

51603120

Re, trám, giẻGiẻ, lim, bứa

1993

2027

38804667

Trám, bứa, re, giẻ,Giẻ, lọng bàng, re, ngát

1993

2423

46134800

Táu, lọng bàng, trám, giẻTáu, lọng bàng, giẻ

Kết quả trên cho thấy:

- Khoanh nuôi bảo vệ sau ba năm, trữ lượng của tất cả các trạng thái rừng đều tăng

- Mật độ cây tái sinh tăng ở các trạng thái rừng IIA và IIB Đây là các trạng thái được xếpvào đối tượng khoanh nuôi phục hồi rừng ở Quảng Ninh (theo Ngô Quang Đê - Phạm XuânHoàn Báo cáo khoa học, Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật - 11/1993)

III Mô hình thâm canh rừng trồng

1 Rừng trồng cung cấp nguyên liệu giấy

Vùng trung tâm: (theo Nguyễn Dương Tài, 1992)

Địa điểm: Vĩnh Phú, Tuyên Quang

Đất trồng:

Phát triển trên phiến thạch mi ca

Đồi dốc dưới 150

Tầng đất dày trung bình

Thực bì trảng cỏ cây bụi, thuộc loại đất 2 và 8 theo phân loại đất trồng bồ đề

Trang 24

Kết quả: Theo dõi tăng trưởng trên 261 ô định vị cho cả 4 loài: bồ đề, keo lá to, bạch đàneamandulensis và bạch đàn urophylla cho thấy bạch đàn urophylla mọc nhanh, có nhiều ưu

điểm và tốt hơn các loài khác về mọi chỉ tiêu quan sát ở tuổi 6, bạch đàn urophylla đạt các

chi tiêu sinh trưởng năng suất và sản lượng bình quân như sau:

Đường kính Chiều cao Năng suất Sản lượng

(cm) (m) (m3/ha/năm) (m3/ha)

13,22 14,46 12.34 74,04

Điều đó chứng tỏ chọn loài cây trồng thích hợp là vô cùng quan trọng trong thâm canh rừngtrồng Bạch đàn urophylla không chỉ cho năng suất cao hơn mà tỷ trọng cũng lớn hơn (d =0,6) các loài kia (d = 0,4 - 0,5) nên càng có lợi thế hơn nếu làm nguyên liệu giấy Các biệnpháp bón phân, cày ngầm, giảm mật độ cũng có tác dụng tốt Đến năm 1990 trong vùngnguyên liệu giấy đã trồng được hơn 2500 ha bạch đàn urophylla Kết quả khảo nghiệm cũngcho thấy trong loài bạch đàn urophylla thì có 2 xuất xứ Lewotobi

Vùng Đông Nam Bộ (theo Trần Hậu Huệ, 1994)

Địa điểm: Lâm trường nguyên liệu giấy Trị An, Đồng Nai

Bạch đàn camandulensis xuất xứ Petford

Làm đất toàn diện, cày máy sâu 30 cm

Trang 25

Bảng 3 - So sánh tăng trưởng các loài cây

Loài cây

Chỉ tiêu

Keolá tràm

Bạch đànPhú Khánh

Bạch đànPetford

Hỗn giao bạch đànvới keo lá tràmNăng

suất(m3/ha/năm)

Sản lượng(m3/ha)

22,1132,6

18,3109,8

15,492,4

18,6111,6

- Bạch đàn xuất xứ Phú Khánh 2 năm đầu sinh trưởng chậm và phân hoá mạnh, sau đó vươnlên phát triển ổn định và không bị nhiễm bệnh, nếu chọn giống tốt năng suất chắc chắn còncao hơn

- Bạch đàn xuất xứ Petford thì ngược lại, 2 năm đầu sinh trưởng nhanh chiều cao, đến năm thứ

3 bị nấm làm rụng lá, có 10-15% cây bị chết khô, cây còn lại sinh trưởng chậm dẫn tới năngsuất giảm

- Keo lá tràm vừa cho năng suất cao nhất vừa có tác dụng cải tạo đất tốt Tuy nhiên, tính theogiá trị nguyên liệu hiện nay thì giá bán gỗ keo lá tràm chỉ bằng nửa giá bán gỗ bạch đànnhưng nhờ năng suất cao hơn nên cũng có thể bù đắp được

- Hỗn giao bạch đàn với keo lá tràm tuy năng suất vẫn thấp hơn trồng keo lá tràm thuần loài

và cũng chỉ cao hơn trồng bạch đàn xuất xứ Phú Khánh chút ít nhưng có lợi thế là đã khắcphục được một phần những hạn chế của phương thức trồng thuần loài về giá trị nguyên liệunếu trồng keo lá tràm thuần loài và cải tạo môi trường nếu trồng bạch đàn thuần loài cho nênphương thức trồng hỗn loài này cần được chú ý hơn

2 Rừng trồng cung cấp gỗ trụ mỏ

Địa điểm: Lâm trường Chợ Đồn, Bắc Thái

Đất trồng:

Núi thấp trên đá biến chất

Độ dốc 20-250, tầng đất dày

Trảng cây bụi có cây gỗ rải rác

Cây trồng: Thông đuôi ngựa

Làm đất: Thủ công; phát dọn thực bì theo băng và cuốc hố 40 x 40 x 40 cm

Mật độ: trồng 2.500 cây/ha (cự li 2 x 2 m) còn lại 1.200 cây/ha (cự li 2,5 x 3,2 m)

Thời vụ: Trồng tháng 8/1980 (vụ thu)

Trồng bằng cây con có bầu 6 tháng tuổi

Chăm sóc: 3 năm

Tỉa thưa: 1 lần, cường độ tỉa 50%

Kết quả: Điều tra đánh giá tăng trưởng 10 loài cây trồng rừng ở Bắc Thái (theo chương trìnhnghiên cứu của nhóm liên ngùnh sử dụng đất) cho thấy thông đuôi ngựa trồng ở vùng núi thấp

Trang 26

có độ cao 400-500m có sức sinh trưởng khá cho năng suất cao hơn cả ở tuổi 14, mức sinhtrưởng, năng suất và sản lượng bình quân đã đạt được là:

Đường kính Chiều cao Năng suất Sản lượng

(cm) (m) (m3/ha/năm) (m3/ha)

19,02 9,66 18,2 254,8

Đáng chú ý là ở đây mức độ đầu tư thâm canh còn thấp, các biện pháp mũi nhọn như chọngiống, bón phân và cơ giới hoá làm đất đều chưa được áp dụng, chủ yếu nhất là mới đầu tưmột số biện pháp liên hoàn như đã chọn loài cây trồng, đất trồng và vùng trồng đúng, phù hợpyêu cầu sinh thái của thông đuôi ngựa Ngoài ra, cũng đã áp dụng các biện pháp trồng câycon được nuôi trong bầu, chăm sóc đầy đủ và có tỉa thưa đã góp phần thúc đẩy sinh trưởngcủa rừng Kết quả đó chứng minh rõ thêm ý nghĩa và vai trò của các biện pháp liên hoàntrong thâm canh rừng trồng

3 Rừng trồng cung cấp gỗ củi

Địa điểm: Long Thành, Đồng Nai

Đất trồng:

Đất xám thoái hoá mạnh, dốc dưới 100

Tầng đất dày trung bình, thực bì trảng cỏ cây bụi

Thời vụ trồng: tháng 6/89 (vụ hè)

Chăm sóc đầy đủ trong 3 năm liền

Kết quả: Theo dõi trên ô định vị theo chương trình đánh giá rừng trồng của dự án trồng rừngcủi trên các vùng sinh thái (dự án VIE/86/027) cho thấy đây là một trong 18 mô hình được bốtrí trên 4 vùng sinh thái của cả nước đạt lượng tăng trưởng hàng năm lớn nhất ở tuổi 5, mứcsinh trưởng, năng suất và sản lượng bình quân thu được là:

Đường kính Chiều cao Năng suất Sản lượng

(cm) (m) (m3/ha/năm) (m3/ha)

8,2 11,5 19,1 95,5

Địa điểm: Tân Tạo, Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

Đất trồng: Đất phèn thoái hoá nhẹ, tầng phèn ở độ sâu dưới 50cm Ngập nước mùa mưa.Cây trồng: Keo lá to (Acacia mangium)

Làm đất: Lên liếp thủ công

Trang 27

Phương pháp trồng: thuần loài bằng cây con có bầu

Mật độ: 1.666 cây/ha (cự ly 3 x 2m)

Phân bón Bón lót 70g NPK tổng hợp cho 1 gốc

Thời vụ trồng: tháng 6/89 (vụ hè)

Chăm sóc đầy đủ trong 3 năm liền

Kết quả: Theo dõi trên ô định vị theo chương trình đánh giá rừng trồng của dự án VIE/86/027nói trên cho thấy mặc dù ở điều kiện đất phèn và bị ngập nhưng nếu đầu tư liên tiếp và bónphân, keo lá to vẫn có mức sinh trưởng tốt ở tuổi 5, các chỉ tiêu sinh trưởng, năng suất, bìnhquân đã đạt được là:

Đường kính Chiều cao Năng suất Sản lượng

4 Rừng trồng cung cấp gỗ lạng

Địa điểm: Lâm trường Krong Ana và lâm trường Đức Lập, Đắc Lắc

Đất trồng: Phát triển trên ba dan, độ dốc dưới 100, tầng đất rất dày, rừng thứ sinh khai tháckiệt

Cây trồng: Tếch

Làm đất: Phát đốt thực bì toàn diện, cày máy toàn diện sâu 40cm

Phương pháp trồng: bằng cây thân cụt 1 năm tuổi

ở Krong Ana: Mật độ 400 cây/ha (cự ly 5 x 5 m)

Trồng xen đỗ xanh, lạc giữa các hàng tếch

ở Đức Lập: Mật độ l.250 cây/ha (cự ly 2 x 4 m)

Trồng hỗn giao theo băng với muồng đen

Thời vụ trồng tháng 6/1983 (vụ hè)

Chăm sóc đầy đủ trong 3 năm liền

Kết quả: Điều tra tăng trưởng của 5 loài cây trồng rừng chính ở Bắc Tây Nguyên phục vụ đềtài Trồng rừng cung cấp gỗ lạng thuộc chương trình Nhà nước 04A cho thấy tếch là loài cây

gỗ lớn, sinh trưởng tốt trên ba loại đất đỏ, phát triển trên đá ba dan, đất đen phát triển trên tup

Trang 28

ba dan và đất đỏ vàng phát triển trên đá granit Tuy nhiên, thích hợp nhất là trên đất badanrừng thứ sinh nghèo kiệt, ở tuổi 5, lượng tăng trưởng của tếch đã đạt được là:

Lượng tăng trưởng bình quân năm đạt 2,8-3,5cm về đường kính và 1,7-2,0m về chiều caonhanh hơn cả lượng tăng trưởng bình quân của keo lá tràm và bạch đàn trồng thâm canh ở cáckhu nguyên liệu giấy như đã thấy ở trên Tếch lại là cây gỗ lớn có giá trị cao làm nguyên liệucung cấp gỗ dán lạng rất tốt và ở giai đoạn sau lượng tăng trưởng dù cho chắc chắn sẽ chậm đinhưng trong vòng 30-40 năm nữa ít nhất cũng đạt được cỡ đường kính như mong muốn tốithiểu là 35 - 40cm đáp ứng được tiêu chuẩn gỗ lạng

Rừng tếch trồng ở Eamat Đắc Lắc trên đất đỏ badan, dốc dưới 50, tầng dày trên 80cm với kỹthuật bình thường sau 28 năm có lượng tăng trưởng bình quân là 9,4 m3/ha/năm cho sản lượng263,2 m3/ha và cỡ đường kính bình quân gần 20cm là căn cứ thực tế cho phép tin tưởng hơn

dự tính nói trên

Đó là chưa kể mức độ đầu tư thâm canh như hiện tại cũng còn rất hạn chế, mới chỉ chọn đượcvùng trồng, đất trồng, mật độ và phương thức trồng phù hợp còn nhiều biện pháp quan trọngkhác, đặc biệt là chọn giống tốt, nếu được đầu tư sử dụng nguồn giống từ những xuất xứ câytrội tốt thì hiệu quả sẽ còn cao hơn nữa

Trang 29

THU HáI, CHế BIếN Và BảO QUảN HạT GIốNG

KS Nguyễn Xuân Liệu

Hạt giống cây rừng là loại vật tư kỹ thuật quan trọng, có giống tốt và đủ giống mới hoànthành được kế hoạch trồng rừng, đảm bảo rừng trồng đạt chất lượng và năng suất cao Phẩmchất hạt giống sẽ được nâng cao nếu thu hái, chế biến, bảo quản trong các điều kiện thích hợpnhất phù hợp với đặc tính sinh vật học của từng loài hoặc từng nhóm loài cây rừng

1 Nhận biết quả, hạt chín và thời vụ thu hái

Những biến đổi sinh hoá bên trong của quả, hạt trong quá trình trưởng thành có những biểuhiện đặc trưng về mặt hình thái, màu sắc, mùi vị tuỳ thuộc vào từng loài cây Dựa vào đó

để xác định thời điểm quả, hạt chín và quy định khoảng thời gian thu hoạch

Nói chung, quả chưa chín thường cứng, có màu xanh, trọng lượng lớn Khi quả chín, màusẫm lại (vàng, nâu hoặc xám ), quả mềm hơn

Thu hái đúng lúc, quả chín rộ sẽ được nhiều hạt giống tốt Nhưng, nếu số lượng thu hái quálớn, diện tích phân bố rộng mà chờ đến lúc toàn bộ quả chín rộ mới thu hái thì có thể bị lỡthời vụ vì hạt bị rơi rụng nhiều do quả đã nứt nẻ, vả lại cũng có những loại hạt không để lâu

được, cần thu hái để sử dụng ngay Trong những trường hợp như thế có thể thu hái sớm vàingày Trong một quần thụ, quả chín không đều, thậm chí ngay trong một cây cũng có cùnghiện tượng ấy Vì vậy, muốn thu được nhiều hạt, phải theo dõi thường xuyên, khi đại bộ phậnquả đã chuyển từ màu xanh sang màu vàng mơ hoặc nâu nhạt thì bắt đầu thu hái là vừa

Đối với những loại hạt thu hoạch bằng cách nhặt dưới đất thì thời vụ thu hái quả, hạt chịu ảnhhưởng của các điều kiện ngoại cảnh như độ cao, sự diễn biến thời tiết trong năm Đối với đa

số loài cây nếu trời nắng to, gió mạnh, khô hanh thì quả, hạt sẽ chín sớm hơn thường lệ.Ngược lại, nếu không khí ẩm ướt, mưa nhiều thì quả, hạt sẽ chín muộn hơn Đó là những điềucần quan tâm khi điều tra, theo dõi quá trình chín của quả, hạt (xem bảng 4 ''Phương pháp thuhái chế biến một số loại hạt giống cây rừng'')

Trang 30

Bảng 4 "Phương pháp thu hái chế biến một số loại hạt giống cây rừng"

- Quả từ màu xanh chuyển sang màu vàng mơ hoặc một phần quả

có màu cánh gián Mắt quả to, mẩy.

- Nhân hạt chắc, màu trắng, cứng.

Hạt có nhiều dầu (có mùi dầu thông đặc trưng)

Trèo lên cây dùng cù nèo, giật từng quả hoặc từng chùm quả

- ủ quả 3 - 4 ngày Chọn quả màu cánh dán đem phơi.

- Hàng ngày thu lấy hạt

- Vò, sàng, sẩy hết tạp vật, thu lấy hạt chắc

- Phơi lại cho khô

30 - 35 (phía Bắc)

65 - 70 (phía Nam)

- Quả chuyển từ màu xanh nhạt sang xanh thẫm, đầu quả màu nâu thẫm, cuống quả mốc trắng.

- Hạt màu nâu, nhân trắng Mày hạt mầu nâu nhạt

Trèo lên cây dùng cù nèo, móc, nạng giật bẻ từng chùm quả, loại bỏ hết lá, cành, nhánh

- ủ quả 1 - 2 ngày thành từng đống cao 30 - 40 cm.

- Phơi 2 - 3 nắng, trên vải bạt, nong, nia (có vải lót)

- Hái cuối vụ, không cần ủ, có thể

đem phơi ngay.

- Phơi quả trong bóng râm hoặc nắng nhẹ, tách lấy hạt đỏ

18 -22

Trang 31

- Ngâm hạt đỏ trong nước sạch 12 giờ, chà nhẹ hết lớp thịt đỏ đãi lấy hạt

đen.

8 Bồ đề 9 - 10 - Quả chuyển từ xanh sang xanh

mốc trắng, xuất hiện những vết nứt rạn Bóp mạnh vỏ quả để tách ra.

- Vỏ hạt cứng, màu đen, có phủ lớp phấn vàng, nhân trắng, có vị đắng

Trèo lên cây dùng cù nèo hái từng chùm quả

- Không tách hạt: hong quả 2 - 3 ngày trong nhà, sau đó bảo quản.

- Tách hạt: xát nhẹ cho vỏ tách ra, sàng, sẩy lấy hạt

C), 2 - 3 giờ vớt ra, tách lấy hạt

- Phơi hạt trong bóng râm hoặc nắng nhẹ cho khô

14 Xà cừ 5 - 6 - Vỏ quả mầu mốc trắng, xám mốc

- Hạt màu nâu nhạt, nhân trắng

nt - Phơi nắng nhẹ cho tách vỏ quả hoặc

đập nhẹ cho vỏ quả tách ra, lấy hạt

- Phơi hạt dưới nắng nhẹ

10 - 12

15 Lát hoa 12 - 1 - Vỏ quả màu xanh xám, nâu sẫm nt - ủ quả thành đống cao 30 -40 cm, 2 15 - 16

Trang 32

- Ngâm quả vào nước sạch, xát, đãi lấy hạt

- Hong hạt cho ráo nước, mang bảo quản ẩm

- Sàng sẩy lấy hạt đem phơi khô

19 Long não 11 - 1 - Quả màu tím than, mềm và thơm

- Hạt có vỏ cứng, nhân trắng và chắc

nt - Ngâm quả vào nước lã cho thịt quả

hoặc từng chùm quả

- Loại bỏ quả nhỏ, quả non, cành, lá

- Phơi dưới nắng nhẹ hoặc hong trong bóng râm, 3 - 4 ngày

15 - 2

- Hạt nâu đen, bóng, cứng

Trèo lên cây dùng cù nèo, nạng, móc, giật từng chùm quả

- ủ cho quả chín đều 2 - 3 ngày

1 - 3 (miền Nam)

- Quả khô, vỏ quả nứt ra màu nâu nhạt

- Hạt màu nâu đen, bóng, rốn hạt màu vàng

Trèo lên cây móc từng chùm quả

- Phơi nắng, 2 - 3 ngày

- Đập nhẹ cho hạt rơi ra hết

Trang 33

(miền Bắc)

2 - 3 (miền Nam)

- Tách hạt khỏi quả bằng tay

- Phơi 3 - 5 ngày trong bóng râm, khô

ráo, thoáng gió

10 - 12

26 Giáng hương 12 - 2 Quả chuyển sang màu nâu - Thu nhặt quả chín,

rụng trên mặt đất

- Trèo lên cây dùng cù nèo hái

- Loại bỏ tạp vật

- Phơi khô dưới nắng nhẹ, tách hạt khỏi vỏ quả, làm sạch hạt

27 Sao đen 4 - 5 - Quả màu nâu, cánh màu nâu đỏ

- Hạt màu xanh lá cây hoặc vàng nhạt

- Rung cây cho quả

chín rụng xuống

- Trèo lên cây dùng cù nèo, móc giật hoặc rung cành cho quả rụng

- Loại bỏ tạp vật, quả nhỏ, quả

xanh

- Dùng tay tách cánh ra khỏi hạt (quả)

- Vỏ hạt màu xám

29 Vên vên 4 - 5 Cánh quả chuyển từ màu vàng

xanh sang màu nâu gỗ ở chóp cánh

30 Trầu 10 - 12 - Quả màu vàng nhạt, thịt quả mềm

- Lớp vỏ ngoài của hạt màu hồng vàng, mềm

- Lớp vỏ trong của hạt màu nâu

đen, cứng, nhân trắng và chắc

- Thu nhặt quả chín, rụng trên mặt đất

- Hái từng quả trên cây

- ủ cho quả chín đều, phơi nơi râm mát, cho quả nẻ

- dùng dao tách lấy hạt

3 - 4

Trang 34

2 Thu hái

Để đảm bảo chất lượng hạt giống, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chế biến, bảo quản vàbảo vệ cây giống phục vụ sản xuất lâu dài, ổn định sản lượng vụ sau, khi thu hái cần chú ý cácnguyên tắc sau:

• Chỉ thu hái những quả đã già, mẩy, không sâu bệnh

• Quả non, xanh và hoa quả của vụ sau cần được bảo vệ

• Không bẻ cành, chặt ngọn cây giống Chỉ hái từng quả (quả to), hoặc chùm quả trênnhững nhánh nhỏ

a Thu nhặt quả, hạt rơi rụng trên mặt đất

+ Quả, hạt rơi rụng tự nhiên: Dọn sạch mặt đất dưới tán rừng trước khi quả chín, thu nhặt quả,hạt ngay sau khị rơi rụng để tránh chim, thú, côn trùng, nấm hại Loại bỏ những quả rơi rụng

do chín ép, sâu bệnh hoặc quả lép Phương pháp này thường áp dụng đối với tếch, quế,huỷnh

+ Đối với những loài cây nhỏ, thấp có thể rung cho quả rụng xuống, Những cây cao có thểquăng dây cuốn vào cành để rung cho quả chín rụng Phương pháp này chỉ áp dụng khi thuhái với số lượng ít

Hình 6 Thu nhặt quả rơi rụng trên mặt đất

Trang 35

b Thu hái trên cây

+ Trường hợp cây nhỏ, cành thấp có thể đứng trên mặt đất dùng tay hái quả hoặc dùng cù nèomóc, giật quả hay dùng kéo cắt cuống quả

+ Phương pháp thông dụng nhất thu hái, quả trên cây là trèo lên cây rồi dùng cù nèo, móc, sào

để móc, đập cho quả hoặc chùm quả rụng xuống Khi trèo lên cây phải dùng một số dụng cụnhư thang, dây trèo, đinh đóng vào thân cây hoặc dùng bộ đồ trèo Khi làm việc trên cây thìphải mang dây an toàn để tránh nguy hiểm và thao tác thuận tiện, thoải mái Chọn vị trí đứngchắc chắn, có tầm bao quát rộng và dễ hoạt động

Hình 7 Thu hái quả trên cây

Nên đứng trên những cành to gần thân cây, nếu phải di chuyển ra xa phải thử trước sức chịu

đựng của cành, đặc biệt đối với các loài cây có cành ròn, dễ gẫy như bồ đề, bạch đàn, dụng cụhái quả (cù nèo, kéo, móc ) nên dùng một sợi dây để đưa lên hạ xuống, không nên mangtheo người trong lúc trèo Hái quả từ trên ngọn xuống để các chùm quả đã hái không bịvướng lại trên cành

Khi thu nhặt quả trên mặt đất, loại bỏ tạp vật, quả sâu, non, thối, lép Chọn quả tốt cho vàobao, sọt, nhanh chóng chuyển về nơi chế biến

Trang 36

3 Vận chuyển qủa đến nơi chế biến

Các phương tiện vận chuyển được quét dọn sạch sẽ, khô ráo, có khung, bạt che mưa, nắng.Thời gian vận chuyển càng nhanh càng tốt

Các loại bao bì đựng quả nên thông thoáng, không khí dễ lưu thông Không nên xếp quả quá

đầy và chồng thành đống quá cao để tránh bí, ngạt và nhiệt độ tăng cao do hoạt động của quátrình hô hấp yếm khí làm cho quả lên men, thối rữa và nấm bệnh xâm nhập Đối với loại quảnang, hạt nhỏ như bạch đàn, quả cây họ đậu nên sừ dụng các loại bao vải để giữ hạt rơi rụngkhi vỏ quả tách ra trong quá trình vận chuyển

Nếu quãng đường vận chuyển ngắn, thời tiết thuận lợi có thể để quả trực tiếp lên sàn xe,nhưng tránh chất đống quả quá dày và làm dập nát quả

Đối với loại quả mà hạt rất nhanh mất sức nảy mầm như sao, dầu cần duy trì độ ẩm nhất

định, tránh ánh sáng mặt trời trực tiếp chiếu vào, giữ độ thông thoáng cần thiết, tránh nhiệt độcao Trong thời gian vận chuyển nên đựng quả trong túi polyetylen (P.E), không đựng quá

đầy, miệng túi được mở ra và xung quanh đục lỗ cho không khí dễ lưu thông

Khi thu hái với số lượng lớn, không thể chỉ thu được toàn quả chín mà còn bao gồm phần lớn

số quả già nhưng chưa chín hoàn toàn Vì vậy phải chọn lựa quả chín để chế biến trước, cònnhững quả chưa chín phải ủ một thời gian cho quả chín đều

Quả được ủ thành từng đống (cao khoảng 30-40 cm) trên nền nhà thông thoáng có mái che,tránh nhiệt độ cao Hàng ngày, trộn đều và chọn dần quả chín để chế biến Nhiệt độ trongphòng được duy trì trong khoảng 25-350C, thấp hơn hoặc vượt quá giới hạn đó đều bất lợi choquá trình chín của hạt

Hình 8 ủ quả

Trang 37

Để đảm bảo chất lượng hạt giống và phơi, tách hạt nhanh chóng, hiệu quả cao, cần chú ý một

số điểm sau:

• Hàng ngày đảo trộn nhiều lần cho các lớp quả khô đều và không khí dễ lưu thông

• Đối với loại hạt có dầu, tránh phơi dưới nắng gắt và tránh trải quả trực tiếp trên sàn ximăng hấp thụ nhiệt quá cao

• Khi lượng nước trong quả còn cao, nên hong quả dưới dàn che hoặc nắng nhẹ

• Hạt đã tách khỏi quả nên thu ngay để tránh ảnh hưởng của nhiệt độ cao Những hạt tách

ra trong một, hai nắng đầu hầu hết là hạt tốt còn hạt tách ra trong những nắng sau, phẩmchất kém hơn, thường có nhiều hạt lép

• Cần bố trí đủ nhân lực và dụng cụ để khi cần thiết có thể che đậy hoặc đưa hạt vào khokịp thời, tránh mưa gió bất thường Đối với quả thông, khi bị ướt, quả nón đang phơi sẽcụp lại, đem phơi lại sẽ khó tách hạt ra và phẩm chất hạt giống bị giảm sút

- Dùng lò sấy

Dùng lò sấy có thể điều chỉnh được nhiệt độ, rút ngắn được thời gian đảm bảo an toàn cho chếbiến, không phụ thuộc vào thiên nhiên, nhưng tốn kém và khó sử dụng, nếu chế biến với sốlượng lớn sẽ khó áp dụng

Nguyên tắc chung của lò sấy là dẫn luồng không khí đã được sấy khô đến một nhiệt độ thíchhợp, cho tiếp xúc với quả trong một thời gian cần thiết Khi quả khô, nẻ, hạt tách ra thì đưa rangoài để tránh tiếp xúc quá lâu với luồng không khí khô nóng Điều quan trọng là phải khốngchế được nhiệt độ và làm cho không khí khô nóng đạt một giới hạn cần thiết theo yêu cầu củatừng loại quả

- Tách lấy hạt bằng tay

Có một số loại quả, hạt không chịu được nhiệt độ cao hoặc phơi nắng không tách thì sau khihong hạt dưới bóng râm, dùng dao hoặc tay tách quả lấy hạt Phương pháp này thường sửdụng đối với bồ đề hoặc có thể áp dụng để tách lấy hạt xà cừ, giáng hương

Bằng các biện pháp tác động trên, sau khi quả tách, một số hạt rơi ra, còn một số khác vẫnnằm trong vỏ quả Vì vậy, phải vò, chà xát hoặc đập nhẹ vào vỏ quả cho hạt rơi ra hết

+ Đối với quả thịt (quả mọng và quả hạch):

Cần chế biến nhanh sau khi quả chín để chống lên men, thối rữa làm hỏng hạt

Dùng nước sạch ngâm cho lớp thịt quả mềm rữa ra, chà xát, rửa sạch, đãi lấy hạt Sau đó,hong hạt nơi râm mát, thoáng gió, đảo hạt thường xuyên rồi đem đi bảo quản hoặc gieo ươm.Tuỳ theo độ dai, cứng của vỏ quả và thịt quả mà thời gian ngâm khác nhau

Đối với loại quả kép (như quả mỡ), cần tách riêng quả đơn rồi mới ngâm, chà sát sạch lớp thịtkhỏi hạt

Trang 38

c Làm sạch hạt

Sau khi lấy hạt ra khỏi vỏ quả, phải tách hạt ra khỏi tạp chất và thành phần khác lẫn vào Tạpchất bao gồm: hạt lép, cánh hạt, mày hạt, cuống hạt, mảnh lá, mảnh vỏ quả, mảnh hạt vỡ, hạtcủa các loài cây khác, sỏi, cát, trứng và xác sâu bọ Mục đích làm sạch hạt để nâng cao độtinh khiết (độ sạch) của hạt, loại trừ mầm mống sâu, bệnh, nấm mốc thường ký sinh trên tạpvật Ngoài ra, đối với một số loại hạt như bạch đàn còn làm giảm khối lượng đáng kể, thuậntiện cho khâu vận chuyển và bảo quản

Tuỳ theo đặc tính của từng loại hạt và các loại tạp chất mà áp dụng một số phương pháp sau

đây:

• Vò xát cho cánh hạt và các tạp vật vỡ ra, có thể cho hạt vào túi vải hoặc bao gai rồi chà sáthoặc đập nhẹ

• Dùng rổ, giần, sàng để lọc

• Sẩy hạt bằng tay, dùng quạt hoặc gió tự nhiên

• Ngâm hạt trong chất lỏng (thường là nước sạch), hạt tốt thường chìm xuống dưới, hạt lép

và tạp vật nhẹ thường nồi lên trên Sau khi vớt hạt ra phải hong khô ngay Phương phápnày thường áp dụng cho các loại quả thịt

Sau khi làm sạch, nếu hạt quá ẩm, phải làm khô, thông thường hạt được phơi nắng với nhiệt

độ khoảng 35-400C hoặc hong hạt nơi thoáng gió, hoặc dùng chất hút ẩm sẽ làm cho hàmlượng nước giảm

5 Bảo quản hạt giống

a Các nhân tố ảnh hưởng đến sức sống của hạt giống trong quá trình bảo quản

Bảo quản hạt giống là việc duy trì sức sống của hạt từ khi thu hoạch đến lúc gieo ươm

Hạt giống là một loại cơ thể sống Giữa hạt và môi trường bên ngoài luôn có hiện tượng trao

đổi chất thể hiện qua các hoạt động sinh lý Hoạt động sinh lý của hạt phụ thuộc vào bản chấtcấu tạo của tùng loại hạt và chịu ảnh hưởng của môi trường bảo quản Sự sống của phôi tronghạt biểu hiện rõ nhất vào quá trình hô hấp, tiêu hao chất dự trữ bên trong Vì vậy, sau mộtthời gian bảo quản, trọng lượng khô của hạt giảm dần, sức sống của hạt cũng giảm dần.Các loại hạt khác nhau có thành phần các chất dự trữ khác nhau, nên thời gian duy trì khảnăng sống cũng không giống nhau Muốn duy trì sức sống hạt giống được lâu dài thì điều cơbản là phải khống chế được các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến quá trình hô hấp, sao chohạt tiêu hao chất dự trữ ít nhất trong thời gian dài nhất, nghĩa là tạo ra một môi trường buộchạt phải kéo dài thời gian ngủ cưỡng bức với cường độ hô hấp giảm tới mức tối thiểu Nhiệt

độ, ẩm độ, và điều kiện thoáng khí là những yếu tố có ảnh hưởng nhiều nhất đến sức sống củahạt giống trong quá trình bảo quản

Trang 39

+ Nhiệt độ tăng thì cường độ hô hấp của hạt cũng tăng Nhiệt độ làm tăng hoạt động của cácmen, đẩy mạnh quá trình chuyển hoá các chất dự trữ trong phôi Do đó, nhiệt độ càng cao,hạt hô hấp càng mạnh, đến một giới hạn nhất định, tế bào bị phân giải và hạt chết Ngược lại,nếu nhiệt độ quá thấp, các mô và tế bào trong hạt bị đông cứng, hạt cũng không hô hấp đượcnữa Vi vậy, phải tìm ra giới hạn nhiệt độ có lợi nhất đối với sức sống của hạt, trong phạm vi

đó hạt vẫn hô hấp với cường độ tối thiểu để duy trì sự sống lâu dài Đối với đa số các loại hạtgiống như thông, bạch đàn, xà cừ, lát hoa, các loài keo nhiệt độ thích hợp để bảo quản lâùdài là 0-50C

+ Độ ẩm của môi trường bảo quản ảnh hưởng đến hàm lượng nước của hạt Hạt giống có khảnăng hấp thụ nước, khả năng này phụ thuộc vào bề mặt và cấu tạo bên trong của hạt và ẩm độcủa môi trường xung quanh Như vậy, ẩm độ của môi trường bảo quản tăng hay giảm sẽ cómột áp lực hơi nước cao hay thấp khiến cho nước có thể xâm nhập vào hạt hay từ hạt thoát rangoài làm cho hàm lượng nước của hạt tăng hay giảm Nước làm cho các tế bào, các loại menhoạt động mạnh, tăng cường các quá trình phân giải các hợp chất hữu cơ thành các chất đơngiản, vì vậy, làm giảm sức sống của hạt

Do đó, sau khi chế biến, điều chỉnh hàm lượng nước của hạt tới một giới hạn thích hợp, trongquá trình bảo quản cần không cho hạt tiếp xúc với không khí Đựng hạt trong chum, vại, bìnhgắn kín, tránh mở nắp khi chưa cần thiết

+ Điều kiện thoáng khí

Nếu nhiệt độ, độ ẩm của môi trường bảo quản cao, đặt hạt trong tình trạng yếm khí sẽ nhanhchóng làm giảm sức nảy mầm Ngược lại, khi nhiệt độ, ẩm độ của môi trường bảo quản hạthấp đến một giới hạn nhất định, đặt hạt trong tình trạng yếm khí sẽ có lợi cho sức sống củahạt

Nếu bảo quản khô, sau khi điều chỉnh hàm lượng nước thích hợp, hạt được đựng trong chum,vại gắn kín (phía trên hạt phủ một lớp tro bếp hoặc vôi bột hút ẩm ) để trong kho có nhiệt độ0-50C

Nếu bảo quản ẩm, khống chế nhiệt độ và ẩm độ của môi trường xung quanh khó thực hiện thìnên giữ hạt ở môi trường ẩm, mát, thông thoáng

Trang 40

Hình 9 Túi, chum, vại dùng để bảo quản

- Kho lạnh (bảo quản khô, lạnh)

Nhiệt độ trong kho được duy trì đều đặn thường từ 0-50C Các dụng cụ chứa hạt được xếptrên giá, thành từng dãy Hạn chế mở cửa kho để tránh thay đổi nhiệt độ

Bảo quản khô được áp dụng cho đa số các loại hạt như bạch đàn, thông, xà cừ, lát hoa, philao, keo, muồng, tếch

• Bảo quản ẩm

Bảo quản ẩm được áp dụng cho các loại hạt tuổi thọ ngắn, đòi hỏi phải có một độ ấm nhất

định mới duy trì được sức nảy mầm (mỡ, bồ đề, quế, long não )

- Bảo quản trong kho thông thường (bảo quản ẩm, mát)

Kho được xây dựng ở nơi mát, thoáng, có nhiệt độ càng thấp càng tốt Hạt được trộn đều vớicát ẩm theo tỷ lệ 1 hạt/2-3 cát ấm (theo thể tích), đánh thành từng luống cao 15-20 cm, bêntrên phủ một lớp cát ấm, xáo trộn theo định kỳ Thường xuyên kiểm tra độ ẩm cát, nếu thấykhô, sàng riêng hạt, làm cát ẩm, trộn đều rồi đánh thành luống, bảo quản tiếp

- Bảo quản trong kho lạnh (bảo quản ẩm lạnh)

Hạt giống có độ ẩm nhất định được đựng trong các thùng sắt, thùng gỗ, đặt trong kho lạnh.Chú ý tạo điều kiện thông thoáng cho hạt nhưng tránh làm hàm lượng nước trong hạt giảm sút

Ngày đăng: 22/08/2013, 10:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.  Mặt bằng khu trang trại lâm nghiệp hộ Quàng Văn Hiến, Bản Hôm - Chiềng Cọ - Sơn La - Kiến thức lâm nghiệp xã hội
Hình 3. Mặt bằng khu trang trại lâm nghiệp hộ Quàng Văn Hiến, Bản Hôm - Chiềng Cọ - Sơn La (Trang 17)
Hình 4.  Mô hình xây dựng - Kiến thức lâm nghiệp xã hội
Hình 4. Mô hình xây dựng (Trang 19)
Hình 5.  Sơ đồ bố trí quy hoạch trang trại hộ Nguyễn Văn Đoàn Khoảnh 2, Lô 4, xã Tiêu Sơn - Kiến thức lâm nghiệp xã hội
Hình 5. Sơ đồ bố trí quy hoạch trang trại hộ Nguyễn Văn Đoàn Khoảnh 2, Lô 4, xã Tiêu Sơn (Trang 20)
Hình 6.  Thu nhặt quả rơi rụng trên mặt đất - Kiến thức lâm nghiệp xã hội
Hình 6. Thu nhặt quả rơi rụng trên mặt đất (Trang 34)
Hình 7.  Thu hái quả trên cây - Kiến thức lâm nghiệp xã hội
Hình 7. Thu hái quả trên cây (Trang 35)
Hình 9.  Túi, chum, vại...  dùng để bảo quản - Kho lạnh (bảo quản khô, lạnh) - Kiến thức lâm nghiệp xã hội
Hình 9. Túi, chum, vại... dùng để bảo quản - Kho lạnh (bảo quản khô, lạnh) (Trang 40)
Bảng 5.  Một số chỉ tiêu chất l−ợng và ph−ơng pháp bảo quản một số loại hạt giống cây rừng - Kiến thức lâm nghiệp xã hội
Bảng 5. Một số chỉ tiêu chất l−ợng và ph−ơng pháp bảo quản một số loại hạt giống cây rừng (Trang 44)
Hình 10.  Xử lý hạt bằng n−ớc nóng - Kiến thức lâm nghiệp xã hội
Hình 10. Xử lý hạt bằng n−ớc nóng (Trang 48)
Hình 11.  Xử lý hạt trám - Kiến thức lâm nghiệp xã hội
Hình 11. Xử lý hạt trám (Trang 49)
Hình 12.  Gieo hạt - Kiến thức lâm nghiệp xã hội
Hình 12. Gieo hạt (Trang 50)
Bảng 7.  Kích thích một số loại giống nẩy mầm - Kiến thức lâm nghiệp xã hội
Bảng 7. Kích thích một số loại giống nẩy mầm (Trang 58)
Hình 14.  Ghép cửa sổ - Kiến thức lâm nghiệp xã hội
Hình 14. Ghép cửa sổ (Trang 61)
Hình 17.  Ghép dán mắt - Kiến thức lâm nghiệp xã hội
Hình 17. Ghép dán mắt (Trang 62)
Bảng 8.  Tóm tắt kỹ thuật ghép một số cây rừng và cây ăn quả - Kiến thức lâm nghiệp xã hội
Bảng 8. Tóm tắt kỹ thuật ghép một số cây rừng và cây ăn quả (Trang 66)
Hình 23.  Các giai đoạn chính của chiết cành - Kiến thức lâm nghiệp xã hội
Hình 23. Các giai đoạn chính của chiết cành (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w