1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

LẬP VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI docx

121 1,1K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lập và Quản lý Dự Án Lâm Nghiệp Xã Hội
Người hướng dẫn ThS. Đỗ Hoàng Sơn
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Lâm nghiệp
Thể loại Tài liệu giảng dạy đại học
Năm xuất bản 2007
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm dự án Trong quá trình phát triển cộng đồng nói chung và phát triển lâm nghiệp xã hội LNXH nói riêng, cấu trúc phổ biến nhất cho những hoạt động phát triển được các đơn vị các

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM PGS.TS ĐẶNG KIM VUI (Chủ biên)

ThS ĐỖ HOÀNG SƠN

LẬP VÀ QUẢN LÝ

DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI

(TÀI LIỆU GIẢNG DẠY ĐẠI HỌC)

NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP

HÀ NỘI - 2007

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Sự nghiệp đổi mới kinh tế và mở rộng quan hệ hợp tác với nước ngoài đòi hỏi phải nhanh chóng tiếp cận những cơ sở lý luận mới về quản lý dự án nói chung và dự

án lâm nghiệp xã hội nói riêng Để thực hiện mục tiêu trên chúng tôi đã tiên hành biên soạn giáo trình "Lập và Quản lý dự án lâm nghiệp xã hội" Đây là một tài liệu được biên soạn dựa trên sự kế thừa, bổ sung và phát triển từ cuốn bài giảng "Quản lý dự án lâm nghiệp xã hội" do tập thể các cán bộ giảng dạy về lâm nghiệp xã hội của 5 trường đại học và một trung tâm khuyên nông khuyên lâm, trong đó có các cán bộ của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên trong khuôn khổ "Chương trình hỗ trợ lâm nghiệp xã hội - giai đoạn 2" (Social Forestry Support Program - 2, viết tắt là SFSP - 2) biên soạn trước đây

Nội dung của cuốn sách gồm có 6 chương:

Chương 1: Khái niệm dự án lâm nghiệp xã hội

Chương 2: Thông tin trong quản lý dự án lâm nghiệp xã hội

Chương 3: Lập dự án lâm nghiệp xã hội

Chương 4: Thẩm định dự án lâm nghiệp xã hội

Chương 5: Tổ chức thực hiện dự án lâm nghiệp xã hội

Chương 6: Giám sát và Đánh giá dự án lâm nghiệp xã hội có sự tham gia

Trong tài liệu, này tính chất "chu trình " của dự án được nhấn mạnh và được sử dụng để phát triển thành các chương trong cuốn sách Nội dung và cách trình bày trong tài liệu nhắm tới đối tượng tà các sinh viên, cán bộ kỹ thuật nông lâm nghiệp Vì vậy, cuốn "Lập và Quản lý dự án lâm nghiệp xã hội " dùng làm tài liệu giảng dạy và học tập cho sinh viên Ngành Lâm nghiệp của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, ngoài ra cũng có thể làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho các sinh viên thuộc các chuyên ngành khác có liên quan đến phát triển nông lâm nghiệp của trường Ngoài ra, các cán bộ lâm nghiệp có thể tham khảo và áp dụng vào thực tiễn sản xuất Trong quá trình biên soạn tập bài giảng trước đây và hoàn thiện cuốn giáo trình này chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến của ngài Pierre - Yves Suter, cố vấn trưởng SFSP - 2; TS Peter Taylor, cố vấn giáo dục và đào tạo; Ruedi Felber, cố vấn về quản lý tài nguyên; TS Batliner, tư vấn về đào tạo; TS Marlene Buchy và các đồng nghiệp tại 4 trường đại học Đại học Nông Lâm Huế, Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Đại học Tây Nguyên và Đại học Nông Lâm Thủ Đức Chúng tôi cũng đã nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của TS Phạm Thị Lý, TS Đinh Thị Lan, TS Lê Sỹ Trung, Ths Trần Công Quân, Ths Nguyễn Văn Mạn là các chuyên gia

có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy và triển khai thực hiện các dự án ngoài thực tế

Trang 3

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ và ý kiến đóng góp quý báu nói trên của các chuyên gia và đồng nghiệp

Trong quá trình biên soạn, mặc dù chúng tôi đã có nhiều cố gắng, nhưng đây là một môn học mới cả về lý luận và thực tiễn nên cuốn sách không thể tránh khỏi những thiên sót nhất định

Chúng tôi rất mong bạn đọc góp ý kiến nhận xét để lần xuất bản sau được tốt hơn

Những ý kiến đóng góp xin gửi về địa chỉ:

Bộ môn Lâm nghiệp xã hội và Phát triển nông thôn

Khoa Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Các tác giả

Trang 4

Chương 1 KHÁI NIỆM DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI

1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIẾM DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI

1.1 Khái niệm dự án

Trong quá trình phát triển cộng đồng nói chung và phát triển lâm nghiệp xã hội (LNXH) nói riêng, cấu trúc phổ biến nhất cho những hoạt động phát triển được các đơn vị các tổ chức thường sử dụng là dự án Hiện nay trong lý thuyết cũng như thực tiễn quản lý tài nguyên thiên nhiên vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về các

dự án Mỗi quan điểm về dự án xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau

Theo Cleland và Keng (1975): Dự án là sự kết hợp giữa các yếu tố về nhân lực

và trí lực trong một thời gian nhất định để đạt được một mục tiêu định trước

Gittinger (1982) đưa ra quan điểm: Dự án là một tập hợp các hoạt động mà ở đó tiền tệ được đầu tư với hy vọng được thu hồi lại Trong quá trình này các công việc kế hoạch, tài chính vận hành hoạt động là một thể thống nhất, được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định

Theo tác giả Vũ Cao Đàm (1999) thì dự án là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và hệ thống một kế hoạch hoạt động kinh tế - xã hội trong tương lai Dự

án là các dạng can thiệp phát triển khác nhau được thiết kế để đạt được các mục tiêu cụ thể nào đó trong một phạm vi ngân sách và tổ chức nhất định

Từ những quan điểm đã nêu về dự án có thể bước đầu đưa ra một khái niệm về

dự án như sau: Dự án là một tập hợp các hoạt động dự kiến có liên quan với nhau, được kế hoạch hoá nhằm đạt được những mục tiêu xác định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng hợp lý các nguồn lực nhất định

Yêu cầu của một dự án:

- Một dự án phải được xuất phát từ nhu cầu giải quyết các vấn đề cụ thể Việc giải quyết các vấn đề này được phản ảnh qua mục đích và mục tiêu

- Mỗi dự án phải có một khung kế hoạch thời gian nhất định với điểm bắt đầu và điểm kết thúc cụ thể nhằm hoàn thành một mục tiêu xác định Đó chính là sự khác biệt của dự án so với các hoạt động bình thường được lặp đi, lặp lại theo một thời gian nhất định

- Việc xác định rõ một dự án được bắt đầu từ việc xem xét các nguồn lực và sử dụng các công cụ quản lý, xác định không gian và thời gian, xác định các mối quan hệ

và đánh giá hiệu quả dự án

Trang 5

- Bộ máy quản lý dự án tồn tại trong thời gian của dự án

Cấu trúc thông thường của một dự án bao gồm:

- Mục đích và mục tiêu: Là dự kiến những kết quả và lợi ích mà dự án mang lại

và đây cũng chính là lý do, hay trọng tâm của dự án tập trung vào giải quyết cái gì mà

dự án cần đạt tới Một dự án phải có các mục tiêu rõ ràng, cụ thể, thực tế và phải có thời hạn kết thúc

- Nội dung các hoạt động của dự án: Đó là các giải pháp về tổ chức kinh tế - kỹ thuật để nhằm đạt được mục tiêu của dự án Các hoạt động của dự án phải liên quan với nhau theo một trật tự thời gian nhất định, chẳng hạn như một công việc chỉ có thể bắt đầu khi một số công việc khác đã kết thúc

- Các nguồn lực để thực hiện dự án Con người, vốn bằng tiền, đất đai và các tài nguyên thiên nhiên khác, phương tiện trao đổi thông tin

- Kết quả dự án: Có thể là những vật chất cụ thể nếu là dự án ứng dụng hoặc dự

án phát triển Có thể chỉ là một bản báo cáo làm cơ sở cho những hoạch định chính

sách nếu là dự án nghiên cứu Các kết quả phải thể hiện rõ những mục tiêu của dự án

Mức độ thực hiện mục đích và mục tiêu của dự án phụ thuộc chính vào ba điều kiện ràng buộc là ngân sách, thời gian thực hiện và kết quả cần đạt

1.2 Khái niệm dự án lâm nghiệp xã hội

Đã từ rất lâu loài người đã biết sống dựa vào rừng để lấy thức ăn, chất đốt, vật liệu xây dựng và do đó họ coi rừng là cái nôi sinh sống của mình Tuy nhiên, mãi đến thế kỷ thứ 17 lâm nghiệp mới trở thành một ngành sản xuất thực sự, bắt đầu ở các nước châu âu, đánh dấu một xu hướng mới trong việc khai thác và tái tạo tài nguyên rừng

Mô hình quản lý lâm nghiệp ở châu Âu được nhân rộng và phát triển ở các châu lục khác cùng với quá trình thuộc địa hoá và còn kéo dài cho đến ngày nay Theo Y S Rao (1990, 1994) lâm nghiệp theo kiểu truyền thống ở châu âu khi áp dụng vào các nước nhiệt đới đã bộc lộ nhiều điều bất cập và dẫn đến tình trạng:

• Tạo nên một màn che hợp pháp giữa con người và rừng dẫn đến nhà nước

Trang 6

quản lý rừng đã trở thành một nỗi ám ảnh lâu dài đối với người dân làm lâm nghiệp

• Quy định các chỉ tiêu khai thác gỗ hàng hoá và tăng số lâm sản lấy ra từ rừng

mà không cần hỏi "vì quyền lợi của ai"

• Khai thác tài nguyên rừng đến mức cạn kiệt trong khi vẫn nêu khẩu hiệu duy trì ổn định về năng suất rừng Điều đó đã gây tình trạng suy thoái rừng rất nghiêm trọng

• Thực hành quản lý rừng bằng các chiến lược, chương trình do các cơ quan Nhà nước vạch ra mà không cần có sự đóng góp của người dân

• Sử dụng người dân như là những người làm công ăn lương đã phủ nhận vai trò làm chủ và hưởng lợi của người dân từ rừng

Ở Việt Nam, tình trạng quản lý từng theo kiểu trên cũng đã kéo dài trong nhiều thập kỷ từ lúc hình thành ngành lâm nghiệp Trong thời kỳ này quyền sở hữu và quản

lý đất đai cũng như tài nguyên rừng đều thuộc về Nhà nước Lâm nghiệp Nhà nước đóng vai trò chủ đạo Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu vẫn dựa vào khai thác gỗ phục vụ cho yêu cầu tại chỗ, trong nước và xuất khẩu đã làm cho tài nguyên rừng bị tàn phá nghiêm trọng, tỷ lệ che phủ giảm sút rất nhanh chóng

Trong những năm gần đây Chính phủ Việt Nam đã có những định hướng chuyển đổi từ nền lâm nghiệp truyền thống sang lâm nghiệp xã hội, lấy người dân làm trung tâm trong các hoạt động quản lý, bảo vệ, xây dựng vốn rừng đồng thời phát triển kinh

tế xã hội, môi trường bền vững trên cơ sở nguồn lực, năng lực của cộng đồng, của ngành, địa phương

Các chính sách, kế hoạch phát triển lâm nghiệp xã hội được cụ thể hoá bằng những chương trình lớn Thực tế trong những năm qua Nhà nước đã và đang triển khai các chương trình lớn góp phần phát triển nông thôn, phát triển lâm nghiệp xã hội như sau:

• Chương trình khuyến lâm từ 1995 - 2000, ngày 16/3/1995

• Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng

• Chương trình hỗ trợ lâm nghiệp xã hội, xã hội hóa nghề rừng, gắn chặt hoạt động lâm nghiệp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

• Chương trình phát triển nông thôn miền núi

• Chương trình xóa đói giảm nghèo

• Chương trình giao đất giao rừng lâu dài cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình…

Trên cơ sở các chương trình nêu trên, nhiều dự án khác nhau được tiến hành ở nhiều địa phương trong cả nước Một số dự án liên quan đến lâm nghiệp xã hội, phát

Trang 7

triển nông thôn bền vững thuộc ngân sách nhà nước, một số dự án được sự tài trợ từ các quốc gia bạn, các tổ chức phi chính phủ, tổ chức môi trường trên thế giới

Các dự án được triển khai bao gồm:

• Dự án chuyển giao công nghệ, phát triển nông lâm nghiệp

• Dự án xây dựng mô hình LNXH

• Dự án xóa đói giảm nghèo

• Dự án định canh định cư

• Dự án xây dựng các vùng đệm của các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia

• Dự án khuyến nông lâm

• Dự án quản lý tài nguyên thiên nhiên, các lưu vực đầu nguồn, các khu phòng hộ

• Dự án giao đất giao rừng

• Dự án điều chế rừng

• Dự án trồng rừng sản xuất, phòng hộ

• Xây dựng mô hình nông lâm kết hợp, sĩ rừng, trang trại

Kết quả của các dự án trên đã và đang góp một phần quan trọng trong đề xuất và hoàn thiện các chính sách phát triển lâm nghiệp, phát triển nguồn nhân lực, thay đổi thái độ của các cơ quan quản lý nhà nước trong thực hiện chuyển đổi sang nền LNXH, đặc biệt là nâng cao được nhận thức của cộng đồng dân cư trong khu vực dự án Đây là các tiền đề để tổ chức lại hoạt động sản xuất lâm nghiệp lấy người dân làm trung tâm, lấy mục tiêu sản xuất bền vững đồng thời với bảo vệ môi trường sống, bảo tồn sự đa dạng sinh học

Từ thực tế trên, khái niệm về dự án LNXH có thể được phát biểu như sau: Dự án lâm nghiệp xã hội là dự án được xây dựng và thực thi phục vụ cho chương trình phát triển lâm nghiệp xã hội với đặc trưng cơ bản là có sự tham gia của người dân vào mọi giai đoạn và mọi hoạt động của dự án

Từ thực tế quản lý cho thấy, dự án lâm nghiệp xã hội phải đảm bảo các yêu cầu sau:

• Dự án được hình thành dựa vào nhu cầu thực tế của các cộng đồng

• Mục đích và mục tiêu của dự án được hình thành trên cơ sở phân tích các vấn

Trang 8

của người dân sống trong và gần rừng

• Cơ cấu tổ chức của dự án tương đối độc lập và vai trò của bộ máy quản lý dự

án phải dược xây dựng trong mối quan hệ với cộng đồng địa phương

• Dựa vào nguồn lực sẵn có ở địa phương như: Kiến thức bản địa, nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, khả năng đầu tư và sự đóng góp của người dân địa phương

1.3 Mục tiêu cơ bản và đặc điểm chung của dự án lâm nghiệp xã hội

Mục tiêu cơ bản:

Trong dự án LNXH các hoạt động quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng muốn dạt được mục đích phát triển bền vững cả về kinh tế - xã hội và môi trường thì phải đảm bảo một số mục tiêu cơ bản sau:

+ Nâng cao nhận thức cho cộng đồng về hiện trạng của mình Để làm được điều

này, các hoạt động đánh giá tình hình thực tế của cộng đồng nhằm xác định dự án phải

có sự tham gia của người dân và cộng đồng địa phương Thông qua sự tham gia này, các thành viên trong cộng đồng có thể hiểu rõ về tình trạng của mình, các vấn đề gây cản trở, các tiềm năng và cơ hội cho phát triển Trên cơ sở hiểu rõ về hiện trạng của mình, cộng đồng và các bên liên quan dễ dàng xác định được tầm nhìn chung, các vấn

đề và nguyên nhân của nó từ đó có thể xác định dự án sát thực

+ Huy động khả năng và nguồn lực của cộng đồng tham gia vào các hoạt động

dự án Điều này có nghĩa là các dự án LNXH hướng tới mục tiêu bền vững, thông qua việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực lao động, đất đai, vốn, kiến thức bản địa Dự

án chủ yếu tư vấn kỹ thuật và hỗ trợ các nguồn lực cần thiết cộng đồng không có hoặc không đủ đảm bảo cho thực hiện các hoạt động dự án

+ Dự án tổ chức xây dựng được các hoạt động tự hỗ trợ cho cộng đồng Thông

qua các hoạt động của dự án, các thành viên trong cộng đồng và các bên liên quan khác có những hoạt động trao đổi, chia sẻ thông tin, chia sẻ các kinh nghiệm Các nhóm nông dân có cùng mong muốn,

và xây dựng năng lực cho cộng đồng

Đây là một mục tiêu quan trọng đảm

bảo tính bền vững của dự án Khi cộng

đồng được kiện toàn về mặt tổ chức và

nâng cao kỹ năng nhất là kỹ năng lập

Trang 9

kế hoạch, tổ chức thực hiện và duy trì kết quả thế họ sẽ tích cực chủ động trong mọi hoạt động phát triển kể cả khi không còn sự hỗ trợ từ phía dự án

Đặc điểm chung của dự án lâm nghiệp xã hội:

Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm khác nhau về dự án và dự án lâm nghiệp xã hội, có thể rút ra những đặc điểm chung của một dự án lâm nghiệp xã hội như sau:

- Dự án được xây dựng với mục đích phục vụ cho chương trình phát triển lâm nghiệp xã hội nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và nâng cao đời sống cho người dân sống trong và gần rừng

- Trong cách tiếp cận dự án có nhấn mạnh đến sự tham gia của các bên liên quan, đặc biệt là đề cao vai trò của người dân và cộng đồng địa phương trong quá trình thực hiện các hoạt động của dự án

- Dự án thường được xây dựng và thực hiện ở các vùng rừng núi, vùng đồng bào dân tộc ít người đang có nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng rất yếu kém, trình độ dân trí thấp, khả năng đầu tư của người dân cho sản xuất hạn chế Người dân tại các vùng này thường có mức sống thấp, đói nghèo, sống phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng

- Dự án hạn chế tối đa việc sử dụng nguồn lực từ bên ngoài, thay thế vào đó là sử dụng chủ yếu nguồn lực tại chỗ kết hợp với kinh nghiệm, kiến thức bản địa của cộng đồng

- Dựa vào đặc điểm sinh thái nhân văn của vùng: Dự án được hình thành trên cơ

sở nhu cầu nguyện vọng của cộng đồng Kế hoạch dự án được xây dựng với sự tham gia của người dân và cộng đồng địa phương, đảm bảo phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng

- Quy mô của dự án thường nhỏ cấp xã, thôn/bản… Một thực tế là do điều kiện địa hình, điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù nên các cộng đồng dân tộc vùng miền núi thường sống theo các cụm dân cư xóm, bản với những nét đặc trưng riêng Vì vậy các

dự án LNXH muốn đảm bảo tính thực tiễn, phù hợp với đặc điểm sinh thái nhân văn của vùng phải là các dự án nhỏ

Với các đặc điểm của dự án LNXH và để đạt được mục tiêu phát triển LNXH ở các cộng đồng, người dân phải là đối tượng chính tham gia vào tất cả các bước trong tiến trình lập và thực hiện dự án và là người hưởng lợi chính từ dự án Người dân tham gia vào tất cả các khâu công việc từ việc thảo luận xác định các vấn đề nghiên cứu, đánh giá lựa chọn những vấn đề, phân tích vấn đề ưu tiên, xác định những thuận lợi và khó khăn để đưa ra giải pháp dự kiến, lập kế hoạch dự án, thực hiện, giám sát, đánh giá và quản lý dự án

Để người dân thực sự tham gia vào tiến trình lập dự án cần có những phương pháp tiếp cận, thúc đẩy thích hợp Đồng thời hình thành một cơ chế tổ chức dự án thích hợp do cộng đồng đảm nhiệm, các bên tham gia chỉ đóng vai trò chia sẻ kinh

Trang 10

nghiệm, thúc đẩy tư vấn và làm cầu nối giữa cộng đồng với các cơ quan có liên quan trong suốt quá trình

1.4 Cách tiếp cận trong quản lý dự án LNXH

Các đặc điểm của dự án LNXH đã trình bày trên cho thấy việc quản lý các dự án LNXH đòi hỏi một cách tiếp cận đặc thù là giải quyết mối quan hệ giữa kế hoạch/chương trình vĩ mô với các dự án cụ thể ở địa phương Điều này dẫn đến 02 cách tiếp cận:

Cách 1: Từ trên xuống, cách này cho rằng những quyết định chính trong hệ

thống kế hoạch phải do cấp quốc gia đảm nhiệm, áp đặt từ trên xuống thành các chỉ tiêu kế hoạch định sẵn

Cách 2: Từ dưới lên, cách này cho rằng một kế hoạch thực tế nhất phải là những

kế hoạch được lập nên bởi cộng đồng, địa phương

Trong thực tiễn phát triển LNXH đòi hỏi có sự phối hợp giữa 2 cách nói trên:

+ Điều này có nghĩa là các dự án LNXH đều liên quan đến kế hoạch vĩ mô, kế

hoạch ngành lâm nghiệp trong định hướng phát triển LNXH, nhằm khâu nối vào trong các hoạt động của dự án các mục tiêu và ưu tiên quốc gia, của ngành, của vùng

+ Mặc khác dự án LNXH muốn đạt được sự tham gia tối đa của người dân và

cộng đồng địa phương, phải chú ý tới nhu cầu, năng lực, truyền thống, tập quán của người dân Bên cạnh đó dự án cũng phải cung cấp những thông tin cần thiết để cộng đồng tham gia tích cực vào các hoạt động của dự án

Trang 11

1.5 Các nguyên tắc cơ bản của dự án lâm nghiệp xã hội

Để đạt được mục tiêu của mình, các dự án phải đảm bảo đầy đủ các nguyên tắc

cơ bản sau đây:

1.5.1 Đảm bảo tính khoa học của dự án

Đây là một nguyên tắc cực kỳ quan trọng mà các dự án phải chú ý đầu tiên Nguyên tắc này đòi hỏi các dự án phải:

- Đảm bảo phù hợp với các quy luật khách quan

- Tiếp cận được các tiến bộ mới của khoa học kỹ thuật

- Thu thập, tính toán và xử lý đầy đủ, chính xác các thông tin cần thiết, đảm bảo các cân đối thiết yếu trên các mặt

- Thu hút được sự quan tâm của nhiều đối tượng trong quá trình xây dựng và thực hiện, trong đó đặc biệt chú ý đến sự tham gia của những người thực hiện và hưởng lợi từ dự án

1.5.2 Đảm bảo tính thực tiễn của dự án

Đây là một nguyên tắc rất quan trọng đối với tất cả các dự án, nhằm đảm bảo cho

dự án có khả năng được thực hiện trong thực tiễn Để đảm bảo tính thực tiễn, các dự

án phải:

- Đánh giá chính xác các yếu tố khách quan và chủ quan

- Dự kiến đầy đủ các biến động của các yếu tố bên trong và bên ngoài dự án

- Xem xét toàn diện các khả năng về các nguồn lực cho dự án và nhu cầu về đầu

cứ pháp lý vững chắc Để đảm bom nguyên tắc này, các dự án phải:

- Phù hợp với các chính sách của Nhà nước

- Không vi phạm các điều cấm của pháp luật

- Thực hiện đầy đủ các yêu cầu của pháp luật trên tất cả các mặt và trong tất cả các giai đoạn của dự án

Đối với những dự án quốc tế, còn phải tìm hiểu kỹ các quy định quốc tế chung có liên quan đến dự án

Trang 12

- Đảm bản sự thống nhất trong một tổng thể chung giữa mục tiêu dự án, kết quả

dự án các nguồn lực dự án và kế hoạch triển khai thực hiện dự án

1.6.1 Phân loại dự án theo phạm vi hoạt động

Căn cứ vào phạm vi hoạt động, dự án được chia thành các cấp độ khác nhau như sau:

• Cấp quốc gia

• Cấp vùng

• Cấp tỉnh/huyện

• Cấp cộng đồng

1.6.2 Phân loại dự án theo mục tiêu

Cách phân loại này phân chia các dự án theo các mục tiêu chủ yếu của nó như:

• Dự án sản xuất kinh doanh: Là dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh với mục tiêu là thu lợi nhuận Đây là loại dự án tương đối phổ biến, áp dụng trong các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế loại dự án này có quy mô, đặc điểm rất phong phú,

đa dạng

• Dự án không phải sản xuất kinh doanh: Thường là những dự án đầu tư với mục tiêu nghiên cứu hoặc hỗ trợ cho sự nghiệp phát triển toàn diện kinh tế - xã hội trên từng địa bàn Đây là loại dự án có nội dung và quy mô rất phong phú như: Dự án phát triển cơ sở hạ tầng; dự án phát triển y tế, giáo dục; dự án xoá đói giảm nghèo, định canh định cư; dự án về bảo vệ và phát triển các di sản văn hoá; các dự án nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ.v.v

Trang 13

1.6.3 Phân loại dự án theo quy mô đầu tư

Đây là cách phân loại căn cứ vào quy mô của dự án, trong đó chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá quy mô là tổng mức đầu tư theo từng lĩnh vực

Theo điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản hiện nay ở Việt Nam thì các dự

án được chia làm 3 nhóm: A, B, C như sau:

- Trên 50 tỷ đồng Việt Nam hoặc trên 5 triệu USD đối với các ngành còn lại

- Đầu tư khôi phục, mở rộng, đổi mới kỹ thuật và công nghệ có mức vốn đầu tư bằng 70% so với các mức quy định trên

• Dự án nhóm B (Dự án trung bình), có tổng vốn đầu tư ở mức

- Từ 25 đến 200 tỷ đồng Việt Nam hoặc từ 2,5 đến 20 triệu USD đối với các ngành: Điện lực, công nghiệp nặng, nhiên liệu, xi măng, giao thông, thuỷ lợi

- Từ 15 đến 100 tỷ đồng Việt Nam hoặc từ 0,5 đến 10 triệu USD đối với các ngành: Kỹ thuật điện, điện tử, hoá chất, công nghiệp nhẹ, chế biến nông lâm sản, sản xuất lâm nghiệp

- Từ 5 đến 50 tỷ đồng Việt Nam hoặc từ 0,5 đến 5 triệu USD đối với các ngành còn lại

• Dự án nhóm C (Dự án nhỏ), bao gồm các dự án không thuộc các đối tượng trên Ngoài các phương pháp phân loại trên, các dự án còn có thể được phân loại theo một số phương pháp khác tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu cụ thể

2 CHU TRÌNH DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI

2.1 Khái niệm chu trình dự án lâm nghiệp xã hội

Dự án gồm có nhiều giai đoạn khác nhau Toàn bộ quá trình đó gọi là chu trình

dự án Chu trình dự án nói chung phản ảnh các giai đoạn chính cần phải tiến hành trong công tác quản lý dự án từ lúc hình thành ý tưởng cho dấn khi dự án kết thúc Tuy nhiên, tuỳ theo tính chất của từng loại dự án và phương thức quản lý khác nhau mà chu trình dự án còn có thể minh hoạ theo nhiều cách khác nhau

Như đã phân tích trong nội dung trước, một dự án LNXH phải xuất phát từ sự phân tích nhu cầu cộng đồng và kết thúc của nó là bắt đầu cho một tiến trình phát triển

Trang 14

mới Mỗi giai đoạn trong chu trình đều có tính độc lập tương đối và có thể nhận biết dựa vào các kết quả chính của nó, đồng thời các giai đoạn này tuân theo một trình tự xác định, trong đó kết quả của giai đoạn trước là tiền đề cho các hoạt động của giai đoạn sau Trình tự của các giai đoạn không phải là một đường thẳng, mà thường có các dòng thông tin phản hồi giữa các giai đoạn khác nhau Hoạt động trong giai đoạn trước hoàn thành làm tiền đề cho việc tiến hành thực hiện các hoạt động của giai đoạn sau, giữa các giai đoạn kế tiếp mang tính chất kế thừa kết quả của nhau

Có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân biệt các giai đoạn, tuy nhiên nhìn chung nhiều tác giả nhất trí với chu trình dự án LNXH theo sơ đồ ở sơ đồ 1.3

Mỗi giai đoạn trên đây có những mục tiêu nhất định cần phải đạt được và đòi hỏi

có những hoạt động cụ thể mà các bên tham gia cần hợp tác để thực hiện Cụ thể mục tiêu và các hoạt động chính trong từng giai đoạn được thể hiện tại bảng 1.1

Bảng 1.1 Mục tiêu và các hoạt động trong các giai đoạn của chu trình

dự án LNXH

Giai đoạn Mục tiêu cần đạt Các hoạt động chính

Đánh giá nhu cầu

+ Mô tả tình hình của

địa phương

+ Xác định các vấn đề

chủ yếu và các giải pháp

+ Mô tả thực trạng cộng đồng + Phân tích nguồn lực và các vấn đề + Sắp xếp thứ tự ưu tiên các vấn đề + Lựa chọn vấn đề

+ Đề xuất giải pháp

Trang 15

Thiết kế và Lập kế

hoạch dự án

Có một văn kiện dự án khả thi

+ Phân tích vấn đề dự án sẽ giải quyết Đảm bảo

các bên liên quan có sự hiểu biết chung về vấn đề

+ Cam kết thực hiện dự án + Phân bổ nguồn lực và phương tiện để thực hiện

các hoạt động trong kế hoạch

+ Xác định các chỉ số chính + Xác định lịch trình giám sát và đánh giá dự án + Viết văn kiện dự án

Thẩm định dự án

Văn kiện dự án được các cấp thẩm quyển, nhà tài trợ phê duyệt

+ Xác định các tiêu chí thẩm định + Thực hiện các thủ tục cần thiết cho việc thẩm

sở vật chất tài nguyên

+ Tham gia vào các khóa tập huấn phù hợp + Thăm các dự án khác để học hỏi kinh nghiệm

* Giám sát + Theo dõi tiến độ thực hiện dự án và những kết

quả đã đạt được

+ Xác định vấn đề và những khó khăn trong quá

trình thực hiện và giải quyết những vấn đề và khó khăn đó

+ Rút ra các bài học

làm cơ sở cho tiến trình phát triển tiếp theo

+ Đánh giá xem dự án có đạt được mục đích, mục

tiêu đề ra không (đánh giá nội bộ)

+ Đánh giá tác động của dự án đến cộng đồng + Đưa ra gợi ý, kiến nghị về tương lai của dự án:

Trang 16

Bảng1.2 Mục tiêu cụ thể các bên liên quan cần đạt được trong

chu trình dự án LNXH

Giai đoạn Mục tiêu các bên liên quan cần đạt được vào cuối giai đoạn

Đánh giá nhu cầu

+ Hiểu được các vấn đề, những tiềm nâng và nguồn lực của cộng đồng + Hiểu được hậu quả của từng vấn đề đã xác định đối với cộng đồng + Sắp xếp thứ tự ưu tiên cho các nhu cầu và các vấn đề cần giải quyết

Thiết kế và lập kế

hoạch dự án

+ Nhận trách nhiệm cụ thể trong dự án + Phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án + Chia sẻ sự hiểu biết về mục đích mục tiêu và kể hoạch của dự án + Sở hữu dự án

Thực hiện và giám

sát dự án

+ Đạt được những cải thiện về cuộc sống cộng đồng như đã xác định

trong mục đích và mục tiêu của dự án

+ Nâng cao năng lực quản lý

Đánh giá dự án

+ Đánh giá tác động của dự án đối với chất lượng cuộc sống của cộng

đồng (và trả lời câu hỏi: Cộng đồng đang ở giai đoạn nào?)

+ Đánh giá tác động của dự án đối với năng lực quản lý của cộng đồng + Quyết định hường đi của dự án trong tương lai

2.2 Nội dung công tác quản lý trong chu trình dự án LNXH

Quản lý dự án là một loạt các hoạt động diễn ra có tính chu trình từ việc phân tích vấn đề và phát hiện dự án, thiết kế các thành phần chính của một dự án, tổ chức thực hiện dự án đến việc theo dõi giám sát và đánh giá dự án

Như đã nêu, chu trình dự án gồm nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn đều

có nội dung cụ thể khác nhau, vì thế công tác quản lý cũng phải có các nội dung và phương pháp khác nhau Trên góc độ quản lý, có thể xếp các giai đoạn trong chu trình

dự án vào 3 bước sau đây:

• Bước chuẩn bị dự án: Đây là bước đầu tiên của chu trình dự án, nội dung cơ

bản của công tác quản lý trong bước này bao gồm:

- Tổ chức ban chuẩn bị dự án, thu thập các thông tin cần thiết ban đầu, tìm hiểu các cơ hội đầu tư

- Tổ chức các hoạt động khảo sát, đánh giá tình hình thực tiễn, thu thập và phân tích các thông tin trên các mặt khác nhau để xác định triển vọng của cơ hội đầu tư

- Tổ chức soạn thảo văn bản dự án tiền khả thi

- Tổ chức trình duyệt bước đầu bản dự án tiền khả thi

- Tổ chức soạn thảo văn bản dự án khả thi

- Tổ chức thẩm định và phê duyệt dự án

Trang 17

Công việc quản lý ở bước này có thể do tổ chức chủ đầu tư trực tiếp tiến hành hoặc thuê khoán một tổ chức phù hợp thực hiện

• Bước thực hiện dự án: Đây là bước quan trọng nhất, quyết định sự thành

công của dự án Nội dung quản lý dự án trong bước này bao gồm:

- Thành lập ban quản lý dự án

- Tổ chức công tác thiết kế chi tiết từng hạng mục

- Tổ chức đàm phán, ký kết các hoạt động thầu khoán cho từng hạng mục của dự

án với các đối tác có năng lực

- Tổ chức triển khai thi công các hạng mục của dự án

- Tổ chức công tác giám sát các hoạt động của dự án

- Tổ chức nghiệm thu các hạng mục hoàn thành

Các hoạt động quản lý ở bước này chủ yếu thuộc về trách nhiệm của ban quản lý

dự án và cơ quan chủ đầu tư

• Bước đánh giá và vận hành kết quả dự án: Đây và bước đánh giá kết thúc

dự án và đưa các hạng mục của dự án đi vào hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đặt ra của dự án Nội dung công tác quản lý ở bước này bao gồm:

- Xây dựng bộ máy để trực tiếp vận hành các kết quả đã hoàn thành của dự án, đưa các hạng mục vào hoạt động

- Tổ chức giám sát các hoạt động của dự án

- Tổ chức đánh giá cuối cùng dự án

Các hoạt động quản lý ở bước này có thể do ban quản lý dự án trực tiếp thực hiện, hoặc có thể chuyển giao cho một bộ phận vận hành riêng nằm dưới sự giám sát của ban quản lý dự án

Tuy nhiên, trong dự án LNXH nhấn mạnh tới sự tham gia của các bên liên quan, nên quản lý dự án LNXH được hiểu là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, theo dõi giám sát và đánh giá có sự tham gia của các bên liên quan, đặc biệt nhấn mạnh đến sự tham gia tích cực của người dân nhằm quản lý và sử dụng tài nguyên rừng một cách tổng hợp và bền vững

Trang 18

Câu hỏi thảo luận chương 1

1 So sánh những điểm giống và khác nhau giữa dự án đầu tư phát triển LNXH với dự án đầu tư xây dựng và với dự án nghiên cứu cơ bản?

2 Dự án nói chung và dự án LNXH nói riêng có những điểm khác nhau nào so với các hoạt động thông thường?

3 Mục tiêu cơ bản và cách tiếp cận của dự án LNXH có những khác biệt gì so với các dự án phát triển khác? Tại sao?

4 Giữa các giai đoạn trong chu trình dự án LNXH có mối liên hệ với nhau như thế nào? Hãy thảo luận xem giai đoạn nào là giai đoạn quan trọng nhất và tại sao?

5 Dự án LNXH cần phải đảm bảo những nguyên tắc nào Hãy lấy một dự án LNXH cụ thể để thảo luận xem nó có đảm bảo những nguyên tắc đã nêu hay không?

6 Cùng nhau thảo luận xem tại sao dự án LNXH lại đặc biệt nhấn mạnh đến sự tham gia của người dân và cộng đồng địa phương vào mọi giai đoạn và mọi hoạt động của dự án?

Trang 19

Chương 2 THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ DỰ ÁN LNXH

1 THÔNG TIN TRONG CHU TRÌNH DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI

1.1 Các khái niệm về kiến thức, thông tin và dữ liệu

Gắn liền với cơ chế của sự học tập và các khái niệm kiến thức, thông tin và dữ liệu Tìm kiếm những định nghĩa quy nạp và để thống nhất về chúng là một công việc phức tạp vì chúng ta phải đi vào những vấn đề có tính chất triết học Trong phạm vi môn học này, chúng ta sẽ sử dụng một cách tiếp cận trực tiếp hơn, xem dữ liệu là một tập hợp về các quan trắc được ghi chép theo một hình thức nào đó, chúng có thể là định tính hay định lượng; còn kiến thức là kết quả của một sự suy diễn các dữ liệu, độc lập với người suy diễn; và thông tin là một khái niệm bao gồm một biến trạng liên tục

từ dữ liệu cho đến kiến thức (Dixon et al., 1 999) Sơ đồ 2.1 giúp phân biệt thông tin,

dữ liệu và kiến thức với sự nhận thức của con người Trong sơ đồ này, nhận thức là kết quả, là quá trình hoạt động trí tuệ để xử lý thông tin có tính chất chuyên biệt đối với từng cá nhân khi suy diễn thông tin, dữ liệu và kiến thức

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ thể hiện thông tin như là một biến trạng liên tục mà dữ liệu và kiến

thức là hai đầu (Dixon et al., 1999)

Khi đặt thông tin như là một yếu tố của quá trình học tập, chúng ta đã thấy vai trò của nó Tuy nhiên, điều chúng ta cần là những phát biểu cụ thể hơn: Thông tin được dùng làm gì và như thế nào trong các hoạt động thực tiễn của chúng ta? Hãy tự đặt mình vào vai trò của một người làm công tác quản lý dự án và hãy tự đặt câu hỏi: Tại sao chúng ta cần thông tin? Những gì được liệt kê sau dây chỉ là một số lý do chính:

Các lý do tại sao chúng ta cần thông tin:

• Chúng ta cần thông lin để có những quyết định đúng đắn

• Có một số vấn đề mà chúng ta phải giải quyết

Trang 20

• Chúng ta cần thông tin để lập kế hoạch

• Chúng ta muốn biết tại sao một việc gì đó không dạt được kết quả tốt

• Chúng ta muốn biết tại sao có một việc nào đó được tiến hành lốt

• Chúng ta cần xác minh ý tưởng và cảm nhận về một tình huống cụ thể

Tất cả các lý do nêu trên đều cho thấy thông tin cần thiết cho việc ra quyết định Nói theo lý thuyết entropy, thông tin làm giảm độ bất định của hệ thống

1.2 Thông tin trong chu trình của dự án

Trong các giai đoạn khác nhau trong chu trình của một dự án, để quản lý tốt chúng ta phải trả lời câu hỏi: Chúng ta cần các thông tin nào? Việc tìm cách trả lời câu hỏi này càng cụ thể càng thuận lợi cho công tác quản lý dự án Để làm được diều này, chúng ta hãy cố gắng suy nghĩ xem quyết định quan trọng nhất trong các giai đoạn khác nhau của dự án là gì? Chúng ta (bao gồm cả nhà nghiên cứu và các thành viên của cộng đồng) thực sự muốn biết điều gì? Vấn đề chính là gì? Những câu hỏi cụ thể nào cần được trả lời? v.v

Chúng ta không kỳ vọng

là ngay lúc này chúng ta có thể

có một bảng liệt kê nhu cầu

thông tin đầy đủ và chi tiết cho

các giai đoạn khác nhau của dự

án Trong quá trình học tập các

chương tiếp theo chúng ta sẽ

dần dần thấy rõ hơn các loại

thông lin trong từng giai đoạn

Trang 21

Bảng 2.1 Một số loại thông tin mà nhà nghiên cứu và cộng đồng có thể cần trong

chu trình dự án LNXH

Nhà nghiên cứu Cộng đồng Giai đoạn

Thông tin Lý do cần có Thông tin Lý do cần có Đánh giá nhu

cầu cộng

đồng

Các vấn đề mà cộng đồng đang gặp phải

Giải thích và tìm nguyên nhân

Các khó khăn và vấn đề

ưu tiên cần giải quyết

Tham gia vào quá trình quyết định Thiết kế và

Lập kế hoạch

dự án

Các nguồn lực/tiềm năng của cộng đồng

Các phương án

Có thể phát huy tiềm lực như thế nào để phát triển cộng đồng

Mục tiêu của dự án

Sự đóng góp của cộng

đồng

Dự án đáp ứng thế nào đối với

sự mong đợi của cộng đôngThực hiện

các hoạt động

Những khó khăn

và trở ngại trong việc thực hiện

Thúc đẩy việc thực hiện

Những khó khăn và trở ngại trong việc thực

hiện

Thúc đẩy việc thực hiện

Giám sát các

hoạt động

Các nguồn lực đã được sử dụng

Tiết kiệm nguồn lực

chất lượng của các hoạt

động

Sử dụng nguồn lực của dự án

có hiệu quả nhất.Đánh giá dự

án

Tnh hình trước và sau khi thực hiện các hoạt động

Đánh giá hiệu quả và tìm khả năng nhân rộng

Tnh hình có và không có

dự án

Đánh giá hiệu quá

Những điều chúng ta cần lưu ý trong suốt chu trình dự án

• Chúng ta cần nhiều thông tin để giải thích và ra quyết định

• Có một loạt thông tin được lluul thành ngay trong tiến trình của dự án và

• Thông tin trong giai đoạn trước được sử dụng trong giai đoạn sau

• Ngoài ra, chúng ta cũng lưu ý rằng thông tin có thể được nắm giữ, tiếp cận và

sử dụng một cách khác nhau bởi những nhóm người liên quan khác nhau đối với một

dự án cụ thể

Yếu tố sau cùng có liên quan đến vấn đề trách nhiệm giải trình (accountability) của những người ngoài đối với các cộng đồng địa phương nơi thực hiện các dự án

1.3 Các yêu cầu của thông tin

Chúng ta đã thấy rằng thông tin là một khái niệm quan trọng vì các dự án thường bắt đầu bằng các thông tin, được thẩm định, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và đánh giá bằng các thông tin Những người làm công tác phát triển các dự án lâm nghiệp xã hội đòi hỏi một số lượng thông tin khác nhau trong từng giai đoạn khác nhau Chúng ta sẽ dành vài phút để thảo luận về các yêu cầu của thông tin bằng cách trả lời câu hỏi: Thế nào là một thông tin tốt?

Trang 22

Những thuộc tính liên quan đến chất lượng của thông tin:

• Tính đầy đủ

• Độ tin cậy và không thiên lệch

• Tính kịp thời và cập nhật

• Mức độ liên quan với vấn đề mà chúng ta quan tâm

• Tính truyền thông được

• Tính kinh tế của quá trình thu thập và phân tích thông tin

Bảng 2.2 cung cấp một số điều giải thích tóm tắt về các tính chất đó

Bảng 2.2 Các yêu cầu của thông tin

Thuộc tính Giải thích và bình luận

Đầy đủ

(complete)

Nhà nghiên cứu và quản lý nào cũng mong muốn có đầy đủ thông tin

về vấn đề mình đang quan tâm để có thể đưa ra các kết luận và quyết định đúng đắn Vì vậy trong nghiên cứu và quản lý cần phải thu thập tất cả những thông tin cần thiết cho dù là rất nhỏ và ít quan trọng

Tin cậy (rellable) Các thông tin này phải đáng tin cậy vì chúng được sử dụng trong quá

trình quyết định của chúng ta

Không thiên lệch

(unblased)

Sự thiên lệch vì các yếu tố chủ quan hay tính đại diện làm cho thông tin không còn đáng tin cậy nữa

Kịp thời (timely) Thông tin kịp thời sẽ giúp đưa ra các quyết định kịp thời, nhất là trong

tình huống có sự biến đổi nhanh chóng trong hệ thống

Cập nhật (update) Quyết định dựa trên các thông tin cổ lỗ thì thà rằng võ đoán còn hơn Liên quan

(relevant)

Chúng ta không thể bị choáng ngợp trong biển thông tin của thời đại của sự bùng nổ thông tin cần phải biết chọn lọc cái chúng ta cần quan tâm trước

Kinh tế (cost

effective)

Mọi thông tin đều có giá của nó nhưng ta không muốn có thông tin với bất cứ giá nào; điều này cũng có nghĩa là phải biết "tiết kiệm" thông tin

Truyền thông

(communicable)

Nếu không truyền thông được thì còn gì là thông tin, nhất là trong điều

kiện có nhiều nhóm liên quan khác nhau

Yêu cầu về độ tin cậy: Nhà nghiên cứu chỉ tin cậy các thông tin khi chúng được

chứng minh hay kiểm tra Trong công tác thẩm định nông thôn, cần phân biệt bản chất của nguồn tin liên quan đến mức độ tin cậy Về khía cạnh này, ta có thể phân chia thông tin theo bản chất như sau:

+ Sự kiện (fact): Thông tin về sự kiện là thông tin khách quan: một công việc

được thực hiện, một hiện tượng xẩy ra, một bằng chứng được trình bày như là hiện

Trang 23

thực khách quan

+ Quan niệm (opinion): Đây là những thông tin chủ quan của nguồn cung cấp tin

một quan điểm, tư duy, sự lượng định về một vấn đề Các tầm mức của quan niệm từ cao đến thấp là sự hiểu biết về một vấn đề, sự tin tưởng vào một phát biểu và sự cảm nhận về vấn đề đó Đối với các thông tin về quan niệm, tính chủ quan của nó đòi hỏi sự thận trọng để tránh sự thiên lệch

+ Nghe nói (hear - say): Điều mà người được phỏng vấn nghe từ một người khác

là một thông tin còn mơ hồ và dĩ nhiên là cần phải kiểm tra Tuy vậy, nó cũng chỉ thị

về một hướng cần tìm kiếm và một số vấn đề cần được làm sáng tỏ

+ Suy diễn (inference): Thông tin kết quả từ một sự suy diễn logic, nghĩa là

chuyển từ một sự kiện, mệnh đề hay quan niệm được cho là đúng sang một mệnh đề khác được tin là đúng Suy diễn là việc cần thiết để làm phong phú thông tin, với điều kiện mô hình logic áp dụng là đúng

+ Giả định (assumption): một phát biểu được giả thiết là đúng nhưng chưa được

chứng minh Lập các giả định đúng sẽ cho phép định hướng quá trình tìm kiếm thông tin và đi đến sự thực Tuy nhiên, điều nguy hại có thể xẩy ra sự nhảy vọt từ giả định sang kết luận một cách vội vã

Dù là bằng phương pháp thu thập thông tin nào, người ta cũng không thể xem một điều được nghe nói tới ngang bằng với một sự kiện được xác nhận, bởi vì "trăm nghe không bằng mắt thấy Người ta cũng không thể đồng hóa một giả định như là một

sự thật Người sử dụng thông tin cũng phải thật thận trọng trong việc xử lý các thông tin suy diễn bằng cách xem xét mô hình logic của sự suy diễn Các mô hình logic này

có thể sai khác theo các xã hội khác nhau, ở các không gian và thời gian khác nhau

Yêu cầu không bị thiên lệch (unbiased): Nhà nghiên cứu và những người quản

lý dự án có thể bị thiên lệch và đem lại các thông tin thiên lệch nếu không thận trọng trong khi bố trí công tác thu thập thông tin Sự thiên lệch có thể do các yếu tố:

• Không gian (như không vào sâu trong làng mà chỉ đi theo trục lộ),

• Thời gian (cảnh quan và cuộc sống của người dân có thể thay đổi theo mùa),

• Con người (không thu thập thông tin đầy đủ từ các nhóm người khác nhau, giàu và nghèo, phụ nữ và đàn ông, nhân vật chủ chết và người dân bình thường v.v.)

Yêu cầu về tính liên quan (relevant): Thông tin rất đa dạng, nhưng đối với một

nhiệm vụ cụ thể, trong một thời hạn cụ thể, nhà nghiên cứu dự án sẽ phải tập trung vào một số vấn đề mấu chết được quan tâm Trước khi tiến hành thu thập thông tin, nhà nghiên cứu phải tự mình trả lời câu hỏi "Sẽ phải thu thập thông tin gì ?" Một bảng liệt

kê các vấn đề cần được quan tâm sẽ rất có ích, tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy rằng cứng nhắc theo bảng liệt kê quá chi tiết cũng không đem lại kết quả mong đợi, nhất là trong giai đoạn đầu của quá trình tìm hiểu một vấn đề hay một đối tượng mới mẻ

Trang 24

Chính vì lý do đó, tính chất "bán cấu trúc" (semi - structured) thường được nhấn mạnh trong các phương pháp thẩm định nông thôn

Tính kịp thời (timely) và cập nhật (update): Công việc thu thập thông tin không

thể kéo dài vì cuộc sống không chờ đợi, các cộng đồng mong muốn có ngay những tác động nhất định, các nhiệm vụ phải được hoàn thành Một mặt khác, thông tin phải cập nhật vì các đặc tính của cộng đồng và tài nguyên biến đổi rất nhanh

Tính truyền thông được: Thông tin phải truyền thông được, nghĩa là nội dung

thông tin phải được hiểu biết một cách đầy đủ và trung thực đối với người tiếp nhận Điều này đặt tầm quan trọng của việc trình bày thông tin và những cố gắng xây dựng các công cụ có tính trực quan cao khi làm việc với các cộng đồng địa phương, như đa

số các công cụ của PRA khi thu thập thông tin cùng với cộng đồng

Tính kinh tế (cost effective): Sau cùng, công việc thu thập thông tin thường tốn

kém Nhà nghiên cứu phải tối ưu hóa quá trình thu thập thông tin sao cho chi phí được

sử dụng một cách có lợi Đó là lý do của việc sử dụng các thông tin định tính trong đánh giá nông thôn có sự tham gia Tư tưởng chủ đạo của nghiên cứu hướng hành động và có sự tham gia là phát triển sự hiểu biết về một tình hình một cách tiệm tiến đi kèm với các hành động để thay đổi nó

1.4 Các loại thông tin

Chúng ta cũng thường nghe đến các "thông tin định tính" và "thông tin định lượng" và thường hay đặt chúng một cách đối lập nhau Thậm chí, có ý kiến cho rằng các phương pháp nghìn cứu có sự tham gia thường mang tính định tính và thiếu khoa học Các ý tưởng về sự đối lập này xuất hiện trong quá trình phát triển của khoa học với xu hướng định lượng hóa các khái niệm định tính bằng những chỉ tiêu cụ thể Trong tiểu mục này, chúng ta sẽ phân tích các thuộc tính định tính và định lượng dựa vào khái niệm về các mức đo (levels of measurement) Chúng ta sẽ nhấn mạnh rằng tính kinh tế của thông tin đòi hỏi nhà nghiên cứu phải chọn lựa các mức đo thích hợp đối với vấn đề mà mình nghiên cứu

Trang 25

những ký hiệu tùy chọn để phân biệt và không mang ý nghĩa so sánh Ví dụ, một danh sách các học viên của một lớp tập huấn xếp theo thứ tự chữ cái với các "số thứ tự" chỉ

là các số danh nghĩa, không có lý do gì để cho rằng người thứ nhất trong danh sách phải hơn hay thua người thứ 20 Danh sách đó có thể được xếp lại theo một chỉ tiêu danh nghĩa khác, ví dụ theo tỉnh, hay theo giới tính Cần lưu ý, tuy rằng các số hiệu chỉ

là số danh nghĩa, ta cũng có thể thực hiện được các thao tác số học Trong ví dụ nêu trên, ta có thể phát biểu về tổng số học viên của từng tỉnh, hoặc tỷ lệ phân bố theo tỉnh, hay theo giới tính, vì chúng diễn đạt bằng các số thực, mặc dầu không thể cộng, trừ, nhân, chia hay so sánh trực tiếp với các số danh nghĩa

Mức đo thứ tự hay định hạng (ordinal measurement): Đây là mức đo thứ hai và

mang tính định tính như mức đo thứ nhất, nhưng diễn đạt một khái niệm thứ hạng, hơn kém bằng các số định hạng (ranking numbers) Ví dụ, danh sách của các học viên nói trên lúc này được xếp theo thứ tự kết quả sau khóa học Cũng như ở mức đo danh nghĩa, ta có thể thực hiện được các thao tác số học như đếm và lấy tỷ lệ, nhưng không thể cộng, trừ nhân, chia các số định hạng (ranh) Ngoài ra, có thể thực hiện các phép so sánh các số định hạng Trong một số trường hợp, người ta có thể kết hợp các số định khoảng về các biến số khác nhau với giả định rằng các khoảng chia diễn đạt một ý niệm phân hạng tương tự nhau, mặc dù giả định này không được chứng minh Ví dụ, trong công cụ cho điểm của PRA

Mức đo định khoảng (interval measurement): Mức đo này dựa trên một thang

chia quy ước và một đối tượng có thể được xếp vào một và chỉ một khoảng chia Một

hệ thống đánh giá thu nhập của người dân với các mức rất nghèo đến khá giả với 5 cấp

từ 1 đến 5 cũng cho ta ý niệm về mức đo định khoảng Một biến cách của mức đo định khoảng là mức đo tỷ lệ Mức đo định khoảng không chứa số 0 tự nhiên mà chỉ là số 0 quy ước, nhưng mức đo tỷ lệ nhất thiết chứa số 0 tự nhiên Thang chia nhiệt độ là một

ví dụ Nhiệt độ 00C không phải là không có nhiệt Mặc khác, ta có thể nói độ tăng nhiệt độ giữa 30 và 600C và giữa 60 và 900C là như nhau, nhưng không thể nói nhiệt

độ 60oc nóng hơn 300C hai lần (60/30 = 2)

Mức đo định lượng (metric measurement): Đây là mức đo diễn đạt bằng các số

thực thông thường, có thể thực hiện các thao tác số học và so sánh Mức đo này bao gồm tổng số và tỷ lệ ghi nhận từ các mức đo danh nghĩa và định hạng đã nói ở trên

1.5 Chỉ số trong đánh giá thông tin

1.5.1 Khái niệm về chỉ số

Chỉ số được dùng để đánh giá thông tin, đặc biệt là thông tin trong giám sát và đánh giá dự án Chỉ số là dấu hiệu cho biết dự án có đáp ứng đúng nhu cầu của cộng đồng hay không, có đảm bảo tính khả thi hay không, dự án có đạt được mục đích, mục tiêu đề ra hay không

Ví dụ chỉ số:

Trang 26

- Giờ và phút là một chỉ số thời gian

- Nhiệt độ cơ thể là chỉ số sức khỏe

- Điểm thi là một chỉ số kết quả học tập.v.và

Chỉ số là dụng cụ hữu ích cho biết dự án đang diễn ra thế nào, có tiến triển tốt không Do đó chỉ số trở thành dụng cụ hữu ích trong giám sát và đánh giá dự án Đối với những người thực hiện dự án luôn có cảm giác dự án có tiến triển tốt hay không

Họ và cộng đồng nhận dự án có thể cảm thấy rất rõ dự án có đạt được mục đích, mục tiêu không Tuy nhiên, cảm giác không phải lúc nào cũng đúng và mang tính chủ quan của người thực hiện dự án Hơn nữa, những người không tham gia thực hiện dự án cần nhìn thấy những dấu hiệu cụ thể cho biết dự án đang tiến triển tốt tiến tới mục đích, mục tiêu của dự án (tăng tính thuyết phục) Chính vì vậy, các chỉ số là cơ sở để đánh giá thành tựu của dự án và lập phương tiện thông tin những thành tựu của dự án tới những người khác

Chỉ số không nhất thiết phải là con số Chỉ số có thể là định lượng hoặc định tính

- Sự phù hợp của các loài cây trong tổ thành rừng

- Sự thích nghi của các loài cây, con trong điều kiện trạng thái rừng thay đổi.v.v

Hệ thống giám sát và đánh giá của một dự án thường bao gồm cả chỉ số định lượng và chỉ số định tính

Bản thân một chỉ số không biểu hiện được toàn bộ tình hình dự án Thấy vậy, ta

có thể dùng nhiệt kế đo nhiệt độ không khí Tuy vậy mức độ nóng hay lạnh ta cảm nhận thấy còn phụ thuộc vào sức mạnh của gió, quần áo ta mặc, trong bóng râm hay ngoài trời Đối với dự án, điều này có nghĩa là ta cần xác định một số chỉ số để giám sát và đánh giá Các chỉ số kết hợp với nhau sẽ cho ta một bức tranh toàn diện hơn về

dự án Một cách có thể dùng để tạo ra bộ chỉ số cho một dự án là các bên liên quan trong dự án cùng nhau xác định chỉ số Các bên liên quan sẽ nhìn dự án từ những góc

Trang 27

độ khác nhau do vậy họ cũng đưa ra những chỉ số khác nhau để giám sát và đánh giá

dự án

1.5.2 Cách xác định chỉ số

Chỉ số do chuyên gia xác định

Chỉ số do chuyên gia xác định liên quan đến phương pháp giám sát và đánh giá

do chuyên gia bên ngoài dự án tiến hành Theo cách này hoạt động giám sát và đánh giá chủ yếu là thu thập thông tin định lượng, khách quan

Chỉ số do chuyên gia xác định thường mang tính khoa học, chính xác, đo được trực tiếp những thay đổi Nhược điểm của các chỉ số này là các bên liên quan trong dự

án không có cơ hội tham gia, do vậy chỉ số có thể không phù hợp với quan điểm đánh giá của họ và họ cũng không hứng thú giám sát và đánh giá dùng những chỉ số đó

Chỉ số do các bên liên quan xác định

Theo cách này, chỉ số được quan niệm là các dấu hiệu cho biết sự thay đổi hay một sự kiện đã xảy ra Mỗi bên liên quan có thể xác định những biểu hiện khác nhau của một sự thay đổi hay một sự kiện tùy theo kinh nghiệm và cách nhìn của bên liên quan đó

Khi các bên liên quan cùng tham gia xác định chỉ số, dự án sẽ có bộ chỉ số toàn diện phản ánh được bức tranh hoàn chỉnh về tình trạng của dự án Cách xác định này

có ưu điểm chính là các bên liên quan có cơ hội xác định chỉ số dựa vào kinh nghiệm của họ Theo cách này, các chỉ số trở nên có ý nghĩa hơn và dễ giám sát và đánh giá đối với người xác định vì chúng gần gũi với cuộc sống của họ

Bảng 2.3 So sánh giữa hai cách xác định chỉ số

Chuyên gia xác định chỉ số Các bên liên quan xác định chỉ số

+ Đặt trọng tâm vào tính khoa học chính xác

+ Sử dụng các phương pháp trong khoa học

đã được công nhận

+ Do cán bộ chuyên ngành thực hiện

+ Chỉ có cán bộ chuyên ngành tham gia Cán

bộ này thuộc nhóm có quyền lực, nhóm các

nhà tài trợ

+ Chỉ số là của cán bộ chuyên ngành và cơ

quan của họ

+ Đặt trọng tâm vào tính phù hợp + Sử dụng các câu hỏi để tìm ra biểu hiện

+ Chỉ số là của các bên liên quan

Thông thường trong các dự án LNXH, chỉ số do các cán bộ chuyên ngành đưa ra vẫn cần thiết ví dụ chỉ số về chất lượng đất trong dự án nông lâm nghiệp Đối với dự

án này, nông dân có thể đánh giá chất lượng đất thông qua tình trạng phát triển của cây trồng Tuy vậy họ không thể đo được những thay đổi trong đất do sử dụng những tỷ lệ phân bón khác nhau Trong những dự án cần những chỉ số do chuyên gia xác định, ta

Trang 28

có thể kết hợp chúng với các chỉ số của các bên liên quan trong hệ thống giám sát và đánh giá chung

* Yêu cầu của một chỉ số

Chỉ số dùng để đánh giá thành công của dự án và để thông tin những thành tựu này đến những người khác Vì vậy chỉ số phải là những dấu hiệu chính xác của những thay đổi mà ta cần đo đếm Theo Abbot và Gujit (1998) thì một chỉ số tốt phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Dễ theo dõi, dễ thu thập thông tin và dễ phân tích

- Có yếu tố thời gian và địa điểm

- Đúng - chỉ số đo đúng được điều cần đo

- Kiểm tra được - có thể kiểm tra độ tin cậy của số liệu

- Có ý nghĩa/ấn tượng - các bên liên quan hình dung được việc sử dụng chỉ số đó

- Cho nhiều thông tin, thông tin mang tính số lượng và chất lượng

- Chỉ số phải đảm bảo tính kinh tế

Trong các dự án LNXH, quá trình xác định chỉ số cũng quan trọng như chính các chỉ số Đối với các bên liên quan việc tham gia vào tiến trình xác định chỉ số là cơ hội

để nâng cao năng lực và quyền lực của mình Qua đó, tính sở hữu và sự gắn bó của các bên liên quan đối với dự án cũng được tăng lên

2 PHÂN TÍCH NHÓM LIÊN QUAN, ĐỊNH CHẾ VÀ SỰ THAM GIA

2.1 Phân tích nhóm liên quan

2.1.1 Khái niệm nhóm liên quan

Thuật ngữ "phân tích nhóm liên quan" (stakeholder analysis) lúc đầu được dùng trong lý thuyết quản trị kinh doanh và ngày nay được sử dụng rộng rãi trong các chương trình và dự án nghiên cứu phát triển Sự phân tích các nhóm liên quan sẽ cho phép nhận thức được nhiều vấn đề then chốt của dự án

Phân tích nhóm liên quan có thể định nghĩa là một tiến trình nghiên cứu nhằm mục đích mô tả các mối quan tâm của các nhóm, các cá nhân, các tổ chức khác nhau

và những đặc điểm của họ trong mối liên hệ với một dự án hay hoạt động cụ thể Sự phân tích này có thể dựa vào các yếu tố như không gian (ở vị trí xa hay gần đối với tài nguyên được xét) thời gian (nhu cầu trước mắt và cho thế hệ tương lai), mức độ phụ thuộc vào tài nguyên được xét (đất, rừng, nước, tín dụng v.v.) và mức độ quyết định tiến trình của dự án Phân tích nhóm liên quan bao hàm việc liệt kê và xác định các cá nhân và tổ chức tham gia vào hoặclvà bị ảnh hưởng bởi một hoạt động, dự án hay chương trình hoặc có tác động hay ảnh hưởng lên các hoạt động đó Trong nhiều trường hợp, nhóm liên quan vừa chi phối vừa bị chi phối bởi một hoạt động nào đó của

Trang 29

dự án

2.1.2 Tại sao phải phân tích các nhóm liên quan

Trong các chương trước, chúng ta đã thấy rằng tiếp cận lâm nghiệp xã hội thừa nhận một cách nhìn khác về phát triển bền vững, đó là một sự phát triển lấy con người làm trung tâm; và do đó, nó đòi hỏi một cách thức khác của việc xây dựng và thực hiện các dự án Cần phải nhận thức một cách đầy đủ rằng các vấn đề của lâm nghiệp thực chất là các vấn đề của con người Các mối quan tâm đối với tài nguyên rừng hiện nay

đã vượt ra ngoài phạm vi của ngành lâm nghiệp mà là một vấn đề của toàn xã hội Chính vì thế, việc xây dựng các dự án lâm nghiệp xã hội không chỉ là công việc giữa nhà lâm nghiệp với các cộng đồng địa phương và càng không phải là của các cơ quan lâm nghiệp làm cho cộng đồng địa phương Đối với những người làm công tác xác định dự án, những câu hỏi đầu tiên cần được làm sáng tỏ khi xác định một dự án lâm nghiệp xã hội là Ai sẽ là người tham gia vào các quá trình xác định dự án, tổ chức thực hiện, giám sát và đánh giá dự án?

Vai trò của họ trong các quyết định có liên quan đến dự án và mức độ tham gia như thế nào và với những động lực nào?

Những câu hỏi này rất quan trọng trong việc xác định các vấn đề và mục tiêu của

dự án Điều này được lý giải bằng các lý do được nêu lên tại hộp 2.1 sau:

Hộp 2.1 Phân tích nhóm liên quan là một hoạt động rất quan trọng vì nhiều lý do:

• Các vấn đề cần giải quyết và cách thức giải quyết chúng thay đổi tùy theo cách nhìn của các nhóm người khác nhau trong cộng đồng và các bên liên quan khác;

• Tính chất liên ngành của một dự án lâm nghiệp xã hội đòi hỏi sự phối hợp của nhiều nhóm tác nhân khác nhau, cả ở bên trong cũng như bên ngoài cộng đồng

• Sự phân tích các nhóm liên quan sẽ tạo tiền đề cho việc xem xét một cách toàn diện và trên quan điểm hệ thống về các nhóm hành động khác nhau chi phối đến hệ thống lâm nghiệp xã hội và là bước khởi điểm của việc xác định các đối tượng hưởng lợi và bị chi phối bởi dự án

2.1.3 Các nhóm liên quan của một dự án lâm nghiệp xã hội

Thông thường, trong một dự án lâm nghiệp xã hội thường có các bên liên quan chính như sau:

Các cơ quan lâm nghiệp địa phương: Họ có thể là các nhà lập định chính sách lâm nghiệp, các nhà nghiên cứu phát triển, cán bộ kỹ thuật khuyến lâm, người làm công tác quản lý bảo vệ rừng hay phát triển lâm nghiệp cộng đồng ở các cấp khác nhau trong guồng máy của ngành lâm nghiệp

Ngoài các cơ quan lâm nghiệp địa phương, các dự án LNXH còn có thể liên quan đến các cơ quan khách: Họ cũng có thể là kho bạc, các cơ quan ngân hàng và tổ

Trang 30

chức tín dụng chi phối đến

nguồn kinh phí dành cho dự

án; họ có thể là các cơ quan

quản lý nhà nước, quản lý đất

đai chi phối đến việc quản lý

và sử dụng đất nông nghiệp và

đất lâm nghiệp và những cơ

quan hữu quan khác

• Các tổ chức xã hội, các

cơ quan thông tin đại chúng

đóng vai trò là chiếc cầu nối

trong dòng thông tin hai chiều

giữa cơ quan nhà nước và người dân Trong thực tế, nhiều vấn đề của lâm nghiệp nói chung và lâm nghiệp xã hội nói riêng lại chỉ có thể được giải quyết bằng nhiều cơ quan khác không phải của ngành lâm nghiệp

• Có một nhóm không có quyền lực nhưng không phải là kém quan trọng, đó là các cộng đồng địa phương Dự án tác động đến những cộng đồng cụ thể và họ không phải là người thừa hưởng các thành quả và chịu sự tác động của các "can thiệp" và hoạt động khác nhau một cách thụ động Các công đồng có thành phán đa dạng, mỗi nhóm người có những mối quan hệ khác nhau đối với các tài nguyên thiên nhiên tại địa bàn nghiên cứu

• Các cộng đồng cũng có thể có những tổ chức riêng của mình, được thành lập một cách chính quy hoặc chỉ là những tổ chức không chính quy, hình thành do nhu cầu thực tế của các thành viên và do truyền thống

Cần lưu ý rằng các nhóm không chính thức đôi khi có những vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý tài nguyên Một ví dụ, ở Thái Lan, sư sãi trong các chùa chiền Phật giáo được xem là một tác nhân quan trọng trong nhiều dự án lâm nghiệp xã hội (Vitoon, 1996) Một ví dụ khác, các giáo viên của trường phổ thông cơ sở ở các xã có thề là tác nhân quan trọng cho các dự án giáo dục tăng cường nhận thức về môi trường

và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cho thiếu niên Vị già làng của một bộ tộc tuy không phải là người đại điện cho chính quyền địa phương lại có thể chi phối một cộng đồng dân tộc trong việc bảo vệ một số khu vực được xem là "rừng thiêng", "bến nước" trong tín ngưỡng truyền thống và thậm chí, còn chi phối việc sung dụng đất canh tác cho các thành viên và duy trì luật tục của cộng đồng (Ngô Đức Thịnh, 1999)

Trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa dự án và cộng đồng, hay cụ thể hơn là các mối tương quan giữa sự tham gia của cộng đồng và sự hỗ trợ, phối hợp của các tác nhân khác nhau ở bên ngoài cộng đồng, chúng ta có thể hình dung một mô hình ba cấp: Cấp thứ 1 liên quan đến các nhà lập chính sách, chi phối đến môi trường chính

Trang 31

sách của việc thực hiện dự án; cấp thứ hai liên quan đến các đối tác của dự án và cấp thứ ba liên quan đến cộng đồng và các nhóm mục tiêu của dự án

2.1.4 Họ liên quan như thế nào?

Chúng tôi không có ý liệt kê đầy đủ các nhóm liên quan khác nhau vì vấn đề sẽ thay đổi theo cấp độ nghiên cứu, trong từng điều kiện hoàn cảnh và từng hoạt động cụ thể Điều muốn lưu ý là trong thực tế quản lý các dự án lâm nghiệp xã hội:

• Có nhiều nhóm liên quan khác nhau

• Mỗi nhóm có những mức độ quan tâm khác nhau đối với từng hoạt động của một dự án

• Quá trình quyết định của từng nhóm không tiến hành một cách độc lập mà chi phối và bị chi phối bởi các nhóm còn lại

Việc thừa nhận thực tế này có tầm quan trọng trong quản lý dự án lâm nghiệp xã hội Chúng ta nhất trí rằng có một loạt các tác nhân với các mối quan hệ phức tạp đang chi phối đến các bước đi, giải pháp, kế hoạch, việc thực hiện và đánh giá một dự án Chúng ta hãy xét một trường hợp về sự hình thành và thực hiện một chính sách, ví dụ, chính sách giao đất lâm nghiệp Trong sự phân chia truyền thống, các tác nhân chi phối đến một chính sách có thể phân biệt thành bốn nhóm khác nhau tùy vào bản chất của các hoạt động của họ

- Các nhà lập định chính sách (A),

- Các nhà thực hiện các chính sách liên quan (B),

- Các nhóm chi phối một số khía cạnh của chính sách (C),

- Các nhóm người mục tiêu mà chính sách nhắm tới (D)

Nhóm những người mục tiêu của một chính sách có thể là

những người được hưởng lợi hay những người bị điều tiết bởi chính sách

Hộp 2.2 Các nhóm liên quan khác nhau:

• Có những vấn đề khác nhau cần giải quyết,

• Có những kỳ vọng khác nhau đối với dự án,

• Có những khả năng đóng góp và mức độ tác động và ảnh hưởng khác nhau đối với việc hình thành và thực hiện dự án, do đó:

• Họ cần phải tham gia theo một cơ chế phối hợp có hiệu quả để đem lại một sức mạnh tổng hợp đảm bảo sự thành công của dự án

Trong phạm vi môn học nghiên cứu về quản lý dự án lâm nghiệp xã hội, phân tích nhóm liên quan được dùng để xem xét sự thừa nhận vai trò khác nhau mà các cá nhân và tổ chức khác nhau có thể tham gia trong chu trình của dự án hay trong việc

Trang 32

xác định, lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá các hoạt động của dự án

Để tránh sự "rối rắm" trong khái niệm còn khá tổng quát trên đây, độc giả có thể tham khảo ví dụ về việc xác định nhóm liên quan của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 1994):

Hộp 2.3 Nhóm liên quan của Ngân hàng Thế giới

• Những người vay vốn (Bonowing stakeholders): Chính phủ của các nước thành viên vay vốn từ các hệ thống tín dụng của Ngân hàng Thế giới, nhóm này bao gồm các tổ chức nhà nước và nhân viên của các tổ chức đó

• Nhóm liên quan bậc 1 (Primary stakeholders): Những tổ chức và cá nhân được

dự kiến là có thể hưởng lợi hoặc bị chi phối bởi các hoạt động hỗ trợ tín dụng của Ngân hàng Thế giới, đặc biệt là các nhóm người nghèo

• Nhóm liên quan bậc 2 (Secondary stakeholders): Những tổ chức và cá nhân do

có năng lực chuyên môn hoặc có mối quan tâm đến các chương trình hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới, những tổ chức và cá nhân liên kết với nhóm liên quan bậc 1, ví dụ, một

tổ chức phi chính phủ hay tổ chức trung gian, các doanh nghiệp tư nhân hay các tổ chức khoa học và công nghệ

Ví dụ trên đây cho thấy thuật ngữ nhóm liên quan có một phạm vi diễn đạt rộng rãi Để phân tích các nhóm liên quan trong lâm nghiệp xã hội, hệ thống phân loại sau đây của Grimble et al., (1994) có thể cho ta những gợi ý có ích cho việc xác định vai trò của họ trong các dự án lâm nghiệp xã hội:

Nhóm liên quan bậc 1

(Primary stakeholders)

Cá nhân và cộng đồng phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên của một khu vực cụ thể Xét về mặt địa lý, họ sống gần tài nguyên được quan tâm (1) hay không có cơ hội chọn_lựa cách sinh sống trong ngắn han, do đó, khi có một thay đổi xẩy ra, họ sẽ gặp các khó khăn để thích ứng

Nhóm liên quan bậc 2

(Sacondary stakeholders)

Những cá nhân và tổ chức có vai trò chi phổi hay quan tâm đến tài nguyên của khu vực được xét, kể cả các cơ quan, cán bộ lâm nghiệp và các doanh nghiệp khai thác, chế biến gỗ

Nhóm liên quan mức vi mô

(Micro - level stakeholders)

Các nhóm quy mô nhỏ có tính chất địa phương là người sử dụng trực tiếp tài nguyên và là người quản lý đích thực tài nguyên trong các hoạt động thường ngày của họ

Nhóm liên quan mức vĩ mô

(Macro - level stakeholders)

Các bộ ngành trưng ương, các nhà lập chính sách, các tổ chức và cộng đồng quốc tế

Chi phối đến việc hình thành và thực hiện dự án lâm nghiệp xã hội

Ghi chú: (1) Việc có nên xem các cán bộ lâm nghiệp hoặc các doanh nghiệp khai thác và chế biến gỗ có thuộc nhóm liên quan bậc 1 hay không đã là một vấn đề tranh luận Tuy nhiên trong các cuộc phân tích nhóm liên quan để xây dựng các dự án lâm nghiệp xã hội ở tầm mức

Trang 33

địa phương, các cơ quan cán bộ lâm nghiệp và các doanh nghiệp khai thác, chế biến gỗ thường được xếp vào nhóm lên quan bậc 2 để làm nổi bật vai trò của các cộng đồng liên hệ

2.1.5 Người ngoài và người trong

Trong phân tích nhóm liên quan, có hai khái niệm quan trọng cần được xem xét,

đó là "người trong" (insiders) và "người ngoài" (outsiders) Trong một dự án cụ thể,

"người trong" là chủ thể của dự án còn "người ngoài" là tác nhân thúc đẩy các hoạt động của dự án nhằm đạt được các mục tiêu của dự án một cách tốt nhất Như đã được nhấn mạnh nhiều lần, nếu như chúng ta nhất trí rằng phát triển là một quá trình vận động tự thân của chính các cộng đồng thì các dự án lâm nghiệp xã hội đòi hỏi một điều kiện then chốt, đó là sự tham gia của người dân và cộng đồng vào việc giải quyết chính các vấn đề của mình

Các ý kiến tranh luận xung quanh hai cách tiếp cận "từ trên xuống" và "từ dưới tên" đã diễn ra rất sôi nổi và có liên quan đến sự phân chia giữa "người trong" và

"người ngoài" của một dự án phát triển Chính vì thế, trong nhiều tài liệu nghiên cứu

về dự án lâm nghiệp xã hội và phát triển nông thôn, người ta thường xem người dân trong các cộng đồng là những "người trong", là chủ thể của dự án, còn những cơ quan,

tổ chức và cá nhân bên ngoài cộng đồng, cùng làm việc với cộng đồng hay gián tiếp liên quan đến dự án là những "người ngoài" (Lâm Xuân Sanh, 1995) Tuy nhiên, một

sự phân chia rành mạch giữa "người trong" và "người ngoài" cũng như "từ trên xuống"

và "từ dưới lên" đôi khi không thực thỏa đáng trên quan điểm phương pháp luận Trong một hội nghị của Chương trình Rừng, Cây và Con người của FAO (FTPP Regional Meeting, Kathmandu 10 - 1514/1996) có một báo cáo đáng chú ý của Laurent Umans (1996) Tác giả nhận định rằng một sự phân chia giữa hai khảo hướng "từ trên xuống"

và "từ dưới lên", xuất phát từ sự phân chia có tình cực đoan giữa "người trong" (tức chính cộng đồng) và "người ngoài" (các nhà nghiên cứu phát triển) Theo tác giả này, mọi sự phân chia cực đoan đều có thể đem lại sự cản trở cho việc tìm hiểu sâu sắc hơn các cộng đồng và quá trình phát triển của các dự án điều này có thể thấy rõ khi chúng

ta nghiên cứu các vấn đề liên quan đến phương pháp luận hệ thống

Trên quan điểm phân tích nhóm liên quan, chúng ta không thể xem "người trong"

và "người ngoài" như là những nhóm đồng nhất "Người ngoài" có thể là tập hợp những cơ quan tổ chức và cá nhân có động cơ và kỳ vọng khác nhau đối với cộng đồng và đối với dự án "Người trong" cũng có thể bao gồm những cá nhân và nhóm có quyền lợi khác nhau và do đó có những thái độ khác nhau đối với các loại tài nguyên

và các tác động khác nhau của dự án Sự khác biệt bên trong các nhóm cả trong nhóm

"người trong" và nhóm "người ngoài" đôi khi còn lớn hơn là giữa hai nhóm Cả trong nghiên cứu triển khai quy ước và nghiên cứu hành động có sự tham gia đều đòi hỏi tính khách quan và chính vì thế theo tác giả, cần phải nhận thức "người trong" bên trong mỗi "người ngoài" và "người ngoài" bên trong mỗi "người trong"

Tuy nhiên, có một loạt vấn đề về thái độ cần quan tâm khi phân biệt "người

Trang 34

ngoài" và "người trong Trong các nghiên cứu, xây dựng dự án và hoạt động khuyến lâm trước đây có một loạt các quan niệm sai lầm về mặt phương pháp luận như sau:

• Người ngoài (cán bộ lâm nghiệp) được nghĩ là hiểu biết rõ hơn về cộng đồng

và do đó, có thể làm thay cho cộng đồng khi đưa ra các quyết định về dự án

• Các cộng đồng nông thôn nghèo nàn, ít học thức không thể nhận thức các vấn

đề và nhu cầu và quyết định các cách thức phát triển liên quan đến sinh mệnh của học

• Các cộng đồng nông thôn không có ý thức bảo tồn tài nguyên và việc giao quyền quản lý tài nguyên của cộng đồng cho họ sẽ dẫn tới sự suy giảm và xuống cấp Tuy rằng một số nhận định trên đây có vẻ đúng, chúng chưa được kiểm chứng bằng các nghiên cứu nghiêm túc Điều này dẫn đến sự chấp nhận dễ dãi các quan điểm nói trên và do đó không chú ý đúng mức tới việc phát huy nội lực của chính các cộng đồng địa phương trong việc bảo vệ và phát triển tài nguyên vì lợi ích của chính họ Trong cách tiếp cận có sự tham gia, người ta giới hạn vai trò xúc tác của người ngoài và chú trọng đến vai trò chủ đạo của các cộng đồng nông thôn trong nỗ lực "tự giúp mình"

2.2 Phân tích định chế

Thuật ngữ "định chế" (institution) bao hàm một khái niệm rộng rãi Một mặt, nó diễn đạt các hệ thống giá trị, luật lệ, quy tắc, quy chế, thành văn hay bất thành văn được các thành viên của một nhóm người nào đó tôn trọng và tuân thủ, tao ra những chuẩn mực hay dạng thức hành vi hay ứng xử của từng cá nhân Một mặt khác, định chế cũng được hiểu là tổ chức hay sự sắp xếp của các tổ chức như gia đình, nông hộ, doanh nghiệp, tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức phi chính phủ hay cơ quan nhà nước (Gibbs, 1986)

Ostrom (1994) đã phê bình rằng "Điều rắc rối và thậm chí nguy hiểm là các nhà khoa học muốn đề nghị một sự áp đặt những sự thay đổi định chế một cách phổ quát

mà không phân tích kỹ sự phối hợp các định chế khác nhau chi phối một tình hình trong thực tế như thế nào Việc giới hạn sự chỉ định các can thiệp định chế hoặc cho

"thị trường", hoặc cho "nhà nước" đồng nghĩa với cái phòng khám đa khoa của khoa học xã hội chỉ cung cấp có hai phương thuốc lang băm"

Nếu phát triển được hiểu là một sự thay đổi theo hướng tích cực về các mặt kinh

tế, kỹ thuật, xã hội và định chế, thì việc phát triển các.cộng đồng nông thôn phải là một quá trình vận động của tự thân cộng đồng mà mục tiêu trước hết là nâng cao mức sống

và cải thiện chất lượng cuộc sống của chính họ Quá trình ấy phải xuất phát từ chính những người dân trong cộng đồng, từ các vấn đề, khả năng và nguyện vọng của chính

họ Tư tưởng về "sự tham gia" như là yếu tố then chết của sự thành công của một dự

án phát triển không có gì là mới mẻ Tuy nhiên, "sự tham gia" của cộng đồng không phải là một khái niệm đơn giản và không ít trường hợp, khái niệm này được hiểu một cách không thống nhất

Trang 35

2.3 Phân tích sự tham gia

2.3.1 Các khía cạnh của sự tham gia

Trên bình diện xã hội học, tham gia là sự chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi trong một tập thể Theo Diakite (1978) để đánh giá sự tham gia, cần chú ý đến 4 khía cạnh:

• Mức độ thông tin (information), tức những gì mà mỗi cá nhân biết được Ví

dụ, những gì mà một cá nhân biết được về các nhóm liên quan và các hoạt động của họ trong dự án

• Mức độ thái độ (attitudes) hay tư duy, tức những gì thuộc về thái độ của mỗi

cá nhân Ví dụ, cách thức mà cá nhân quyết định đối với các hành động chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi trong một dự án

• Các nguyện vọng (aspirations), tức những gì mà mỗi cá nhân mong muốn trong việc cải thiện cuộc sống vật chất và tinh thần của mình và gia đình mình Xét ở tầm xã hội, nguyện vọng của một tổ chức có thể là thực hiện tốt nhất các nhiệm vụ hay

sứ mạng của họ

• Các hành vi (behaviors), tức những gì mà mỗi cá nhân làm Hành vi bị chi phối bởi thông tin mà các nhóm liên quan nắm giữ, thái độ và nguyện vọng của họ

2.3.2 Các cấp độ của sự tham gia

Sự phân biệt các hình thức tham gia trên đây có một ý nghĩa quan trọng trong thực tế xây dựng các dự án lâm nghiệp xã hội Điều mong muốn của các nhà xã hội học nông thôn và đặc biệt là các nhà lâm nghiệp xã hội là sự tham gia tự nguyện và tự giác của các cộng đồng nông thôn Trong thực tế, đó là một quá trình phát triển theo từng cấp độ tham gia khác nhau

Khi đề cập đến các cấp độ của sự tham gia của cộng đồng trong quá trình hình thành các giải pháp quản lý tài nguyên? Briggs (1989) phân chia như sau:

• Cấp độ hợp đồng (contractual): Nhóm nghiên cứu và xây dựng dự án sẽ quyết định toàn bộ vấn đề, nông dân tham gia như những người hợp đồng để cung cấp đất và lao động, ví dụ trong các thí nghiệm trình diễn

• Tham vấn (consultative): Nhà nghiên cứu tham khảo ý kiến của nông dân để biết các khó khăn và nhu cầu của họ, các ý kiến này chỉ mang tính chất tham khảo khi xây dựng dự án

• Hợp tác (collaborative): Nhà nghiên cứu và nông dân cùng hợp tác chặt chẽ trong quá trình nghiên cứu và triển khai các chiến lược, kế hoạch và công nghệ

• Tự giác: Nông dân tự mình thực hiện việc tìm tòi và sáng tạo các giải pháp công nghệ và định chế thích ứng, nhà nghiên cứu chỉ đóng vai trò xúc tác và tăng cường khả năng của nông dân trong việc này Đây là cấp độ lý tưởng mà chúng ta mong muốn đạt tới

Trang 36

Các cấp độ của sự tham gia được mô phỏng theo khung phân tích như trong sơ đồ 2.2

Sơ đồ 2.2 Các cấp độ của sự tham gia 2.3.3 Các hình thức tham gia trong thực tế của các dự án

Tham gia qua đại diện:

Trong thực tế, đôi khi người ta nói đến sự tham gia trong những trường hợp có sự hiện diện của một vài đại biểu của người dân trong một số phiên họp để phổ biến một chủ trương, để triển khai một kế hoạch Đó có thể là các chủ trương hay các kế hoạch được những nhà lập định chính sách vẽ ra bằng hiểu biết của họ để giúp cho một cộng đồng có những cơ hội phát triển Trong nhiều trường hợp, nhiều chương trình và kế hoạch phát triển tốn kém đã không mang lại kết quả mong đợi, vì các biện pháp đề ra không giải quyết các vấn đề thực của cộng đồng và do đó không đáp ứng được nguyện vọng của người dân Trong một số trường hợp, rất có thể, đó là các chủ trương, biện pháp hay kế hoạch đúng, song sự hình thành và cách triển khai vẫn mang tính áp đặt Trong thực tế, vấn đề vận động người dân tham gia vào các công cuộc mang lại sự phát triển cho một cộng đồng không đơn giản Có nhiều biện pháp đã được áp dụng, một số mang lại kết quả tốt, nhưng một số khác không thành công

Tham gia đóng góp lao động:

Trong một số dự án phát triển, "tham gia" được hiểu như là sự đóng góp lao động Người quản lý dự án ở bên ngoài cộng đồng chú ý đến việc vận động người dân tham gia vào dự án và kết quả được cho là thành công khi người dân tham gia bằng cách đóng góp lao động giản đơn, như đắp đường, đào mương không lấy tiền công, với

ý nghĩ là phát huy tinh thần tự lúc Trên quan điểm phân tích dự án, "sự tham gia" này đồng nghĩa với biện pháp làm giảm chi phí của dự án bằng một nguồn lao động rẻ tiền Các công việc thuộc về "phần mềm" của dự án như thiết kế và lập kế hoạch là công việc của các cơ quan chuyên môn và các nhà lãnh đạo Một số người tin rằng khi có sự đóng góp nhân lực người dân sẽ bảo quản tốt các công trình ấy Tuy nhiên trong thực

tế, vì không được tham gia góp ý và tiếp nhận đầy đủ thông tin, người ta không lấy gì

để đoán chắc rằng công trình đáp ứng nhu cầu ưu tiên cao của cộng đồng Nếu dự án

Trang 37

không đáp ứng yêu cầu có độ ưu tiên cao của số đông người dân trong cộng đồng, họ

sẽ tham gia đóng góp lao động dưới những sự ràng buộc nhất định mà không phải là hoàn toàn tự nguyện và công trình có thể bị chết yểu Hệ quả của cách suy nghĩ giản đơn này là không thực sự nâng cao năng lực của cộng đồng để giải quyết các vấn đề của chính họ

Tham gia chia sẻ chi phí:

Đối với một số người quản lý dự án, điều đáng quan tâm không phải chỉ là vấn

đề làm giảm chi phí của dự án mà là việc sung dụng có hiệu quả các nguồn lực, để có thể thu hồi các chi phí được đầu tư Để đạt được "sự tham gia", họ thường chú trọng việc xây dựng một cơ chế để người dân đóng góp chi phí, ví dụ, người dân đóng góp một phần chi phí sử dụng cầu đường, kênh mương Tuy nhiên, một khi các công trình không xuất phát từ lợi ích của cộng đồng, người dân sẽ trở về với cách thức giải quyết trước đây của họ

Tham gia chia sẻ trách nhiệm:

Một quan điểm khác không đặt trọng

tâm trên chi phí mà chú ý đến trách

nhiệm của cộng đồng trong việc duy

trì dự án, ví dụ tránh việc lạm dụng

hay làm hư hỏng một công trình

được đầu tư Một số cơ chế được xác

lập, như giao trách nhiệm cho những

người lãnh đạo địa phương hay

thành lập một ban quản lý Để duy

trì một công trình, thông thường,

một thỏa thuận được ký kết, nêu rõ

trách nhiệm của các bên trong dự án (chính quyền và cộng đồng) Trong thực tế, người dân không có điều kiện suy nghĩ về các điều khoản của thỏa thuận, việc thương thảo thường bị chi phối bởi các nhà lãnh đạo địa phương Ngay cả khi một ban điều hành được cử ra, cũng không chắc rằng những người tốt nhất trong cộng đồng sẽ được bầu

Tham gia quyết định của cộng đồng:

Chính vì thế, sự tham gia sẽ chỉ đạt được khi dự án đặt cơ sở trên quyết định của cộng đồng Trong lâm nghiệp xã hội, "Tham gia" (participatory) theo ý nghĩa này là một khái niệm thường được nhấn mạnh và là một thử thách Nó liên quan đến sự vận động các thành viên của cộng đồng nhắm tới các mục tiêu phát triển, sự cộng tác giữa một bên là các nhà lập chính sách, kế hoạch, các giới chức triển khai thực hiện và bên kia là những người được gọi là nhóm mục tiêu được hưởng lợi của một dự án Trong điều kiện lý tưởng, các cộng đồng dân cư địa phương thuộc nhóm mục tiêu sẽ tích cực tham gia trong các giai đoạn khác nhau của dự án phát triển lâm nghiệp xã hội, với tư cách là chủ thể của dự án Các nhà nghiên cứu phát triển, cán bộ dự án đóng vai trò

Trang 38

xúc tác cho quá trình Đây chính là ý tưởng của sự đảo ngược "lấy dân làm gốc" (bottom - up), thay vì cách "áp đặt từ trên xuống" (top - down)

Trên thực tế, chúng ta có thể nhận định rằng mức độ tham gia của các thành viên khác nhau của một nhóm liên quan vào quá trình đưa ra các quyết định có thể khác biệt tùy từng nơi và thay đổi tùy vào các điều kiện về:

ý nghĩa nói trên, không thể không đề cập đến việc nâng cao nhận thức của các nhóm liên quan bên ngoài cộng đồng và năng lực của chính cộng đồng Điều có thể kỳ vọng

là những tiền đề về khung cảnh pháp lý của lâm nghiệp xã hội đã được thể hiện trong chính sách "Đổi mới", đặc biệt là trong "Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững" và "Kế hoạch quốc gia hành động vì lâm nghiệp nhiệt đới" cùng các chủ trương lớn về giao đất giao rừng, về việc sử dụng đất trống đồi trọc, các chương trình định canh định cư và phát triển các hệ thống canh tác bền vững Cái chúng ta cần

là sự thay đối trong nhận thức, hành động và sự phối hợp của các nhóm liên quan cả bên trong cũng như bên ngoài cộng đồng

Trang 39

Câu hỏi thảo luận chương 2

1 Liệu có thể đạt được sự hỗ trợ của cộng đồng trong các hoạt động của một dự

án nếu chỉ dựa vào các cán bộ trong bộ máy chính quyền địa phương mà không cần sự thảo luận với người dân? Những cái lợi và cái bất lợi của cách làm này?

2 Bằng cách nào có thể đảm bảo sự đóng góp ý kiến và giải pháp của mọi người dân trong một cộng đồng, nhất là những người thuộc các nhóm xã hội bất lợi như người nghèo, người thất bọc, người không có đất và phụ nữ trong các nhóm đó? Bằng cách nào có thể vận động sự tham gia của các nhóm thành viên yếu thế trong cộng đồng? Ai sẽ thực hiện việc vận động này?

3 Các kinh nghiệm vận động người dân đóng góp lao động cho một công trình

có đủ đảm bảo người dân nghĩ rằng công trình là của họ, cần có thêm những yếu tố nào khác?

4 Các chỉ số hay chỉ báo nào có thể dùng để đánh giá một cách tin cậy rằng dự

án đạt được sự tham gia tích cực của người dân trong cộng đồng?

5 Cán bộ làm công tác phát triển lâm nghiệp xã hội sẽ phải được đào tạo và chuẩn bị các kiến thức và kỹ năng gì để vận động sự tham gia của người dân? Sự đào tạo ấy nên được thực hiện như thế nào?

Trang 40

Chương 3 LẬP DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI

1 TIẾN TRÌNH LẬP DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI

Mặc dù đã có nhiều sách viết về thiết kế và lập dự án, nhưng không có và hầu như sẽ không bao giờ có cẩm nang nào về thiết kế dự án Thiết kế dự án có thể là một đợt tư vấn ngắn hạn do chuyên gia từ bên ngoài đảm nhận, hay là quá trình thiết kế dự

án với sự tham gia của nhiều bên liên quan Thiết kế có thể là những bài tập ngắn gọn, không rắc rối mà chỉ cần vài giờ đồng hồ là có thể hoàn tất nhưng nó cũng có thể là những tiến trình phức tạp, lâu dài kéo theo nhiều chu trình hay sự lặp lại trong việc lập

kế hoạch, xem xét và điều chỉnh (Bill Jackson)

Như vậy có thể nói tiến trình lập dự án rất linh hoạt, phụ thuộc vào đối tượng, quy mô, yêu cầu cụ thể và không có một khuôn mẫu chung cho tất cả các trường hợp, tuy vậy nó cũng có những điểm chung về cấu trúc và sẽ làm cơ sở cho việc xác định các bước lập dự án

Các bước lập dự án có thể bao gồm:

1 Phân tích tình huống, chuẩn bị lập kế hoạch dự án

2 Lập kế hoạch dự án

3 Phân tích hiệu quả và các tác động của dự án

4 Phân tích các rủi ro của dự án

5 Tài liệu hoá và viết văn kiện dự án

1.1 Phân tích tình huống chuẩn bị lập dự án

Trước khi tiến hành lập kế hoạch dự án bằng sử dụng khung logic, người lập dự

án nhất thiết phải thực hiện việc phân tích tình huống của dự án được đề xuất Những câu hỏi sau cần được trả lời:

- Dự án tập trung vào mối quan tâm nào, chủ đề nào?

- Dự án muốn hướng tới mục tiêu gì?

- Quy mô về không gian và giới hạn phạm vi chủ đề của dự án ở mức độ nào?

- Bối cảnh thực hiện dự án: Kinh tế - xã hội, chính trị, công nghệ - kỹ thuật… như thế nào?

- Các bên liên quan chính là ai?

- Các bên liên quan sẽ tham gia vào quá trình thiết kế, thực hiện, giám sát, đánh giá và báo cáo như thế nào?

Ngày đăng: 22/03/2014, 09:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Jerry A., Jennifer S.(1994); Looking Back and Loking Forward: A Participatory Approach lo Evaluation; Arkansas Sách, tạp chí
Tiêu đề: Looking Back and Loking Forward: A Participatory Approach lo Evaluation
Tác giả: Jerry A., Jennifer S
Nhà XB: Arkansas
Năm: 1994
20. Nguyễn Ngọc Mai: Phân tích và quản lý dự án đầu tư. NXB Khoa học kỹ thuật. Hà Nội - 1995. Mark R., Neil T. (1999); Project Evaluation. A Guide for NGOs;Glasgow Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích và quản lý dự án đầu tư
Tác giả: Nguyễn Ngọc Mai
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 1995
1. Nguyễn Trọng Dũng (1993): Tính toán đánh giá dự án đầu tư trong nền kinh tế thị trường. NXB Lao động. Hà Nội Khác
2. Vũ Cao Đàm: Nghiên cứu khoa học phương pháp luận và thực tiễn. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999 Khác
3. Bill Jackson: Thiết kế dự án và đánh giá dự án sử dụng phương pháp khung logic (Logic Framework - logframe) Khác
4. FAO: Forestry Projects Management - Moniloring and Evaluation, 1995 Khác
5. FAO (1993): Assessing forestry project 1mpacts: Issues and strategies Khác
6. FAO (1998): Multi - Topical Paticipatory Planning. Experiences with Natural Resource Management Planning of the Participatory Watershed Management Project in Hoanh Bo District, Quang Ninh, Vietnam Khác
8. Forestry Cooperation Programme Vietnam - Sweden (1994): Participalory rural appaisal, village planning, community management extension and traning for FIFP in Vietnam. Agricultural Publishing House, Ha noi Khác
9. Georges Hirsch and others (1994): Quản lý dự án - Các vấn đề, phương pháp và áp dụng ở Việt Nam. Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
11. GTZ (1997): ZOPP Objectives - Oriented Project Planning, Eschborn Khác
13. H.M. Gregersen, K.N. Brooks (1992): Guidelines for Economic appraisal of watershed management projects. FAO, translated hy Phẩm Minh Nguyet.Agricutural Publishing House, Ha Noi, Vietnam Khác
15. OXFAM (1999): Báo cáo đánh giá về nghèo khổ với sự tham gia của cộng đồng; Oxfam Anh Khác
16. Phạm Khắc Hồng - Nguyễn Văn Tuấn: Quản lý doanh nghiệp lâm nghiệp. NXB Nông nghiệp. Hà Nội - 1996 Khác
17. Hans M. Gregerson & Amoldo H.Contresal: Economic Analysis of Forestry Projects. FAO - 1979 Khác
18. Đỗ Hoàng Sơn (2003): Giám sát và Đánh giá dự án có sự tham gia - Tài liệu tập Khác
19. Hội Khoa học kinh tế nông lâm (1995): Lập và phân tích các dự án phát triển nông thôn - NXB Nông nghiệp - Hà Nội Khác
21. Đặng Ngọc Quang và cộng sự (1999); Đánh giá một năm thực hiện Dự án xoá đói giảm nghèo và phát triển bền vững, xã Kỳ Thọ - Kỳ Anh - Hà Tĩnh; Hà Nội Khác
22. Nguyễn Thế Nhã và tập thể tác giả (1996): Lập dự án đầu tư phát triển nông nghiệp - nông thôn. NXB Nông nghiệp. Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Mục tiêu và các hoạt động trong các giai đoạn của chu trình - LẬP VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI docx
Bảng 1.1. Mục tiêu và các hoạt động trong các giai đoạn của chu trình (Trang 14)
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ thể hiện thông tin như là một biến trạng liên tục mà dữ liệu và kiến - LẬP VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI docx
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ thể hiện thông tin như là một biến trạng liên tục mà dữ liệu và kiến (Trang 19)
Bảng 2.1 là một sự liệt kê có - LẬP VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI docx
Bảng 2.1 là một sự liệt kê có (Trang 20)
Bảng 2.1. Một số loại thông tin mà nhà nghiên cứu và cộng đồng có thể cần trong - LẬP VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI docx
Bảng 2.1. Một số loại thông tin mà nhà nghiên cứu và cộng đồng có thể cần trong (Trang 21)
Sơ đồ 2.2. Các cấp độ của sự tham gia  2.3.3. Các hình thức tham gia trong thực tế của các dự án - LẬP VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI docx
Sơ đồ 2.2. Các cấp độ của sự tham gia 2.3.3. Các hình thức tham gia trong thực tế của các dự án (Trang 36)
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ đơn giản "Cây vấn đề" - LẬP VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI docx
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ đơn giản "Cây vấn đề" (Trang 54)
Sơ đồ 3.2. Sơ đồ mục đích - LẬP VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI docx
Sơ đồ 3.2. Sơ đồ mục đích (Trang 56)
Sơ đồ 3.3. Sơ đồ chiến lược - LẬP VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI docx
Sơ đồ 3.3. Sơ đồ chiến lược (Trang 56)
Bảng 3.7. Khung kế hoạch hoạt động của dự án - LẬP VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI docx
Bảng 3.7. Khung kế hoạch hoạt động của dự án (Trang 60)
Sơ đồ 3.4. Ví dụ về sơ đồ Pert và đường Gantt - LẬP VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI docx
Sơ đồ 3.4. Ví dụ về sơ đồ Pert và đường Gantt (Trang 62)
Bảng 3.9. Ví dụ kế hoạch tạo cây con - LẬP VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI docx
Bảng 3.9. Ví dụ kế hoạch tạo cây con (Trang 62)
Bảng 3.10. Kế hoạch ngân sách của dự án - LẬP VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI docx
Bảng 3.10. Kế hoạch ngân sách của dự án (Trang 63)
Bảng 5.1. Mẫu lập kế hoạch thực hiện của dự án - LẬP VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI docx
Bảng 5.1. Mẫu lập kế hoạch thực hiện của dự án (Trang 91)
Bảng 6.1. Mẫu biểu thu thập số liệu đánh giá dự án - LẬP VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI docx
Bảng 6.1. Mẫu biểu thu thập số liệu đánh giá dự án (Trang 96)
Bảng 6.2. So sánh giữa phương pháp thông thường và phương pháp có sự tham gia - LẬP VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI docx
Bảng 6.2. So sánh giữa phương pháp thông thường và phương pháp có sự tham gia (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w