Như vậy, dù bị chi phối bởi thế giới quan duy tâm hoặc nhị nguyên, suyđến cùng, con người theo quan niệm của các học thuyết tôn giáo phương Đôngđều phản ánh sai lầm về bản chất con người
Trang 1Theo các nhà kinh điều của chủ nghĩa Mác - Lênin, con người vừa làđiểm khởi đầu vừa là sự kết thúc, đồng thời lại vừa là trung tâm của sự biến đổilịch sử, nói cách khác con người là chủ thể chân chính của các quá trình xã hội.Trước đây tỏng sách báo con người được xem xét trên phương diện "con ngườitập thể" "con người giai cấp" con người xã hội.
Ở đây tính tích cực của con người với tư cách là chủ thể được tập trungchú ý khai thác và bồi dưỡng chủ yếu ở những phẩm chất cần cù, trung thành,nhiệt tình, quyết tâm với cách mạng Một quan niệm và một cách làm như vậy
đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và khôi phục kinh tếsau chiến tranh Tuy nhiên quan niệm và cách làm này cũng bộc lộ những hạnchế nhất định trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện
Trong xã hội con người không chỉ tạo ra các hệ thống và các quá trìnhkhác nhau của xã hội (giai cấp, đảng phía, nhà nước, sản xuất, văn hoá), mà họcòn làm người, chính họ đã in đậm dấu ấn của tiến trình lịch sử Lịch sử (suyđến cùng) cũng chính là lịch sử phát triển cá nhân của con người, dù họ có nhậnthức được điều đó hay không Từ đây cho phép tách ra một bình diện đặc biệttrong việc xem xét "con người chủ thể" bình diện " con người cá nhân" có nghĩa
là nâng nhận thứac lên một trình độ mới - quan niệm "cái cá nhân" là sự thểhiện (hiện thân) một cách cụ thể sinh động của "cái xã hội" khi con người trởthành chủ thể của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 2Nhằm nghiên cứu, tham khảo về vấn đề con người của chủ nghĩa Lênin và ý nghĩa của quan điểm ấy trong việc vận dụng xây dựng con ngườiViệt Nam thế kỉ XXI, trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiệnnay và liên hệ với bản thân Đây chính là lý do tôi chọn đề tài tiểu luận:
Mác-“NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY”.
Do hạn chế thời gian cũng như về chuyên môn, hơn nữa đây là một vấn
đề lâu dài và đa dạng về hướng tiếp cận thông tin, thực tế,…, chắc chắn khôngtránh khỏi những thiếu sót Kính mong Thầy nhận xét, góp ý Tôi xin chânthành cảm ơn
Quy Nhơn, ngày 18 tháng 12 năm 2008
Học viên:
NGUYỄN TRUNG THÀNH
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu 1
Phương pháp nghiên cứu 4
Nội dung I Bản chất con người 5
1 Quan niệm về con người trong triết học trước Mác 5
1.1 Quan niệm con người trong triết học phương Đông 5
1.2 Quan niệm con người trong triết học phương Tây 6
2 Quan điểm của triết học Mác-Lênin về con người 7
2.1 Quan niệm của triết học Mác-Lênin về bản chất con người 7
2.1.1 Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh học với mặt xã hội 7
2.1.2 Trong tính hiẹn thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội 9
2.1.3 con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử 10
2.2 Quan điểm của triết học Mác-Lênin về giải phóng con người 11
II Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người 12
III Vấn đề xây dựng con người Việt Nam hiện nay 12
1 Con người Việt Nam trong lịch sử 12
2 Con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 12
2.1 Một số vấn đề đặt ra hiện nay về con người trong quá trình Công nghiệp hoá, hiện đại hoá 13
2.2 Những yêu cầu về con người Việt Nam trong vấn đề công nghiệp hoá hiện đại hoá 13
IV Ý nghĩa của việc vận dụng những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin trong tình hình thực tiễn ở Việt Nam hiện nay 14
Kết luận và đề nghị 18
1 Kết luận 18
2 Đề nghị 19
Tài liệu tham khảo 20
Trang 4PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu các tư liệu về con người qua các thời kì lịch sử cụ thể
- Tổng hợp tài liệu trong sách và trên mạng internet
- Liên hệ thực tế về vấn đề con người trên thế giới và ở Việt nam
Trang 5NỘI DUNG
I Bản chất con người.
1 Quan niệm về con người trong triết học trước Mác.
1.1 Quan niệm về con người trong triết học phương Đông.
Từ thời kỳ cổ đại, các trường phái triết học đều tìm cách lý giải vấn đềbản chất con người, quan hệ giữa con người đối với thế giới xung quanh
Các trường phái triết học - tôn giáo phương Đông như Phật giáo, Hồigiáo nhận thức bản chất con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bíhoặc nhị nguyên luận Trong triết học Phật giáo, con người là sự kết hợp giữadanh và sắc (vật chất và tinh thần) Đời sống con người trên trần thế chỉ là ảogiác, hư vô Vì vậy, cuộc đời con người khi còn sống chỉ là sống gửi, là tạm bợ.Cuộc sống vĩnh cửu là phải hướng tới cõi Niết bàn, nơi tinh thần con ngườiđược giải thoát để trở thành bất diệt
Như vậy, dù bị chi phối bởi thế giới quan duy tâm hoặc nhị nguyên, suyđến cùng, con người theo quan niệm của các học thuyết tôn giáo phương Đôngđều phản ánh sai lầm về bản chất con người, hướng tới thế giới quan thần linh.Trong triết học phương Đông, với sự chi phối bởi thế giới quan duy tâm hoặcduy vật chất phác, biểu hiện trong tư tưởng Nho giáo, Lão giáo, quan niệm vềbản chất con người cũng thể hiện một cách phong phú Khổng Tử cho bản chấtcon người do “thiên mệnh” chi phối quyết định, đức “nhân”chính là giá trị caonhất của con người, đặc biệt là người quân tử Mạnh Tử quy tính thiện của conngười vào năng lực bẩm sinh, do ảnh hưởng của phong tục tập quán xấu mà conngười bị nhiễm cái xấu, xa rời cái tốt đẹp Vì vậy, phải thông qua tu dưỡng, rènluện để giữ được đạo đức của mình Cũng như Khổng Tử, Mạnh Tử cho rằngphải lấy lòng nhân ái, quan hệ đạo đức để dẫn dắt con người hướng tới các giátrị đạo đức tốt đẹp
Triết học Tuân Tử lại cho rằng bản chất con người khi sinh ra là ác,nhưng có thể cải biến được, phải chống lại cái ác ấy thì con người mới tốt được Trong triết học phương Đông, còn có quan niệm duy tâm cho rằng trời
và con người còn có thể hoà hợp với nhau (thiên nhân hợp nhất) Đổng TrọngThư, một người kế thừa Nho giáo theo khuynh hướng duy tâm cực đoan quanniệm rằng trời và con người có thể thông hiểu lẫn nhau (thiên nhân cảm ứng).Nhìn chung, đây là quan điểm duy tâm, quy cuộc đời con người vào vai tròquyết định của “thiên mệnh”
Lão Tử, người mở đầu cho trường phái Đạo gia, cho rằng con người sinh
ra từ “Đạo” Do vậy, con người phải sống “vô vi”, theo lẽ tự nhiên, thuần phát,
Trang 6không hành động một cách giả tạo, gò ép, trái với tự nhiên Quan niệm này biểuhiện tư tưởng duy tâm chủ quan của triết học Đạo gia.
Có thể nói rằng, với nhiều hệ thống triết học khác nhau, triết học phươngĐông biểu hiện tính da dạng và phong phú, thiên về vấn đề con người trong mốiquan hệ chính trị, đạo đức Nhìn chung, con người trong triết học phương Đôngbiểu hiện yếu tố duy tâm, có pha trộn tính chất duy vật chất phác ngây thơ trongmối quan hệ với tự nhiên và xã hội
1.2 Quan niệm về con người trong triết học phương Tây.
Triết học phương Tây trước Mác biểu hiện nhiều quan niệm khác nhau
về con người:
Các trường phái triết học tôn giáo phương Tây, đặc biệt là Kitô giáo,nhận thức vấn đề con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí TheoKitô giáo, cuộc sống con người do đấng tối cao an bài, sắp đặt Con người vềbản chất là kẻ có tội Con người gồm hai phần: thể xác và linh hồn Thể xác sẽmất đi nhưng linh hồn thì tồn tại vĩnh cửu Linh hồn là giá trị cao nhất trong conngười Vì vậy, phải thường xuyên chăm sóc phần linh hồn để hướng đến Thiênđường vĩnh cửu
Trong triết học Hy Lạp cổ đại, con người được xem là điểm khởi đầu của
tư duy triết học Con người và thế giới xung quanh là tấm gương phản chiếu lẫnnhau Con người là một tiểu vũ trụ trong vũ trụ bao la Prôtago một nhà ngụybiện cho rằng “con người là thước đo của vũ trụ” Quan niệm của Arixtốt vềcon người, cho rằng chỉ có linh hồn, tư duy, trí nhớ, ý trí, năng khiếu nghệ thuật
là làm cho con người nổi bật lên, con người là thang bậc cao nhất của vũ trụ.Khi đề cao nhà nước, ông xem con người là “một động vật chính trị”
Như vậy, triết học Hy Lạp cổ đại bước đầu đã có sự phân biệt con ngườivới tự nhiên, nhưng chỉ là hiểu biết bên ngoài về tồn tại con người Triết học Tây Âu trung cổ xem con người là sản phẩm của Thượng đếsáng tạo ra Mọi số phận, niềm vui, nỗi buồn, sự may rủi của con người đều doThượng đế xếp đặt Trí tuệ con người thấp hơn lý chí anh minh sáng suốt củaThượng đế Con người trở nên nhỏ bé trước cuộc sống nhưng đành bằng lòngvới cuộc sống tạm bợ trên trần thế, vì hạnh phúc vĩnh cửu là ở thế giới bên kia Triết học thời kỳ phục hưng - cận đại đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ, lýtính của con người, xem con người là một thực thể có trí tuệ Đó là một trongnhững yếu tố quan trọng nhằm giải thoát con người khỏi mọi gông cuồng chậthẹp mà chủ nghĩa thần học thời trung cổ đã áp đặt cho con người Tuy nhiên, đểnhận thức đầy đủ bản chất con người cả về mặt sinh học và về mặt xã hội thìchưa có trường phái nào đạt được Con người mới chỉ được nhấn mạnh về mặt
cá thể mà xem nhẹ mặt xã hội
Trong triết học cổ điển Đức, những nhà triết học nổi tiếng như Cantơ,Hêghen đã phát triển quan niệm về con người theo khuynh hướng chủ nghĩa
Trang 7duy tâm Hêghen, với cách nhìn của một nhà duy tâm khách quan, thông qua sựvận động của “ý niệm tuyệt đối”, đã cho rằng, con người là hiện thân của “ýniệm tuyệt đối” Bước diễu hành của “ý niệm tuyệt đối” thông qua quá trình tự
ý thức của tư tưởng con người đã đưa con người trở về với giá trị tinh thần, giátrị bản thể và cao nhất trong đời sống con người Hêghen cũng là người trìnhbày một cách có hệ thống về các quy luật của quá trình tư duy của con người,làm rõ cơ chế của đời sống tinh thần cá nhân trong mọi hoạt động của conngười Mặc dù con người được nhận thức từ góc độ duy tâm khách quan, nhưngHêghen là người khẳng định vai trò chủ thể của con người đối với lịch sử, đồngthời là kết qủa của sự phát triển lịch sử
Tư tưởng triết học của nhà duy vật Phoiơbắc đã vượt qua những hạn chếtrong triết học Hêghen để hy vọng tìm đến bản chất con người một cách đíchthực Phoiơbắc phê phán tính chất siêu tự nhiên, phi vật chất, phi thể xác về bảnchất con người trong triết học Hêghen, đồng thời khẳng định con người do sựvận động của thế giới vật chất tạo nên Con người là kết quả của sự phát triểncủa thế giới tự nhiên Con người và tự nhiên là thống nhất, không thể tách rời.Phoiơbắc đề cao vai trò và trí tuệ của con người với tính cách là những cá thểngười Đó là những con người cá biệt, đa dạng, phong phú, không ai giống ai.Quan điểm này dựa trên nền tảng duy vật, đề cao yếu tố tự nhiên, cảm tính,nhằm giải phóng cá nhân con người Tuy nhiên, Phoiơbắc không thấy được bảnchất xã hội trong đời sống con người, tách con người khỏi những điều kiện lịch
sử cụ thể Con người của Phoiơbắc là phi lịch sử, phi giai cấp và trừu tượng
Có thể khái quát rằng, các quan niệm về con người trong triết học trướcMác, dù là đứng trên nền tảng thế giới quan duy tâm, nhị nguyên luận hoặc duyvật siêu hình, đều không phản ánh đúng bản chất con người Nhìn chung, cácquan niệm trên đều xem xét con người một cách trừu tượng, tuyệt đối hoá mặttinh thần hoặc thể xác con người, tuyệt đối hoá mặt tự nhiên - sinh học màkhông thấy mặt xã hội trong đời sống con người Tuy vậy, một số trường pháitriết học vẫn đạt được một số thành tựu trong việc phân tích, quan sát conngười, đề cao lý tính, xác lập các giá trị về nhân bản học để hướng con ngườitới tự do Đó là những tiền đề có ý nghĩa cho việc hình thành tư tưởng về conngười của triết học mácxít
2 Quan điểm của triết học Mác- Lênin về con người
2.1 Quan niệm của triết học Mác - Lênin về bản chất con người.
2.1.1 Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh học với
mặt xã hội.
Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết
học, đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinhhọc và yếu tố xã hội
Trang 8Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là sản phẩm củathế giới tự nhiên Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinhhọc, tính loài Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sựtồn tại của con người Vì vậy, giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con người”.Con người là một bộ phận của tự nhiên.
Là động vật cao cấp nhất, tinh hoa của muôn loài, con người là sảnphẩm của quá trình phát triển hết sức lâu dài của thế giới tự nhiên Con ngườiphải tìm kiếm mọi điều kiện cần thiết cho sự tồn tại trong đời sống tự nhhiênnhư thức ăn, nước uống, hang động để ở Đó là quá trình con người đấu tranhvới tự nhiên, với thú dữ để sinh tồn Trải qua hàng chục vạn năm, con người đãthay đổi từ vượn thành người, điều đó đã chứng minh trong các công trìnhnghiên cứu của Đácuyn Các giai đoạn mang tính sinh học mà con người trảiqua từ sinh thành, phát triển đến mất đi quy định bản tính sinh học trong đờisống con người Như vậy, con người trước hết là một tồn tại sinh vật, biểu hiệntrong những cá nhân con người sống, là tổ chức cơ thể của con người và mốiquan hệ của nó đối với tự nhiên Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học,quá trình tâm - sinh lý, các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinhhọc của cá nhân con người
Tuy nhiên, điều cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tốduy nhất quy định bản chất con người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữacon người với thế giới loài vật là mặt xã hội Trong lịch sử đã có những quanniệm khác nhau phân biệt con người với loài vật, như con người là động vật sửdụng công cụ lao động Là “một động vật có tính xã hội”, hoặc con người độngvật có tư duy
Những quan niệm nêu trên đều phiến diện chỉ vì nhấn mạnh một khíacạnh nào đó trong bản chất xã hội của con người mà chưa nêu lên được nguồngốc của bản chất xã hội ấy
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đềcon người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của
nó, mà trước hết là vấn đề lao động sản xuất ra của cải vật chất
C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu lên vai trò lao động sản xuất của conngười: “Có thể phân biệt con người với súc vật bằng ý thức, bằng tôn giáo, nóichung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản thân con người bắt đầu bằng sự tự
phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh
hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định.Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếpsản xuất ra chính đời sống vật chất của mình”
Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người đã làm thay đổi, cảibiến toàn bộ giới tự nhiên : “Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn conngười thì tái sản suất ra toàn bộ giới tự nhiên”
Trang 9Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất.Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất
và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ tưduy; xác lập quan hệ xã hội Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thànhbản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trongcộng đồng xã hội
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và pháttriển của con người luôn bị quy định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau nhưngthống nhất với nhau Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp
cơ thể với môi trường, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến dị, tiếnhoá quy định phương diện sinh học của con người Hệ thống các quy luật tâm
lý - ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh học của con người nhưhình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí Hệ thống các quy luật xã hộiquy định quan hệ xã hội giữa người với người
Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoànchỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội Mốiquan hệ sinh học và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học
và nhu cầu xã hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở; nhu cầu táisản suất xã hội; nhu cầu tình cảm; nhu cầu thẩm mỹ và hưởng thụ các giá trịtinh thần
Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệgiữa mặt sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hộitrong mỗi con người là thống nhất Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên củacon người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loàivật Nhu cầu sinh học phải được nhân hoá để mang giá trị văn minh của conngười, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhucầu sinh học Hai mặt trên thống nhất với nhau, hoà quyện vào nhau để tạothành con người viết hoa, con người tự nhiên - xã hội
2.1.2 Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội.
Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con ngườivượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tựnhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người Cả ba mốiquan hệ đó, suy đến cùng đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữangười với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác vàmọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người
Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên
luận đề nổi tiếng trong Luận cương về Phoiơbắc :“Bản chất con người không
phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thựccủa nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội”
Trang 10Luận đề trên khẳng định rằng, không có con người trừu tượng thoát lymọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội Con người luôn luôn cụ thể, xác địnhsống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định Trongđiều kiện lịch sử đó, bằng mọi hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ranhững giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trítuệ Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó (như quan hệ giai cấp, dân tộc,thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội ) conngười mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình.
Điều cần lưu ý là luận đề trên khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa
là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người; trái lại, điều đó muốn nhấnmạnh sự phân biệt giữa con người và thế giới động vật trước hết là ở bản chất
xã hội và đấy cũng là để khắc phục sự thiếu sót của các nhà triết học trước Máckhông thấy được bản chất xã hội của con người Mặt khác, cái bản chất với ýnghĩa là cái phổ biến, cái mang tính quy luật chứ không thể là duy cái duy nhất
Do đó cần phải thấy được các biểu hiện riêng biệt, phong phú và đa dạng củamỗi cá nhân về cả phong cách, nhu cầu và lợi ích trong cộng đồng xã hội
2.1.3 Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử
Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại
con người Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hoá lâu dàicủa giới hữu sinh Song, điều quan trọng hơn cả là: con người luôn luôn là chủthể của lịch sử - xã hội C.Mác đã khẳng định “ Cái học thuyết duy vật chủnghĩa cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và giáo dục cáihọc thuyết ấy quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản
thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục” Trong tác phẩm Biện chứng
của tự nhiên, Ph.Ăngghen cũng cho rằng : “ thú vật cũng có một lịch sử phát
triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng Nhưng lịch sử ấykhông phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việclàm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và không phải do ýmuốn của chúng Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩahẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử của mìnhmột cách có ý thức bấy nhiêu”
Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn,tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận độngphát triển của lịch sử xã hội Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện có sẵncủa tự nhiên Con người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình đểlàm phong phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mụcđích của mình
Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử củamình Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch
sử của chính bản thân con người Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện