1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC VÀ CÁC TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC TRONG LỊCH SỬ

27 5,6K 88
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 195,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ nghĩa duy tâm làtrường phái triết học xuất phát từ quan điểm bản chất của thế giới là ý thức, ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai; ý thức cótrước và quyết định vật chất

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

Trang 2

Bài làm:

Vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa tư duy và tồntại, giữa tâm và vật, giữa ý thức và vật chất Nó là vấn đề cơ bản

vì việc giải quyết nó sẽ quyết định cơ sở để giải quyết những vấn

đề khác của triết học, điều đó đã được chứng minh trong lịch sửphát triển lâu dài và phức tạp của triết họ, mặt khác nó cũng là làtiêu chuẩn để xác lập trường thế giới quan của các triết gia và họcthuyết của họ Theo Ăngghen: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triếthọc, đặc biệt là triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy

và tồn tại” Vì việc giải quyết vấn đề này là cơ sở và điểm xuấtphát để giải quyết các vấn đề khác của triết học

Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:

- Mặt thứ nhất, giữa ý thức và vật chất, cái nào có trước, cái nào

có sau? Cái nào quyết định cái nào?

- Mặt thứ hai, con người có khả năng nhận thức được thế giớihay không?

Việc giải hai mặt cơ bản của triết học là xuất phát điểm của cáctrường phái triết học Trả lời mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triếthọc đã xuất hiện nhất nguyên luận khi lấy việc thừa nhận chỉ mộttrong hai thực thể (vật chất hoặc ý thức) là cái có trước và quyếtđịnh cái kia, nghĩa là cho rằng thế giới chỉ có một nguồn gốc duynhất Nhất nguyên luận bao gồm nhất nguyên luận duy tâm (chủnghĩa duy tâm, triết học duy tâm) và nhất nguyên luận duy vật(chủ nghĩa duy vật, triết học duy vật) Chủ nghĩa duy tâm làtrường phái triết học xuất phát từ quan điểm bản chất của thế giới

là ý thức, ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai; ý thức cótrước và quyết định vật chất Chủ nghĩa duy tâm có nguồn gốcnhận thức và nguồn gốc xã hội, đó là sự xem xét phiến diện, tuyệtđối hoá, thần thánh hoá một mặt, một đặc tính nào đó của quátrình nhận thức, đồng thời thường gắn với lợi ích của các giai cấp,tầng lớp áp bức, bóc lột nhân dân lao động Mặt khác, chủ nghĩaduy tâm và tôn giáo cũng thường có mối liên hệ mật thiết vớinhau để cùng tồn tại và phát triển Chủ nghĩa duy tâm có hai hình

Trang 3

thức cơ bản là chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâmkhách quan Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhấtcủa ý thức con người, khẳng định mọi sự vật, hiện tượng chỉ làphức hợp những cảm giác của cá nhân Đại biểu là GióocgiơBéccli ông là nhà triết học duy tâm chủ quan, vị linh mục ngườiAnh Triết học của ông chứa đầy tư tưởng thần bí, đối lập với chủnghĩa duy vật và chủ nghĩa vô thần Ông dựa vào quan điểm củacác nhà duy danh luận thời trung cổ để khẳng định rằng, kháiniệm về vật chất không tồn tại khách quan, mà chỉ tồn tại nhữngvật thể cụ thể, riêng rẽ; sự tranh cãi về khái niệm vật chất là hoàntoàn vô ích, khái niệm đó chỉ là cái tên gọi thuần tuý mà thôi

Vậy đối với triết học Béccli thì các vật thể cụ thể cảm tính đượchiểu như thế nào? Với tính cách một nhà triết học duy tâm chủquan, ông đưa ra một mệnh đề triết học nổi tiếng “vật thể trongthế giới quanh ta là sự phức hợp của các cảm giác” Thí dụ, cáibàn, đó không phải là một vật thể hữu hình mà chỉ là do mắt tanhìn thấy nó có hình khối; màu sắc, hương vị của hoa quả cũngchỉ do cảm giác của con người nhận biết Chúng không tồn tạithật Nói tóm lại, theo Béccli, mọi vật thể chỉ tồn tại trong chừngmực mà người ta cảm biết được chúng Ông tuyên bố: tồn tại cónghĩa là được cảm biết Như vậy chủ nghĩa duy tâm chủ quancuối cùng đã đưa triết học của Béccli đến chủ nghĩa duy ngã, đếnchỗ phủ nhận sự tồn tại khách quan, tồn tại thật sự của sự vật, kể

cả con người, chỉ loại trừ chủ thể đang nhận thức (tức con người

có cảm giác), loại trừ cái “tôi” mà thôi Để cố gắng tránh rơi vàochủ nghĩa duy ngã đầy phi lí, Béccli đã chuyển từ chủ nghĩa chủnghĩa duy tâm chủ quan sang chủ nghĩa duy tâm khách quan Ôngkhẳng định rằng: chủ thể nhận thức thì không phải chỉ có một, khimột vật nào đó khi không còn nhận thức bởi một chủ thể này thì

nó lại tiếp tục được nhận thức bởi các chủ thể khác Và thậm chítất cả các chủ thể (con người) không còn nữa thì vật thể vẫn tồntại như là tổng số tư tưởng trong trí tuệ Thượng đế Và Thượng đếcũng là một chủ thể, nhưng tồn tại vĩnh cữu và luôn luôn đưa vàotrong ý thức những chủ thể riêng lẽ (con người) nội dung của cảmgiác

Trang 4

Về bản chất giai cấp, triết học Béccli là phản ánh hệ tư tưởngcủa giai cấp tư sản đã giành được chính quyền, rất sợ tư tưởngtiến bộ, cách mạng Vì vậy không phải ngẫu nhiên trong triết họccủa mình, Béccli đã sử dụng phép siêu hình, chủ nghĩa cơ giới đểchống lại những tư tưởng tiến bộ trong khoa học, như chống lạiquan niệm của Niutơn về không gian như bể chứa những vật thểtrong tự nhiên; chống lại luận điểm của Lốccơ về nguồn gốc củakhái niệm vật chất và không gian

Do vậy, triết học của Béccli là mẫu mực và là một trong nhữngnguồn gốc của các lí thuyết triết học tư sản duy tâm chủ quan cuốithế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX

Chủ nghĩa duy tâm khách quan - thừa nhận tính thứ nhất củatinh thần, ý thức những tinh thần, ý thức ấy được quan niệm làtinh thần khách quan, ý thức khách quan có trước và và tồn tạiđộc lập với giới tự nhiên và con người Thực thể tinh thần, ý thứckhách quan này thường được mang các tên gọi khác nhau như “ýniệm”, “ý niệm tuyệt đối”, “tinh thần tuyệt đối”, “lí tính thế giới”.Đại biểu là Platôn (427- 347 TCN) ông là nhà triết học duy tâmkhách quan Điểm nổi bật trong hệ thống triết học duy tâm của

Platôn là “học thuyết về ý niệm” Trong thuyết này, Platôn đưa ra

quan điểm về hai thế giới: thế giới các sự vật cảm biến là khôngchân thực, không đúng đắn, vì các sự vật không ngừng sinh ra vàmất đi, luôn luôn thay đổi, vận động, trong chúng không có cái gìbền vững, ổn định, hoàn thiện Còn thế giới ý niệm là thế giới củacái phi cảm tính, phi vật thể, là thế giới của đúng đắn, chân thực

sự cảm biết chỉ là cái bóng của ý niệm Nhận thức của con người,theo Platôn không phải là phản ánh các sự vật cảm biến của thếgiới khách quan, mà là nhận thức về ý niệm Thế ý niệm có trướcthế giới các vật cảm biết, sinh ra thế giới cảm biết Ví dụ: cái cây,con ngựa, nước sinh ra Hoặc khi nhìn các sự vật thấy là bằngnhau vì trong đầu ta đã có sẳn ý về sự bằng nhau Từ quan niệmtrên, Platôn đưa ra khái niệm “tồn tại” và không “tồn tại” “Tồntại” theo ông là cái phi vật chất, cái được nhận biết bằng trí tuệsiêu nhiên, là cái có tính thứ nhất Còn “không tồn tại” là vật chất,cái có tính thứ hai so với cái tồn tại phi vật chất Như vậy, học

Trang 5

thuyết về ý niệm và tồn tại của Platôn mang tính chất khách quan

rõ nét Lí luận nhận thức của Platôn cũng có tính chất duy tâm.Theo ông tri thức, là cái có trước sự vật cảm biết mà không phải

là sự khái quát kinh nghiệm trong quá trình nhận các sự vật đó.Nhận thức cảm tính có sau nhận thức lý tính, vì linh hồn trước khinhập vào thể xác con người ở trần thế thì ở thế giới bên kia đã cósẳn các tri thức Do vậy nhận thức con người không phải phảnánh các sự vật của thế giới khách quan, mà chỉ là quá trình nhớlại, hồi tưởng lại của linh hồn những cái đã lãng quên trong quákhứ Platôn cho rằng, những ý kiến xác thực được khơi dậy, đượchồi tưởng lại nhờ các câu hỏi đối thoại giữa loài người thì sẽ trởthành tri thức; Platôn gọi cách thức đối thoại như vậy là phươngpháp biện chứng Trên cơ sở đó, Platôn phân ra thành hai loại trithức: tri thức hoàn toàn đúng đắn, tin cậy và tri thức mờ nhạt.Loại thứ nhất là tri niệm ý niệm, tri thức của linh hồn trước khinhập vào thể xác có được nhờ hồi tưởng Loại thứ hai là tri thứcnhờ vào nhận thức cảm tính, ở đó lẫn lộn đúng sai và không cóchân lý

Quan niệm lý tưởng của ông về xã hội thể hiện tập trung trongquan niệm về nhà nước lý tưởng Ông phê phán ba hình thức nhànước trong lịch sử Một là, nhà nước của bọn vua chúa xây dựngtrên sự khát vọng giàu có ham danh vọng đưa tới sự cướp đoạt.Hai là, nhà nước quân phiệt nhà nước của số ít kẻ giàu có áp bức

số đông, nhà nước đối lập giữa giàu và nghèo đưa tới các tội ác

Ba là, nhà nước dân chủ là nhà nước tồi tệ, quyền lực thuộc về sốđông, sự đối lập giàu nghèo trong nhà nước này là hết sức gaygắt Còn nhà nước lí tưởng của mình, Platôn phân ra thành ba lớpngười làm các công việc khác nhau Tầng lớp người thấp nhấttrong xã hội là người nông dân, thợ thủ công, thương nhân làmcác công việc đồng ruộng, thủ công và buôn bán Tầng lớp vệquân làm công việc chiến tranh Tầng lớp các nhà thông thái, cácnhà triết học thì làm chính trị gia, điều hành xã hội Sự tồn tại vàphát triển của nhà nước lý tưởng dựa trên sự phát triển của sảnxuất vật chất, sự phân công hài hoà các ngành nghề và giải quyếtmâu thuẫn giữa các nhu cầu xã hội Để khắc phục tình trạng phân

Trang 6

chia giàu nghèo, theo Platôn, cần xoá bỏ gia đình và sở hữu Trẻ

em sinh ra cần được đưa vào các cơ sở giáo dục riêng, lựa chọnnhững đứa trẻ khoẻ mạnh rèn luyện và nuôi dưỡng trở thành vệquân Các nhà thông thái cầm quyền cũng được lựa chọn trong số

vệ quân Sự vinh quang của nhà nước phụ thuộc vào các phẩmchất: sự thông thái, sự dũng cảm, sự chính nghĩa và phong độ duytrì chuẩn mục xã hội Trong đó sự thông thái chính là tri thức caonhất và là niềm vinh quang của riêng nhà triết học

Còn theo Hêgghen (1770 - 1831) cũng là một trong những nhàbiện chứng đồng thời nhà triết học duy tâm khách quan, triết họccủa ông đầy mâu thuẩn Nếu phương pháp biện chứng của ông làhạt nhân hợp lý, chứa đựng thiên tài về sự phát triển, thì hệ thốngtriết học duy tâm của ông phủ nhận tính chất khách quan củanhững nguyên nhân bên trong, vốn có của sự phát triển của tựnhiên và xã hội Ông cho rằng khởi nguyên của thế giới khôngphải là vật chất mà là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần thế giới”.Tính phong phú, đa dạng của thế giới hiện thực là kết quả của sựvận động và sáng tạo của ý niệm tuyệt đối Ý niệm tuyệt đối tồntại vĩnh viễn, “ý niệm tuyệt đối”, theo nhận xét của Lênin, chỉ làmột cách nói theo đường vòng, một cách nói khác về thượng đế

mà thôi Cho nên triết học của Hêghen là sự biện hộ cho tôn giáo.Ông là người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử tưduy dưới dạng một quá trình, nghĩa là trong sự vận động, biến đổi

và phát triển không ngừng Đồng thời trong khuôn khổ của hệthống triết học duy tâm của mình Hêghen không chỉ trình bày cácphạm trù như chất, lượng, phủ định, mâu thuẩn…mà còn nói đến

cả các quy luật như “lượng đổi dẫn đến chất đổi và ngược lại”,

“phủ định của phủ định”, và quy luật mâu thuẩn nhưng tất cảnhững cái đó chỉ là quy luật vận động và phát triển của bản thân

tư duy, của ý niệm tuyệt đối Trong hệ thống triết học của củaHêghen, không phải ý thức, tư tưởng phát triển trong sự phụthuộc vào sự phát triển của tự nhiên và xã hội, mà ngược lại, tựnhiên, xã hội phát triển trong sự phụ thuộc vào sự phát triển của ýniệm tuyệt đối Ý niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới là tính thứnhất, giới tự nhiên là tính thứ hai, do ý niệm tuyệt đối và tinh thần

Trang 7

thế giới sinh ra và quyết định, là một “sự tồn tại khác” của tinhthần sau khi trải qua giai đoạn “tồn tại khác” ấy, ý niệm tuyệt đốihay tinh thần thế giới mới trở lại “bản thân mình” và đó là giaiđoạn cao nhất, giai đoạn tột cùng, được Hêghen gọi là “tinh thầntuyệt đối”.

Ngoài Gióocgiơ Béccli và Hêgghen còn nhiều nhà triết họcthuộc nhiều trường phái khác nhau nhưng họ đều là những nhàtriết học theo chủ nghĩa duy tâm như : Plato, George Berkeley,Arthur Collier, Immanuel Kant, Fichte …

Theo Palato một phạm trù là mọi thứ cùng có một tính chất cụthể nào đó Ví dụ, bức tường, mặt trăng và một tờ giấy trắng đều

có màu trắng; "trắng" là phạm trù mà tất cả những thứ gì màutrắng cùng chia sẻ Plato lập luận rằng chính các phạm trù,các hình thức hay các ý niệm Plato là có thật, chứ không phảitừng vật cụ thể Do quan niệm này khẳng định rằng các thực thểtinh thần đó là "có thực", nên nó được gọi là "chủ nghĩa hiện thựcPlato (điều này rất dễ gây nhầm lẫn); theo nghĩa này, "chủ nghĩahiện thực" đối lập với thuyết duy danh (nominalism) - quan niệmrằng các trừu tượng hóa trong trí óc chỉ là những các tên không có

sự tồn tại độc lập Tuy nhiên, nó là một hình thức của chủ nghĩaduy tâm vì nó đặt vị thế của ý niệm về các phạm trù lên cao hơn

so với những sự vật vật lý

Còn với George Berkeley tri thức của ta phải được dựa trêncác nhận thức của ta Điều đó dẫn ông tới kết luận rằng đằng saunhận thức của ta thật sự không có đối tượng thực "khả tri" nào,rằng cái "có thực" là chính nhận thức Tư tưởng đó được đặc tả

trong khẩu hiệu của Berkeley: "Esse est aut percipi aut percipere"

hay "Tồn tại nghĩa là nhận thức hay được nhận thức", có nghĩa làmột thứ gì đó chỉ tồn tại, theo cách cụ thể mà nó được xem là tồntại, khi nó đang được nhận thức (nhìn thấy, sờ thấy, ) bởi mộtchủ thể Chủ nghĩa duy tâm chủ quan hay chủ nghĩa duy tâm giáođiều này đã dẫn đến việc ông đặt toàn bộ sức nặng của sự minhgiải lên các tri giác của ta Điều này để lại cho Berkeley một vấn

đề, tương tự như với các hình thức khác của chủ nghĩa duy tâm,

đó là giải thích tại sao mỗi người trong chúng ta đều có vẻ có các

Trang 8

tri giác ít nhiều giống nhau về một đối tượng Ông đã giải quyếtvấn đề này bằng cách đưa Chúa trời vào can thiệp với vai trònguyên nhân trực tiếp của mọi tri giác của ta.

Cũng như George Berkeley nhà triết học Arthur Collier chorằng vật chất, vì chỉ là nguyên nhân cho tấm hình đại diện đó, làkhông thể tưởng tượng được và do đó không là gì đối với chúng

ta Một thế giới bên ngoài không có liên hệ gì với một người quansát, trong vai trò chủ đề tuyệt đối, không tồn tại trong các nhậnthức của con người Vì chỉ là một biểu lộ của tâm trí, vũ trụkhông thể nào tồn tại dưới dạng chúng ta đang thấy nếu không cótâm trí để lãnh hội nó Như vậy Arthur Collier cũng là một trongnhững nhà triết học duy tam chủ quan

Còn Immanuel Kant thì cho rằng khi ta nhận thức thế giới, tâmthức ta định hình thế giới theo không gian và thời gian Kant chútrọng vào quan niệm rút từ chủ nghĩa kinh nghiệm Anh (và cáctriết gia của trường phái đó như Locke, Berkeley và Hume) chorằng tất cả những gì ta có thể biết là các ấn tượng trí óc, hoặccác hiện tượng, mà thế giới bên ngoài (có thể tồn tại hoặc khôngtồn tại) tạo ra một cách độc lập trong tâm thức ta; tâm thức takhông bao giờ có thể nhận thức thế giới bên ngoài một cách trựctiếp Kant bổ sung rằng tâm thức không phải là một tấm bảngtrống trơn (ngược lại với John Lock) mà nó được trang bị cácphạm trù để sắp xếp tổ chức các ấn tượng giác quan Kiểu chủnghĩa duy tâm này của Kant mở ra một thế giới của các trừutượng hóa (nghĩa là, các phạm trù phổ quát mà tâm thức sử dụng

để hiểu về các hiện tượng) để cho lý tính khám phá, nhưng tráingược với chủ nghĩa duy tâm Plato ở chỗ nó khẳng định sự khôngchắc chắn về một thế giới không thể biết được ở bên ngoài tâmthức của chính ta Ta không thể tiếp cận vật tự thân (tiếngĐức: Ding an Sich) nằm ngoài thế giới tâm thức của ta (Chủnghĩa duy tâm của Kant được gọi là chủ nghĩa duy tâm siêunghiệm.)

VớiJohann Fichte phủ nhận vật tự thân của Kant, ông cho rằng

ý thức tự xây dựng cơ sở cho mình, rằng cái tôi tinh thần của bảnthân không dựa vào thế giới bên ngoài, và rằng giả thiết về một

Trang 9

vật bên ngoài thuộc bất cứ kiểu nào cũng giống như thừa nhận vềmột vật chất có thực Ông là người đầu tiên thử xây dựng một lýthuyết về tri thức mà không dựa trên bất cứ một phỏng đoán nào,trong đó không có cái gì bên ngoài tư duy được giả thiết là tồn tạibên ngoài phân tích khởi đầu về khái niệm Nhờ đó nhận thức cóthể đặt nền móng chỉ trên chính nó, và không giả định bất cứ điều

gì mà không suy dẫn từ đó trước nhất (Quan điểm này khá tương

tự với chủ nghĩa duy tâm thực tế (actual idealism) của GiovanniGentile, chỉ khác ở chỗ lý thuyết của Gentile tiến xa hơn, đến chỗthậm chí phủ nhận cả cơ sở cho một bản ngã hay cái tôi được tạo

ra từ tư duy.)

Ngược lại, chủ nghĩa duy vật là trường phái triết học xuấtphát từ quan điểm bản chất của thế giới là vật chất, vật chất làtính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai; vật chất là cái có trước vàquyết định ý thức Chủ nghĩa duy vật có nguồn gốc từ sự pháttriển của khoa học và thực tiễn, thường gắn với lợi ích của giaicấp và lực lượng tiến bộ trong lịch sử Nó là kết quả của quá trìnhđúc kết khái quát kinh nghiệm đề vừa phản ánh những thành tựu

mà con người đã đạt được trong từng giai đoạn lịch sử, vừa địnhhướng cho các lực lượng xã hội tiến bộ hoạt động trên nền tảngcủa những thành tựu ấy

Chủ nghĩa duy vật là một hình thức của thực hữu luận vớiquan niệm rằng thứ duy nhất có thể được thực sự coi là tồntại là vật chất; rằng, về căn bản, mọi sự vật đều có cấu tạo từ vậtchất và mọi hiện tượng đều là kết quả của các tương tác vật chất.Khoa học sử dụng một giả thuyết, đôi khi được gọi là thuyết tựnhiên phương pháp luận, rằng mọi sự kiện quan sátđược trong thiên nhiên được giải thích chỉ bằng các nguyên nhân

tự nhiên mà không cần giả thiết về sự tồn tại hoặc không-tồn tạicủa cái siêu nhiên Với vai trò một học thuyết, chủ nghĩa duy vậtthuộc về lớp bản thể học nhất nguyên Như vậy, nó khác với cáchọc thuyết bản thể học dựa trên thuyết nhị nguyên hay thuyết đanguyên Xét các giải thích đặc biệt cho thực tại hiện tượng, chủnghĩa duy vật đứng ở vị trí đối lập hoàn toàn với chủ nghĩa duy

Trang 10

tâm Từ khi ra đời đến nay, chủ nghĩa duy vật đã trải qua 3 giaiđoạn cơ bản: chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêuhình và chủ nghĩa duy vật biện chứng Chủ nghĩa duy vật chấtphác ra đời vào thời cổ đại ở Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp.Hình thức cơ bản thứ hai của chủ nghĩa duy vật thể hiện khá rõ ởcác nhà triết học từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII Tuy những quanđiểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình có tính chất kế thừa từnhững quan điểm của chủ nghĩa duy vật chất phác nhưng nó có sựphát triển hơn do cơ học cổ điển thời kỳ này đạt được nhữngthành tựu rực rỡ Đến những năm 40 của thế kỷ XIX, chủ nghĩaduy vật biện chứng đã ra đời mà C.Mác và Ăngghen là nhữngngười xây dựng và Lênin là người hoàn thiện và bổ sung

Trước hết ta xét hình thức thứ nhất của chủ nghĩa duy vật làChủ nghĩa duy vật cổ đại còn gọi là chủ nghĩa duy vật chất phác,ngây thơ, xuất hiện trong chế độ chiếm hữu nô lệ như ở Ấn Độ,Trung Hoa, Hylạp Về thế giới quan là duy vật có ý nghĩa chốnglại những tư tưởng sai lầm của triết học duy tâm và tôn giáo;nhưng về mặt phương pháp luận thì chưa có cơ sở khoa học, bởi

nó mang tính trực quan, cảm tính chủ yếu dựa vào tri thức kinhnghiệm của chính bản thân các nhà triết học hơn là những kháiquát khoa học của bản thân tri thức triết học Vì, quan niệm về thếgiới là vũ trụ, là vạn vật, vật chất là vật thể cụ thể hoặc thuộc tínhcủa vật thể cụ thể, v.v… còn ý thức là linh hồn, là cảm giácnhưng nó phụ thuộc vào vật chất

Ănghen viết: “Quan niệm về thế giới một cách nguyên thủy,ngây thơ, nhưng căn bản là đúng ấy, là quan niệm của các nhàtriết học Hy lạp thời cổ, và nguời đầu tiên diễn đạt được rõ ràngquan niệm ấy là Héraclite: mọi vật đều tồn tại nhưng đồng thời lạikhông tồn tại, vì mọi vật đều trôi đi, mọi vật đều không ngừngthay đổi, mọi vật đều luôn ở trong quá trình xuất hiện và biến đi”.Quan điểm của chủ nghĩa duy vật thời kỳ này nói chung là đúngđắn nhưng mang tính ngây thơ chất phác vì chủ yếu dựa vào quansát trực tiếp, chưa dựa vào các thành tựu của các bộ môn khoahọc chuyên ngành vì lúc đó chưa phát triển.

Trang 11

Tiêu biểu cho chủ nghĩa duy vật cổ đại còn gọi là chủ nghĩaduy vật chất phác, ngây thơ là Đêmôcrít (460 – 370 TCN) Ông lànhà Triết học duy vật cổ đại nhất trong thế giới cổ đại Ông làngười hiểu biết sâu rộng rất nhiều lĩnh vực: Triết học, toán học,đạo đức học, sinh vật học… là học trò và người kế tục phát triểnquan điểm của Lơxip Nổi bật trong triết học duy vật của ông làhọc thuyết về nguyên tử Đêmôcrit cho rằng nguyên tử khôngnhìn thấy được, không âm thanh, màu sắc và mùi vị Chúng đồngnhất với nhau về chất nhưng khác nhau về hình thức, thứ tự và tưthế Ông quan niệm nguyên tử là vô hạn về lượng và hình thức.Mỗi sự vật đều được cấu tạo bởi những nguyên tử do sự kết hợpgiữa chúng với nhau theo một trật tự và thế nhất định Sự biếnđổi vật chất là do sự thay đổi trình tự sắp xếp của những nguyên

tử tạo thành còn bản thân nguyên tử thì không thay đổi Nguyên

tử luôn vận động trong không gian ông thấy rõ quan hệ chặt chẽgiữa vật chất và vận động Vận động là vốn có của nguyên tử chứkhông phải được đưa từ ngoài vào Nhưng ông chưa thấy đượcnguồn gốc của vận động và vận động không chỉ là sự di chuyểntrong chân không của các nguyên tử Dựa vào thuyết nguyên tử,Đêmôcrit thừa nhận sự ràng buộc lẫn nhau theo quy luật nhân quảtính khách qan trong tính tất yếu của sự vật, hiện tượng tự nhiên

Đó là đóng góp quan trọng của Đêmôcrit vào triết học duy vật.Song ông lại phủ nhận tính ngẫu nhiên, ông coi ngẫu nhiên là mộthiện tượng không có nguyên nhân Đêmôcrit bác bỏ quan nhiệm

về sự sản sinh ra sự sống và con người của thần thánh Theo ông

sự sống là kết quả của quá trình biến đổi dần đần từ thấp đến caocảu tự nhiên Sinh vật đầu tiên sống ở dưới nước, sau đó chuyểnlên cạn, cuối cùng con người được ra đời Ông coi cái chết là sựphân tích của các nguyên tử tạo nên xác và của những nguyên tửcấu tạo lên tinh hồn chứ không phải linh hồn rời khởi thể xác.Tuy quan niệm của Đêmôcrit còn mang tính mộc mạc song nó giữvai trò rất quan trọng trong việc chống các quan điểm duy tâm vàtôn giáo về tính bất tử của linh hồn người Đêmôcrit đã có cônglao to lớn trong xây dựng lý luận nhận thức giải quyết một cáchduy vật vấn đề đối tượng của nhận thức, vai trò của cảm giác là

Trang 12

điểm khởi đầu của nhận thức và tư duy trong việc nhận thức thếgiới

Ông cho rằng đối tượng của nhận thức là vật chất, là thế giớixung quanh con người và nhờ sự tác động của đối tượng nhậnthức vào con người nên con người mới nhận thức được Đêmôcritphân chia nhận thức thành nhận thức mờ tối và nhận thức chân lý.Nhận thức mờ tối do các giác quan đem lại còn nhận thức chân lý

là do sự phân tích sâu sắc về sự vật để nắm bắt bản chất bên trongcủa nó.Triết học duy vật của Đêmôcrit đã đóng vai trò quan trọngtrong chủ nghĩa vô thần Ông cho rằng sự tồn tại của thần chẳngqua là sự cách hoá những hiện tượng của tự nhiên hay nhữngthuộc tính của con người chẳng hạn thần Dớt là sự nhân cách hoámặt trời, thần ATêna là sự nhân cách hoá thuộc tính của conngười

Khái niệm nguyên tử được xây dựng trên cở sở các khái niệm

về “tồn tại” và “không tồn tại” Theo ông “tồn tại” là cái được xácđịnh, cái đa dạng, cái có ngoại hình Độc lập với cái “tồn tại” làcái “không tồn tại” hay cái “trống rỗng” Cái trống rỗng là cáikhông xác định, cái vô hình, bất động vô hạn Nó không ảnhhưởng gì đến cái vật thể nằm trong nó, nhờ nó mà các vật thể cóthể vận động được Cái phần vật chất thuộc cái tồn tại mà khôngchứa đựng trong nó một sự trống rỗng nào để cho phép phân chia

nó nhỏ hơn nữa, được gọi là nguyên tử Vì vậy, nguyên tử là hạtvật chất không thể phân chia được nữa, hoàn toàn nhỏ bé vàkhông thể cảm nhận bằng trực quan Nguyên tử là vĩnh cửu khôngthay đổi, trong lòng nó không có cái gì xảy ra nữa Nguyên tử có

vô vàn hình dạng Theo quan niệm của Đêmôcrít các sự vật là docác nguyên tử liên kết lại với nhau tạo nên Tính đa dạng củanguyên tử làm nên tính đa dạng của thế giới các sự vật Nguyên

tử tự thân, không vận động, nhưng khi kết hợp với nhau thành vậtthể thì làm cho vật thể và thế giới vận động không ngừng Trong

lý luận nhận thức, khái niệm linh hồn được Đêmôcrít cũng nhưcác nhà duy vật cổ đại hiểu như là hoạt động tâm linh Linh hồn làtiêu chuẩn cơ bản để phân biệt thế giới hữu sinh và thế giới vô

Trang 13

sinh Linh hồn, theo ông cũng là một dạng vật chất, được cấu tạo

từ các nguyên tử đặc biệt có hình cầu, linh động như ngọn lửa, cóvận tốc lớn, luôn luôn động và sinh ra nhiệt làm cho cơ thể hưngphấn và vận động Do đó linh hồn có một chức năng quan trọngđem lại cho cơ thể sự khởi đầu vận động Trao đổi chất với môitrường bên ngoài cũng là một chức năng của linh hồn và đượcthực hiện thông qua hiện tượng thở của con người Như vậy linhhồn là không bất tử, nó chết cùng thể xác Về các dạng nhận thứccủa con người, Đêmôcrít phân thành nhận thức do các cơ quancảm giác đem lại và nhận thức nhờ lý tính Nhận thức đem lại do

cơ quan cảm giác là loại nhận thức mờ tối, chưa đem lại chân lý.Còn nhận thức lý tính là nhận thức thông qua phán đoán và chophép đạt chân lý, vì nó chỉ ra cái khởi nguyên của thế giới lànguyên tử, tính đa dạng của thế giới là do sự sắp xếp khác nhaucủa các nguyên tử Trong lĩnh vực chính trị - xã hội, Đêmôcríttrình bày các quan điểm của mình trên lập trường tư tưởng củagiai cấp chủ nô dân chủ Ông coi chế độ nô lệ là hợp đạo lý, cần

sử dụng nô lệ như các bộ phận của thân thể Đêmôcrít đã cónhững quan điểm tiến bộ về mặt đạo đức Phẩm chất con người,theo ông không phải ở lời nói mà việc làm Con người cần hànhđộng có đạo đức Còn hạnh phúc của con người là ở khả năng trítuệ, khả năng tinh thần nói chung Đỉnh cao của hạnh phúc là trở

thành nhà thông thái, thở thành công dân của thế giới.

Mặt khác đối với Sam Khuya : vào thời gian đầu, triết lýSamkhuya không thừa nhận "tinh thần vũ trụ tối cao" phủ nhận sựtồn tại của thần Ngược lại nó khẳng định thế giới này là thế giớivật chất Đã giải thích mọi vật của thế giới là kết quả của sự thốngnhất ba yếu tố Đó là Sativa (sự trong sáng; Tamas (tính ỳ thụđộng) và Rajas (kích thích động) Khi 3 yếu tố này ở trạng tháicân bằng thì vật chất đầu tiên chưa biểu hiện nhưng khi cân bằng

bị phá vỡ thì sinh thành vạn vật của vũ trụ

Tuy nhiên quan niệm về vật chất của phái Samkhuya còn cónhiều hạn chế Họ cho ràng dạng vật chất đầu tiên là không nhận

Ngày đăng: 25/06/2015, 07:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w