1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NỘI DUNG ôn THI học sinh giỏi ngữ văn 9

102 257 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Nêu đề tài hoặc nội dung chính đặc sắc của bài thơ: bài thơ là bài ca chiến trận thấm đẫm màu sắc lãng mạn ghi lại hình ảnh người chiến sĩ lái xe dũng cảm, lạc quan và có chút tếu nga

Trang 1

LÝ THUYẾT VỀ ĐOẠN VĂN

I Liên kết:

- Khái niệm: Liên kết là những mối quan hệ qua lại chặt chẽ giữa các câu, giữa các đoạn, giữa

các phần, các bộ phận của văn bản Chính tính liên kết là cơ sở để tạo nên tính chỉnh thể của

văn bản

1 Thế nào là liên kết câu? Phương tiện liên kết bao gồm những gì? Cho ví dụ minh hoạ?

- Liên kết câu trong văn bản thực chất là thực hiện những mối quan hệ ý nghĩa giữa câu với câu,câu với toàn văn bản Các câu liên kết với nhau phải có nội dung cùng hướng về sự việc chung cần nói đến

- Phương tiện liên kết phong phú: Những từ ngữ, tổ hợp từ…

- VD1: …Từ những năm đau thương chiến đấu

Đã ngời lên nét mặt quê hương

Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu

Đã bật lên những tiếng căm hờn

( “ Đất nước” - Nguyễn Đình Thi)

=> Các từ, tổ hợp từ: “ từ” với “ từ”, “ đã” với “ đã”, “ nét mặt quê hương” với “ gốc lúa bờ tre” Các phương tiện lên kết ấy cùng hướng về một nội dung chung nhất: thời gian đã dồn nén

lòng căm thù giặc, tích tụ tình yêu quê hương và nuôi dưỡng ý chí chiến đấu để bảo vệ quê

hương

2 Phép liên kết là gì? Phép liên kết đa dạng như thế nào? Cho ví dụ?

- Phép liên kết: là cách sử dụng những phương tiện liên kết cùng loại để liên kết câu.

- Phép liên kết khá đa dạng và biến hoá: Phép nối, phép lặp, phép thế, phép liên tưởng, phép nghịch đối, phép trật từ tuyến tính….

- VD: “ Nước non nặng một lời thề,

Nứơc đi đi mãi, không về cùng non.

Nhớ lời nguyện nước thề non,

Nứơc đi chưa lại, non còn nhớ không”.

( “ Thề non nước” - Tản Đà)

a Phép nối:

- Là cách liên kết câu bằng từ, tổ hợp từ có nội dung chỉ quan hệ

- Phương tiện dùng trong phép nối là: Quan hệ từ ( và, vì, nhưng, thì, mà, nếu, cho nên, rồi….),

các từ ngữ chuyển tiếp ( bời vậy, nếu thế, dẫu vậy, tuy thế, vậy mà, đã vậy….), các phụ từ ( lại,

cũng, lại còn ), các trợ từ, phó từ ( vẫn, càng, sẽ, cùng )

- Phân loại: 2 loại

+ Phép nối lỏng: là cách dùng phương tiện nối là những cụm từ liên kết mang tính chất

quan hệ thường đứng đầu câu hay đầu đoạn văn và thường tách ra với phần đứng sau bằng

dấu phẩy ( Nói tóm lại, viết cũng như mọi việc khác phải có chí, chớ dấu dốt, nhờ tự phê bình và phê bình mà tiến bộ - HCMinh).

+ Phép nối chặt: những phương tiện nối có tính chất sang đôi hô ứng nhau chặt chẽ như:

Vì… nên; nếu….thì; tuy… nhưng…

-> Phép nối rất quan trọng Nó làm cho văn liền mạch, lời với lời, câu với câu, đoạn với đoạn… gắn

bó chặt chẽ trong một chỉnh thể văn bản Nếu không biết sử dụng phép nối thì nói và viết sẽ rời rạc, kém cỏi

- VD: “ Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

Này đây lá của cành tơ đang phất;

Của yến anh này đây khúc tình si,

Trang 2

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi…

( “ Vội vàng”- Xuân Diệu)

b Phép lặp:

- Là cách dùng đi dùng lại một yếu tố ngôn ngữ nào đó để tạo ra tính liên kết

giữa các câu chứa yếu tố đó ( Lặp không chỉ để liên kết câu mà còn tạo ra những sắc thái tu từ khác nhau để nhấn mạnh ý, đề tạo nên nhạc điệu, nhịp điệu….)

- Có 3 cách sử dụng phép lặp: Lặp ngữ âm, lặp từ vựng(tạo cho văn bản tính chính xác, rõ ràng, chặt chẽ Trong một số trường hợp còn được dùng như một thủ pháp nghệ thuật), lặp cú pháp(tạo

cho văn bản những cấu trúc song hành đối xứng nhip nhàng giữa các câu, nó vừa là một hình thức

tạo mạch liên kết vừa là một biện pháp tu từ nhằm nhấn mạnh một nội dung nào đó ).

- Ví dụ: Một chú nhái con màu xanh lục nhảy dưới chân em Em định bắt nó Nó thoát được

Em đuổi theo nó và vồ hụt ba lần liền Cuối cùng em tóm lấy hai đầu chân sau của nó và em bật cười nhìn con vật cố giãy giụa thoát thân…

( “ Bố của Xi - mông”- Mô- pa- xăng) (Thế đại từ: Chú nhái -> nó; Thế bằng từ gần nghĩa: chú nhái -> con vật)

d Phép liên tưởng:

- Trong liên kết câu là cách dùng các từ, tổ hợp từ có quan hệ liên tưởng trong từng câu giúp tạo

ra sự liên kết giữa các câu chứa chúng

- VD: Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân ly chói qua tim

Hồn tôi là một vương hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim

Trang 3

- VD: Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh

Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ra rước Nhật Từ đó nhân dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn Kết quả

là từ cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kì, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

( “ Tuyên ngôn độc lập” - Hồ Chí Minh)

-> Đoạn văn có 4 câu, cấu trúc chặt chẽ theo phép liên kết trật tự tuyến tính trước sau:

- Sự việc diễn ra từ mùa thu 1940 đến đầu năm nay ( 1945)

- Sự việc phát triển theo thời gian và nhân - quả

Pháp hàng Nhật, rước Nhật vào Đông Dương-> dân ta một cổ 2 tròng-> càng cực khổ, nghèo nàn-> hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đói.

g Phép nghịch đối:

- Là cách dùng các từ, tổ hợp từ có quan hệ nghịch đối trong từng câu giúp tạo ra sự liên kết giữa các câu chứa chúng Nghịch đối giữa hai câu trái nghĩa nhau; nghịch đối giữa phủ định và khẳng định; nghịch đối trong miêu tả ước lệ có ý nghĩa trái ngược nhau

- VD: Thân thể ở tron lao

Tinh thần ở ngoài lao

( Hồ Chí Minh)

II Đoạn văn:

1 Đoạn văn là gì?

- Đoạn văn là một phần của văn bản ( là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản).

- Về nội dung: đoạn văn có thể hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn chỉnh

+ Khi đoạn văn chứa nội dung hoàn chỉnh, đoạn văn thể hiện một ý ( đoạn ý)

( Đủ cấu trúc 3 phần: Mở đoạn, triển khai đoạn, kết thúc đoạn-> thể hiện trọn vẹn một tiểu chủ

đề)

+ Khi đoạn văn chưa hoàn chỉnh, hai, ba đoạn mới thể hiện hoàn chỉnh một ý

( đoạn văn không trùng với đoạn ý).

- Về hình thức: có dấu hiệu mở đoạn ( lùi đầu dòng, viết hoa) và dấu hiệu kết thúc đoạn (dấu

ngắt câu, xuống dòng).

- VD: Vì ông lão yêu làng thiết tha nên vô cùng căm uất khi nghe tin làng theo giặc.(1)Hai tình

cảm tưởng chừng mâu thuẫn ấy đã dẫn đến một sự xung đột nội tâm dữ dội (2) Ông Hai dứt khoát lựa chọn theo cách của ông: Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì phải thù (3) Đây

là một nét mới trong tình cảm của người nông dân thời kì đánh Pháp(4) Tình cảm yêu nước rộng lớn hơn đã bao trùm lên tình cảm đối với làng quê (5) Dù xác định như thế, nhưng ông Hai vẫn không thể dứt bỏ tình yêu đối với quê hương; vì thế mà ông xót xa cay đắng(6).

* Nhận xét:

- Chủ đề của đoạn văn trên: Tâm trạng mâu thuẫn của ông Hai khi nghe tin làng mình

theo giặc ( Tập trung khái quát ở câu 1,2).

- Về nội dung: Đoạn văn trên có 3 phần.

+ Câu 1,2 là phần mở đoạn: phần này chứa đựng ý khái quát của đoạn văn, gọi là câu chủ

đề ( Câu chủ đề có thể là một hoặc hai câu)

+ Câu 3,4,5 là phần thân đoạn: phần này triển khai đoạn văn, mỗi câu văn đề cập tới một

biểu hiện cụ thể của chủ đề, liên quan đến chủ đề của đoạn văn

+ Câu 6 là phần kết đoạn: phần này khắc sâu chủ đề của đoạn.

- Về hình thức:

Trang 4

+ Đoạn văn trên được hình thành bằng 6 câu văn được liên kết với nhau bằng các phép liên kết hình thức: phép lặp, phép thế.

+ Đoạn văn trên được viết giữa hai dấu chấm xuống dòng, chữ cái đầu đoạn được viết hoa lùi vào một chữ

* Lưu ý: Đoạn văn trên có đủ kết cấu 3 phần, khi viết đoạn văn, không phải bao giờ cũng nhất

thiết có đủ 3 phần như vậy

VD: đoạn văn quy nạp, câu mở đầu đoạn không chứa đựng một ý khái quát mà là câu cuối cùng, đoạn diễn dịch, câu cuối cùng kết thúc đoạn không chứa đựng ý khái quát, chủ đề đã được nêu rõ ở câu mở đoạn

2 Đề tài trong đoạn văn?

- Đề tài trong đoạn văn là những sự vật, sự việc, hiện tượng chính được nói tới trong đoạn

văn

- Có đoạn chứa một đề tài, cũng có đoạn chứa hơn một đề tài, lại có đoạn văn chỉ chứa một bộ phận của đề tài

- VD: Đã sang thán tám, vùng cao không còn mưa nữa Trời xanh trong Những dãy núi dài

xanh biếc Nước chảy róc rách trong khe núi Đàn bò đi ra đồi, con vàng mượt Nương lúa

vàng óng ( Tô Hoài)

-> Mùa thu trên vùng cao -> đề tài trong đoạn văn.

3 Từ ngữ chủ đề và câu chủ đề?

* Từ ngữ chủ đề: Từ ngữ chủ đề là các từ ngữ được dùng làm đề mục hoặc các từ ngữ được

lặp lại nhiều lần ( Là các chỉ từ, đại từ, từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng được biểu đạt

trong đoạn văn

* Câu chủ đề trong đoạn văn: là câu mang nội dung thông tin chính, lời lẽ ngắn gọn,

thường đủ chủ ngữ, vị ngữ mà phần lớn các trường hợp đều đứng ở vị trí đầu đoạn hoặc cuối đoạn văn Câu chủ đề có chức năng nêu rõ đề tài - chủ đề mà đoạn văn biểu đạt ( Hạt nhân

của đoạn văn, chi phối toàn bộ đoạn văn)

- VD1: Thế đấy, biển luôn luôn thay đổi màu tuỳ theo sắc mây trời Trời xanh thẳm, biển

cũng xanh thẳm như dâng cao lên, chắc nịch Trời rải mây trắng hồng, biển mơ màng dịu hơi sương Trời âm u mây mưa, biển xám xịt nặng nề Trời ầm ầm giông gió, biển đục ngầu giận dữ.

( Nguyễn Hoàng Khung)

( Câu 1 biểu thị nội dung cơ bản của đoạn trích Các câu tiếp theo đều chịu sự chi phối ngữ

nghiã của câu chủ đề và phục vụ cho nội dung của câu chủ đề, mỗi câu thể hiện một nét nghĩa khía cạnh của câu chủ đề.)

4 Trình bày đoạn văn theo các cách:

a Đoạn vặn diễn dịch:

- Đây là đoạn văn có câu chủ đề đứng ở vị trí câu số 1 trong đoạn văn hoặc ở vị trí câu 2, 3 sau câu chuyển tiếp, là đoạn văn dùng rất phổ biến trong văn nghị luận

- Kết cấu 2 phần:

+ Phần 1: Nêu tiểu chủ đề, mà tiểu chủ đề thường là một nhận định khái quát Cô đọng trong

một câu, câu đó là câu chủ đề

Trang 5

+ Phần 2: Cụ thể hoá, triển khai chủ đề bằng giải thích, chứng minh, phân tích, nêu nguyên

nhân - hệ quả… và có khi còn bao hàm cả ý kết luận

- Gồm:

+ Diễn dịch giải thích: các ý sau câu chủ đề giải thích nội dung câu chủ đề Có thể

giải thích bằng lí lẽ hay sự kiện

VD:

- Bằng lí lẽ: Dạy văn chương ở phổng thông có nhiều mục đích Trước hết nó tạo điều kiện cho

học sinh phổ thông tiếp xúc với một loại sản phẩm đặc biệt của con người, kết quả của một thứ lao động đặc thù - lao động nghệ thuật Đồng thời dạy văn chính là hình thức quan trọng giúp các em hiểu biết, nắm vững và sử dụng tiếng mẹ đẻ cho đúng, cho hay Dạy văn chương cũng

là một trong những con đường của giáo dục thẩm mĩ.

( Lê Ngọc Trà)

- Bằng sự kiện: Nguyễn Khuyến rất có ý thức về khí tiết của ông Trong khoảng 20 năm ra

làm quan cho nhà Nguyễn, khi thì ở Huế, khi thì ở Nghệ An, khi thì ở Thanh Hoá, khi thì ở Hà Nội, khi thì ở các tỉnh Sơn Tây, Hưng Hoá, Tuyên Quang, lúc nào ông cũng sống một cuộc đời cần, kiệm, liêm, chính, không làm việc gì làm nhơ bẩn đến đạo đức cao thượng của ông Ông

đã vịnh mình như cái lược quý bằng đồi mồi dùng để chải cho sạch hết các bụi bẩn.( Văn Tân)

+ Diễn dịch chứng minh: Các ý sau câu chủ đề chứng minh nội dung trong câu chủ đề là đúng

( hoặc sai), có thể chứng minh bằng số liệu, bằng lí lẽ nhưng cũng phải thực tế xác nhận là đúng hoặc sai

VD: Có nhiều người có bệnh “ dùng chữ Hán”, nhưng tiếng ta sẵn có không dùng mà dùng chữ Hán cho bằng được Thí dụ: ba tháng không nói là ba tháng mà nói tam cá nguyệt Xem xét không nói xem xét mà nói quan sát…

+ Diễn dịch toàn thể - bộ phận: Các ý câu sau chủ đề nêu ra những bộ phận hợp thành cái toàn

bộ được nêu ra trong câu chủ đề ( Lưu ý: tách các bộ phận không được tuỳ tiện mà cần đảm bảo tổ chức tự nhiên của sự vật như nó vốn có trong hiện thực).

VD: Chẳng có nơi nào như Sông Thao quê tôi, rừng cọ trập trùng, thân cọ cao vút Búp cọ dài

như thanh kiếm sắc Lá cọ tròn xoè ra như phiến nhọn dài.

( Nguyễn Thái Vận)

+ Diễn dịch bao hàm: Các ý câu sau chủ đề nêu những loại nhỏ nằm trong loại lớn hơn được

nêu ra trong câu chủ đề

VD: Sau trận mưa rào, mọi vật đều sáng và tươi Những đoá râm bụt thêm màu đỏ chói Bầu

trời xanh bóng như vừa được gột rửa Mấy dám mây bông trôi nhởn nhơ sáng rực lên trong ánh mặt trời.

( Vũ Tú Nam)

b Đoạn văn quy nạp:

- Đoạn văn mở đầu bằng những phán đoán cụ thể, riêng rẽ để đi đến một phán đoán chung

Phán đoán chung đó là trung tâm thông tin của đoạn văn và cũng nằm trong một câu ở vị trí cuối đoạn Câu đó là câu chủ đề

- Cấu trúc cũng giống như đoạn văn diễn dịch nhưng hướng phát triển ngược

lại

- Gồm:

+ Quy nạp mang nghĩa khái quát:

VD: Làng xóm ta xưa kia lam lũ quanh năm mà vẫn quanh năm đói rách

Làng xóm ta ngày nay bốn mùa nhộn nhịp cảnh làm ăn tập thể Đâu đâu

Trang 6

cũng có trường học, nhà gửi trẻ, nhà hộ sinh, câu lạc bộ, sân và kho hợp tác, nhà mới của xã

viện Đời sống vật chất ngày càng ấm no, đời sống tinh thần

ngày càng tiến bộ.

( Hồ Chí Minh) + Quy nạp mang nghĩa tóm tắt:

VD: Những cách chống nạn đói chia làm mấy hạng: như cấm nấu rượu bằng gạo hay bắp,

cấm các thứ bánh ngọt… để cho đỡ tốn ngũ cốc Như vùng này

san sẻ thức ăn cho vùng khác, đỡ đầu cho vùng khác Như ra sức tăng gia

trồng trọt các thứ rau khoai… Nói tóm lại bất cứ cái gì, hễ làm cho dân

đỡ đói lúc này và ngăn ngừa nạn đói mùa sau, chúng ta đều phải lảm cả.

( Hồ Chí Minh) + Quy nạp mang nghĩa nhân quả:

VD: Trong hàng ngàn năm dưới ách thống trị của phong kiến ngoại bang

xâm lược… văn nghệ bác học cổ điển của ta có những tiến bộ mang cái

cốt cách dân tộc, nhưng vẫn chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng thống trị

ngoại bang… Trong gần một thập kỉ dưới ách áp bức bóc lột của thực dân Pháp, văn nghệ bác học của ta bị lai căng, nhưng vẫn có những tác phẩm

tiến bộ, tuy nhiên nền văn nghệ bác học đó cũng không tích cực bằng văn

nghệ quần chúng… Vì vậy, muốn phát huy truyền thống dân tộc tốt đẹp,

lành mạnh, phong phú và sâu sắc thì trước hết phải chú trọng đến văn

nghệ quần chúng.

( Hà Huy Giáp) + Quy nạp mang nghĩa đánh giá:

VD: Trong bốn lần gẩy đàn thì chỉ có lần đầu gẩy đàn cho Kim Trọng

nghe là Kiều tự nguyện nhất Thuý Kiều đã trổ hết tài năng và hiểu biết

của mình trong ngón đàn: nào lưu thuỷ, hành vân, nào khúc Quảng Lăng,

Khúc Chiêu Quân Đó là tiếng đàn của mùa xuân, của buổi mai, của tuổ

i trẻ, của tình yêu, của những gặp gỡ diệu kì giữa nhạc và thơ.

( Tế Hanh)

c Đoạn văn song hành ( không có câu chủ đề):

- Đoạn văn có câu triển khai những nội dung song song với nhau, không nội dung nào bao trùm nội dung nào Không có phần mở đầu và kết thúc Các câu trong đoạn đều thuộc phần triển khai, mỗi câu nêu một khía cạnh của chủ đề đoạn văn đang ở dạng hàm ẩn

- VD: Mọi tiếng động trong nông trường đã im bặt từ lâu Những qủa đổi trọc nằm gối đầu

vào nhau ngủ im lìm Chỉ có tiếng gió và bóng tối vẫn thì thào đi lại Hơi lạnh trên khắp mọi nẻo căm căm.

( Hồ Phương) + Đoạn văn song hành sóng đôi: ( có nội dung hai tiểu chủ đề được triển khai song song nhằm

phục vụ cho chủ đề chung thường ở dạng hàm ẩn)

VD: Nếu Thuý Vân có vẻ đẹp phúc hậu, đoan trang thì Thuý Kiều mang một vẻ đẹp “ sắc sảo, mặn mà” Nếu Thuý Vân có sắc đẹp kiều diễm với gương mặt đầy đặn như trăng tròn, miệng cười tươi như hoa, tiếng nói trong như ngọc thì Thuý Kiều lại có sắc đẹp “ nghiêng nước, nghiêng thành” với đôi mắt trong như nước mùa thu, đôi lông mày đẹp như dáng núi mùa xuân Nếu cái đẹp của Thuý Vân khiến cho “ Mây thu nước tóc, tuyết nhường màu da” thì cái đẹp của Thuý Kiều lại khiến cho “ Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”.

Trang 7

+ Đoạn văn song hành tương phản: ( chủ đề đoạn văn triển khai theo hướng đối lập nhau

nhưng cùng thống nhất trong một chủ đề để làm nổi bật hướng của vế sau)

VD: Phượng không thơm, phượng chưa hẳn là đã đẹp nhưng phượng đỏ và phượng nhiều,

phượng có một linh hồn sắc sảo mênh mang Hoa phượng tươi cười, nhưng mà tươi quá quắt

Hoa phượng đẹp nhưng đẹp não nùng.

( Xuân Diệu) + Song hành liệt kê:

VD: Các bài thơ của Bác đẹp ở chữ, ở lời, ở câu, ở bố cục cân đối, hài hoà Đẹp ở hình tượng,

phong cách, đẹp ở cảm xúc, âm thanh, màu sắc, nhạc điệu, hình khối Đẹp vì tứ cao, ý sâu Đẹp

vì giản dị, lộng lẫy, hùng vĩ, cao cả, hài hoà.

+ Song hành phối hợp diễn dịch - qui nạp: ( Tổng - phân - hợp)

- Cấu trúc:

+ P1: Mở đầu: nêu tiểu chủ đề của cả đoạn, thường là một câu, đó là câu chủ

đề

+ P2: Thân bài: triển khai các khía cạnh, các mặt biểu hiện của tiểu chủ đề, cụ thể hoá và

phát triển tiểu chủ đề bằng chứng minh, giải thích, phân tích, bình luận, nhận xét hoặc nêu cảmtưởng

+P3: Kết đoạn: thâu tóm tinh thần nội dung của cả đoạn, nâng tiểu chủ đề lên một bước

khái quát mới khẳng định thêm giá trị của vấn đề như tiểu kết hoặc mở ra một tiểu chủ đề kế cận

VD: (1) Con gà rừng có lông vũ nhiều sắc nhưng chỉ bay được trăm bước, đó là vì thịt và

xương của nó quá nhiều, mà sức của nó ít (2) Con chim ưng, con diều ó, thiếu máu sắc, nhưng bay thì tung trời, đó là vì xương nó cứng và khí mạnh (3) Tài sức trong văn chương cũng

giống như vậy (4) Nếu có phong cách mà thiếu vẻ đẹp thì cũng như chim ưng trong rừng búi (5) Nếu cái đẹp mà thiếu hong cách thì cũng

như con gà rừng nhảy ở vườn hoa (6) Chỉ có văn đẹp mà lại bay cao thì mới là con phượng hoàng cất tiếng trên văn đàn vậy.

( Hữu Hiệp)

-> Câu ( 1), (2), (3) liên kết ngữ nghĩa với nhau bằng cấu trúc qui nạp, trong đó câu (3) là câu chủ

đề Câu ( 3) ( 4), (5) liên kết với nhau theo cấu trúc diễn dịch trong đó câu (3) lại là câu chủ đề

Và cuối cùng hợp lại thì các câu ( 1), ( 2), (3), (4),( 5),(6) liên kết với nhau theo cấu trúc qui nạp, đây là một qui nạp mới có cấp độ ngữ nghĩa lớn hơn qui nạp ban đầu và câu ( 6) là câu chủ đề cho

cả đoạn

d Đoạn văn móc xích:

- Các câu được nối tiếp nhau về ý nghĩa theo kỉêu chuỗi xích: hệ quả của câu trước là tiền đề

cho câu sau, hay nói chính xác hơn là phần báo ( vị ngữ) của câu trước phải là phần nêu ( chủ ngữ) của câu sau thường theo mối quan hệ nhân - quả, các câu đứng sau tiếp tục phát triển dẫn

dắt các ý đến hệ quả cuối cùng ở câu cuối cùng đoạn Nhưng cũng có khi cấu trúc móc xích được nới rộng, mềm dẻo, chỉ cần hai câu được nối với nhau bằng quan hệ liên kết tiếp giáp là được

VD: 1 Móc xích chuỗi xích.

Muốn xây dung chủ nghĩa xã hội thì phải tăng gia sản xuất Muốn tăng gia sản xuất thì

phải cải tiến kĩ thuật Muốn cải tiến kĩ thuật thì phải có văn hoá Vậy việc bổ túc văn hóa là cực

kì cần thiết.

( HCM)

2 Móc xích mềm dẻo:

Trang 8

Đường vắng ngắt, chưa đến 8 giờ mà đường đã vắng ngắt Thỉnh thoảng, những chiếc xe cao su kín mít như bưng, lép nhép chạy uể oải, tia ra hai cánh gà hai dòng khói thuốc lá Lại thỉnh thoảng, một người đi lén dưới mái hiên, run rẩy, vội vàng.

( Nguyễn Công Hoan) -> Cụm từ : thỉnh thoảng, lại thỉnh thoảng gắn kết 3 câu trong đoạn văn trên lại với nhau theo

quan hệ liên kết tiếp giáp Chỉ với điều kiện này, đoạn văn trên được cấu trúc theo kỉêu móc xích

* Đoạn văn có cấu trúc móc xích trong văn bản thường xuất hiện ở các tiểu loại:

Móc xích nhân - quả hay móc xích điều kiện - kết qủa Móc xích nhân - qủa như ví dụ về chuỗi móc xích vừa dẫn ở trên Móc xích điều kiện - kết quả cũng tương tự

xoay ra nghề gì?

( Nguyễn Công Hoan)

6 Móc xích lập luận 3 đoạn: nôị dung của đoạn văn này có cấu trúc gồm 3 phần:

- P1: Tiền đề lớn

- P2: Tiền đề nhỏ

- P3: Kết luận

( Muốn rút ra một kết luận đúng đắn, tiền đề lớn phải là một chân lí.)

Các tác phẩm văn học Việt Nam giá trị đều có tính nhân văn “ Truyện Kiều” của Nguyễn

Du là một tác phẩm văn học có gía trị Bởi vậy, “ Truyện Kiều” là một tác phẩm có tính nhân văn, không ai có thể phủ nhận được.

-> Đoạn văn vừa dẫn có:

+ Câu 1: tiền đề lớn, là chân lí

+ Câu 2: tiền đề nhỏ

+ Câu 3: kết luận rút ra từ hai tiền đề, là kết luận có giá trị

e Đoạn so sánh:

1 So sánh tương đồng: Là đoạn văn có sự so sánh tương tự nhau dựa trên một ý tưởng;

so sánh với một tác giản, một đoạn thơ, một đoạn văn có nội dung tương tự nội dung đang nói đến

Trang 9

VD: Đoạn văn so sánh tương đồng, nội dung nói về câu thơ kết trong bài "Nghe tiếng giã gạo"

của Hồ Chí Minh

Ngày trước tổ tiên ta có câu: " Có công mài sắc có ngày nên kim" Cụ Nguyễn Bá Ngọc, một nho sĩ đầu thế kỉ XX cũng viết: " Đường đi không khó

vì ngăn sông cách núi mà khò vì lòng người ngại núi e sông" Sau này, vào đầu những năm

40, giữa bóng tối ngục tù của Tưởng Giới Thạch, nhà thơ Hồ

Chí Minh cũng đã đề cập tới tính kiên nhẫn, chấp nhận gian lao qua bài thơ " Nghe tiếng giã

gạo" , trong đó có câu " Gian nan rèn luyện mới thành công", câu thơ thể hiện phẩm chất tốt

đẹp, ý chí của Hồ Chí Minh đồng thời còn là

châm ngôn rèn luyện cho mỗi chúng ta

* Mô hình đoạn văn: Câu nói của tổ tiên, câu nói của Nguyễn Bá Ngọc

( c1,2) có nội dung tương đương với nội dung câu thơ của Hồ Chí Minh (c4)

đây là đoạn văn mở bài của đề tài giải thích câu thơ trong bài thơ

" Nghe tiếng giã gạo" của Hò Chí Minh có kết cấu so sánh tương đồng.

2 So sánh tương phản: Là đoạn văn có sự so sánh ngược chiều nhau về nội dung ý

tưởng: những hình ảnh thơ văn, phong cách tác giả, hiện thực cuộc sống tương phản nhau

VD: Đoạn văn so sánh tương phản: nội dung nói về việc học và hành.

Trong cuộc sống, không thiếu những người cho rằng cần học tập để trở thành kẻ có tài,

có tri thức giỏi hơn người trước mà không hề suy nghĩ tới việc rèn luyện đạo đức, lễ nghĩa vốn

là giá trị cao quý nhất trong các giá trị của con người Những người ý luôn hợm mình, không chút khiêm tốn, đôi khi trở thành người vô lễ, có hại cho xã hội Đối với những người ấy, chúng

ta cần giúp họ hiểu rõ lời dạy của cổ nhân : " Tiên học lễ, hậu học văn".

* Mô hình đoạn văn: Ý tưởng của đoạn văn là nói về quan niệm của việc học: học để làm

người Câu 1,2 nêu nội dung trái ngược với ý tưởng; câu 3 nêu ý tưởng Nội dung tương phản với ý tưởng bao giờ cũng được đề cập trước, sau đó dẫn đến nội dung chính của ý tưởng Đây làđoạn văn mở bài, giải thích câu nói của Khổng Tử:

" Tiên học lễ, hậu học văn"

g Đoạn văn nhân quả:

1 Trình bày nguyên nhân trước, kết quả sau: Đoạn văn có kết cấu 2 phần, phần trước

trình bày nguyên nhân, phần sau trình bày kết quả của sự việc, hiện tượng, vấn đề

VD: Đoạn văn nhân quả, nội dung nói về chi tiết Vũ Nương sống lại dưới thủy cung trong " Chuyện người con gái Nam Xương"

Câu chuyện có lẽ chấm hết ở đó nhưng dân chúng không chịu nhận cái tình thế đau đớn

ấy và cố đem một nét huyền ảo đề an ủi ta Vì thế mới có đoạn hai, kể chuyện nàng xuống thủycung và sau lại còn gặp chồng một lần nữa

2 Trình bày kết quả trước, nguyên nhân sau: Phần trước nêu kết quả, phần sau nêu

nguyên nhân

VD: Đoạn văn nhân quả, nội dung nói về lòng hiếu nghĩa của Thúy Kiều trong cảnh lưu lạc.

Chính trong hoàn cảnh lưu lạc quê người của nàng ta mới thấy hết được tấm lòng chí

hiếu của người con gái ấy Nàng biết sẽ còn bao cơn " cát dập sóng vùi" nhưng nàng vẫn chỉ lo cánh cánh cho cha mẹ thiếu người đỡ đần, phụng dưỡng vì hai em còn " Sân hòe đôi chút thơ ngây" Bốn câu mà dùng tới 4 điển tích " người tựa cửa", " quạt nồng ấp lạnh", "sân lai", "gốc tử"

Trang 10

Nguyễn Du đã làm cho nỗi nhớ của Kiều đậm phần trang trọng, thiết tha và có chiều sâu nhưng cũng không kém phần chân thực.

* Ý tưởng của đoạn văn: bình về lòng hiếu nghĩa của Kiểu, câu 1 nêu kết quả, 3 câu còn lại

nêu nguyên nhân

THỰC HÀNH CÁC ĐỀ

* DẠNG BÀI : Viết đoạn văn trình bày theo các cách.

Bài số 1: Viết đoạn văn diễn dịch, phân tích lòng yêu nghề, say mê công việc của anh thanh niên trong tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long

( kết thúc đoạn là câu cảm thán)

* Gợi ý:

Mô hình cấu trúc đoạn văn diễn dịch:

- Câu mở đoạn ( câu chủ đề) Câu 1: Nêu đặc điểm bao quát của anh thanh niên ( Anh thanh

niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long là một người yêu nghề, say mê công việc, có tinh thần trách nhiệm cao)

- Các câu sau triển khai chứng minh cho đặc điểm đó.

- Câu kết đoạn: đánh giá suy nghĩ về lẽ sống đẹp của anh.

- Đoạn văn minh họa:

Anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long là một người yêu nghề, say mê công việc, có tinh thần trách nhiệm cao Công việc của anh là làm

công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu với nhiệm vụ cụ thể là đo gió, đo mưa, tính nắng, tính mây, đo sự chấn động của vỏ trái đất Anh làm việc đó một mình ở đỉnh Yên Sơn cao 2600 mét,nơi chỉ có cây cỏ và sương mù bao phủ quanh năm Công việc anh làm gian khổ, thầm lặng nhưng có ý nghĩa giúp dự báo thời tiết để nhân dân ta sản xuất và chiến đấu Phải là người yêu nghề, say mê với công việc, anh mới trụ vững ở đỉnh Yên Sơn, mới chiến thắng được sự cô đơn

một mình Đam mê công việc nên anh tìm thấy niềm vui trong công việc " Khi ta với công việc

là đôi, sao có thể gọi là một mình được" Thật cảm động khi anh tâm sự bày tỏ với ông họa sĩ " Công việc gian khổ như thế đấy, nhưng cất nó đi, cháu buồn chết đi được" Suy nghĩ của anh

chính là suy nghĩ của thế hệ trẻ ở thập niên 70 của thế kỉ XX , thật đẹp biết bao!

Bài số 2: Viết đoạn văn khoảng 10 – 12 câu, theo cách lập luận diễn dịch phân tích về đặc

điểm nổi bật của nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân Đoạn văn có sử

dụng yếu tố miêu tả, biểu cảm ( gạch chân yếu tố miêu tả, biểu cảm đó)

* Gợi ý:

- Về hình thức: đoạn văn viết 10 -12 câu, theo cách lập luận diễn dịch và có sử dụng yếu tố

miêu tả và biểu cảm

- Về nội dung: Cần phân tích nhân vật ông Hai qua những gợi ý sau:

+Câu chủ đề là câu mở đoạn:Nêu đặc điểm nổi bật của nhân vật ông Hai.

( Ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân là nhân vật điển hình cho người nông dân

trong kháng chiến chống Pháp có tình yêu làng, yêu nước cảm động.)

+ Các câu sau triển khai tình yêu làng, yêu nước của ông Hai:

- Hay khoe làng, tự hào làng cách mạng, làng kháng chiến.

- Khi phải đi tản cư, nhớ làng, hỏi thăm về làng.

- Nghe tin dữ thấy đau đớn, xấu hổ, luôn ám ảnh ông.

Trang 11

- Mụ chủ có ý đổi thì ông rơi vào bế tắc, tuyệt vọng Xung đột nội tâm.

- Tin được cải chính, ông lại vui và tự hào về làng.

- Đoạn văn minh họa:

Ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân là nhân vật điển hình cho người nông dân trong kháng chiến chống Pháp có tình yêu làng, yêu nước cảm động Ông Hai yêu làng

chợ Dầu của mình nên thường hay khoe và tự hào về làng của ông là làng cách mạng, làng

kháng chiến Vì hoàn cảnh ông phải đi tản cư, ông luôn nhớ về làng " Chao ôi, lão thấy nhớ làng mình quá!" Gặp đoàn tản cư ông lão hỏi thăm tin tức làng chợ Dầu thì được người tản cư cho biết làng ông làm Việt gian theo Tây Ông cảm thấy đau đớn, xấu hổ " da mặt tê rân rân,

cổ ghẹn đắng lại, không thở được", " ông cúi gằm mặt, lảng đi về nhà" Tin dữ ám ảnh ông, biến

ông thành con người khác, chỉ ru rú ở nhà không dám ra ngoài, hay cáu bẳn, gắt gỏng Khi mụ chủ nhà có ý định đuổi khéo gia đình ông, ông rơi vào trạng thái bế tắc, tuyệt vọng Ở hoàn cảnh đó ông đấu tranh giằng xé: hay về làng? Nhưng vừa nghĩ ông đã gạt phắt đi về làng tức làtheo Tây, bỏ cụ Hồ, bỏ kháng chiến Trong sự bế tắc đó, ông tâm sự với con út như một cách ngỏ lòng mình rằng: ở ông, tình yêu làng, trung thành với cách mạng, với kháng chiến không bao giờ thay đổi Khi được tin cải chính, ông như người chết sống lại, ông lại sung sướng đi kheo làng bị đốt, nhà mình bị cháy Đó là minh chứng hùng hồn chứng minh làng ông là làng Cách mạng, làng kháng chiến

Bài số 3: Viết đoạn văn quy nạp, nội dung nói về đoạn kết bài thơ Đồng chí của Chính Hữu.

* Gợi ý:

- Về hình thức: viết đúng đoạn văn quy nạp, sử dụng phép liên kết phù hợp.

- Về nội dung: cần phân tích được những ý sau:

+ Tác giả khép lại bài thơ bằng một hình tượng thơ ( trích dẫn thơ)

+ Nổi bật lên giữa cảnh lạnh lẽ " rừng hoang sương muối" là hình ảnh đẹp về người lính,

vầng trăng, khẩu súng

+ Họ đứng sát bên nhau, súng trong tay chờ giặc tới

+ Tình đồng chí mang lại cho sức mạnh vượt qua thiếu thốn, rét mướt, gian khổ vả sưởi ấm lòng họ

+ Trong đếm phục kích, người lính còn có một người bạn nữa là vầng trăng

+ Hình ảnh: Đầu súng trăng treo mang nhiều ý nghĩa biểu tượng sâu sắc.

- Đoạn văn minh họa:

Chính Hữu khép lại bài thơ bằng một hình tượng thơ:

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.

Đêm khuya chờ giặc tới, trăng đã xế ngang tầm súng Bất chợt chiến sĩ ta có một phát hiện thú

vị: Đầu súng trăng treo Câu thơ như một tiếng reo vui hồn nhiên mà chứa đựng đầy ý nghĩa

Trong sự tương phải giữa súng và trăng, người đọc vẫn tìm ra sự gắn bó gần gũi Súng tượng trưng cho tinh thần quyết chiến quyết thắng kẻ thù xâm lược Trăng tượng trưng cho cuộc sống thanh bình, yên vui Súng và trăng là hình tượng sóng đôi trong lịch sử dựng nước và giữ nước

của dân tộc Việt Nam bất khuất và hào hoa muôn thủa Chất hiện thực nghiệt ngã và lãng mạn bay bổng đã hòa quyện lẫn nhau tạo nên hình tượng thở để đời.

Bài số 4: Viết đoạn văn so sánh tương đồng, nội dung nói về lòng yêu làng, yêu nước của ông Hai trong tác phẩm Làng của Kim Lân.

* Gợi ý:

Trang 12

Trong con người ông Hai, tình cảm dành cho làng gắn liền với lòng yêu nước Tình yêu quê hương là cội nguồn của lòng yêu nước Đúng như I-li-aÊ- ren- bua, một nhà văn Liên Xô

cũ đã viết: " Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên tình yêu Tổ Quốc" Với ông Hai, chân lí ấy càng đúng hơn

bao giờ hết Từ chỗ yêu con đường làng, yêu những mái nhà ngói tình cảm của ông Hai đã tiến dần lên lòng yêu nước mà lòng yêu nước sâu nặng thầm kín ấy lại bừng sáng rực rỡ, lung linh trong tâm hồn ông Tình yêu làng được nâng cao, được vút lên thành đỉnh cao của vẻ đẹp trong nhân vật ông Hai mà Kim Lân tập trung khắc họa, tô đậm rõ nét Vì yêu nước nên ông

căm thù bọn phản bội đất nước Khi nghe tin làng chợ Dầu theo Tây ông đã rít lên: " Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này!" Tiếng rít ấy thể hiện sự căm giận đang bốc lên ngùn ngụt, thể hiện sự dồn nén kìm

hãm đã ghê gớm lắm rồi trong lòng ông Lời nói ấy ẩn chứa biết bao nhiêu oán trách, khinh bỉ, khổ đau Cũng vì yêu nước mà ông tìm đến phòng thông tin nghe tin tức về cuộc kháng chiến Ông hả lòng, hả dạ, sung sướng, tự hào trước những chiến tích anh hùng của mọi người dân trong cả nước Điều đó thể hiện chân thực tấm lòng ông Hai dành cho đất nước

Bài số 5: Viết đoạn văn so sánh tương đồng, nội dung nói về hình ảnh " vầng trăng" trong bài Ánh trăng của Nguyễn Duy.

* Gợi ý:

- Về hình thức: viết đoạn văn so sánh tương đồng.

- Về nội dung:

+ Tuổi thơ, khi trở thành người lính trăng là người bạn tri kỉ của tác giả ( dẫn thơ)

+ Nghệ thuật nhân hóa, tác giả khắc họa vẻ đẹp tình nghĩa, thủy chung giữa trăng và người lính.+ Cuộc sống ở rừng thời chiến khó khăn nhưng trăng vẫn đến với người lính chân thành ( dẫn

thơ Hồ Chí Minh: Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm) Trăng đến với người lính trong đêm trờ giặc tới ( dẫn thơ Chính Hữu: Đầu súng trăng treo) Trăng cùng người lính vượt qua khó khăn ( dẫn thơ Phạm Tiến Duật:Và vầng trăng, vầng trăng đất nước - Vượt qua quầng lửa, mọc lên cao).

+ Trăng của Nguyễn Duy trở thành một biểu tượng đẹp ( dẫn thơ: Vầng trăng tri kỉ", " vầng trăng tình nghĩa).

- Đoạn văn mẫu:

Tuổi thơ Nguyễn Duy gắn bó với trăng và cả khi trở thành người lính thì trăng vẫn là người bạn tri kỉ:

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỉ.

Bằng nghệ thuật nhân hóa, Nguyễn Duy đã khắc họa vẻ đẹp tình nghĩa, thủy chung của hai người bạn: trăng và người lính, người lính và trăng Cuộc sống trong rừng thời chiến tranh biết bao gian khổ, khó khăn nhưng trăng vẫn đến với người lính bằng một tình cảm chân thành,

nồng hậu, không chút ngần ngại Trăng đến tỏa ánh sáng dịu mát cho giấc ngủ người lính " Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm " ( Hồ Chí Minh) Trăng đến bên người chiến sĩ cùng chờ giặc tới trong những đêm khuya sương muối: "Đầu súng trăng treo" Ánh trăng cùng với

người lính qua biết bao năm tháng gian khổ của đất nước đã vượt lên mọi sự tàn phá của quân thù:

Và vầng trăng, vầng trăng đất nước

Vượt qua quầng lửa, mọc lên cao ( Phạm Tiến Duật).

Trăng với người lính trong thơ thật gần gũi và gắn bó Đặc biệt, trong thơ Nguyễn Duy ánh

trăng đã trở thành một biểu tượng cao đẹp: " Vầng trăng tri kỉ", " vầng trăng tình nghĩa".

Trang 13

Bài số 6: Cho câu chủ đề " Cả một xã hội chạy theo đồng tiền" Hãy dựa vào kiến thức trong "

Truyện Kiều", viết thành đoạn văn quy nạp.

* Gợi ý:

Quan lại vì tiền mà bất chấp công lí; sai nha vì tiền mà tra tấn cha con Vương Ông; Tú

Bà, Mã Giám Sinh; Bạc Bà, Bạc Hạnh vì tiền mà làm nghề buôn thịt bán người; Sở Khanh vì

tiền mà táng tận lương tâm; Khuyển Ưng vì tiền mà lao vào tội ác Cả một xã hội chạy theo đồng tiền.

Bài số 7: Cho câu chủ đề: " Vũ Thị Thiết, người con gái đẹp người, đẹp nết".

Bằng những kiến thức đã học về văn bản " Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn

Dữ, hãy triển khai thành một đoạn văn có cấu trúc diễn dịch, câu kết là câu cảm thán.

* Gợi ý: Học sinh cần trình bày được:

- Câu chủ đề ( dẫn câu)

- Vũ Thị Thiết là một cô gái đẹp người ( dẫn chứng: tư dung tốt đẹp)

- Vũ Thị Thiết là một cô gái đẹp nết ( tính tình: thùy mị, nết na; luôn giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa; Trương Sinh đi lính, nàng ở nhà chămsóc con nhỏ, phụng dưỡng mẹ già, mẹ chồng mất, nàng lo liệu như đối với cha mẹ đẻ của mình;thủy chung chờ chồng )

- Câu kết ( câu cảm thán)

Bài số 8: Viết đoạn văn nêu hoàn cảnh ra đời của Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm

Tiến Duật ( 5 câu) có sử dụng phép thế và câu ghép.

* Gợi ý:

- Về hình thức: đoạn văn gồm những câu văn gắn kết với nhau theo một cấu trúc nhất định,

cùng hướng về hoàn cảnh ra đời tác phẩm, được liên kết với nhau bằng phép thế và câu ghép

- Về nội dung:

+ Nêu chính xác tên bài thơ, tên tác giả, năm sáng tác, in trong tập thơ

+ Nêu hoàn cảnh hẹp: Năm 1964 dưới mái trường Đại học Sự phạm Hà Nội với 23 tuổi, chàng

sinh viên quê ở Phú Thọ Phạm Tiến Duật bước vào đời lính chiến đấu và hoạt động (công tác tuyên huấn) trên con đường chiến lược Trường Sơn những năm đầu đánh Mĩ

+ Nêu đề tài hoặc nội dung chính đặc sắc của bài thơ: bài thơ là bài ca chiến trận thấm đẫm

màu sắc lãng mạn ghi lại hình ảnh người chiến sĩ lái xe dũng cảm, lạc quan và có chút tếu ngang tàng trên tuyến đường huyết mạch Trường Sơn thời đánh Mĩ

- Đoạn văn minh họa:

Bài thơ về tiểu đội xe không kính được sáng tác năm 1969, là bài thơ thuộc chùm thơ của

Phạm Tiến Duật được tặng giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ 1969 -1970, sau in trong

tập Vầng trăng - Quầng lửa Năm 1964 dưới mái trường Đại học Sự phạm Hà Nội với 23 tuổi,

chàng sinh viên quê ở Phú Thọ Phạm Tiến Duật bước vào đời lính chiến đấu và hoạt động

(công tác tuyên huấn) Thơ ca của Phạm Tiến Duật không phải là sự chắt ra từ đời sống mà

là toàn vẹn dời sống thường nhật ở chiến trường Khói lửa chiến trường, chủ nghĩa anh hùng

Việt Nam, những cô gái thanh niên sung phong, những chiến sĩ lái xe dũng cảm in dấu chói

lọi, kì vĩ như những tượng đài trong thơ ông Ông đã góp vào vườn thơ đất nước một hình tượng người lính khá độc đáo với Bài thơ về tiểu đội xe không kính – người chiến sĩ lái xe dũng

cảm, lạc quan và có chút tếu ngang tàng trên tuyến đường huyết mạch Trường Sơn thời đánh Mĩ

( câu 3 là câu ghép, phép thế: Phạm Tiến Duật – ông)

Trang 14

Bài số 9: Viết đoạn văn nêu hoàn cảnh ra đời của bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận,

trong đó có sử dụng câu hỏi tu từ ( 7 -8 câu)

* Gợi ý:

- Về hình thức: đoạn văn gồm những câu văn gắn kết với nhau theo một cấu trúc nhất định,

cùng hướng về hoàn cảnh ra đời của bài thơ Đoàn thuyền đánh cá, được liên kết với nhau bằng câu hỏi tu từ

- Về nội dung:

+ Nêu chính xác tên bài thơ, tên tác giả, năm sáng tác, in trong tập thơ

+ Nêu hoàn cảnh hẹp: bài thơ sáng tác trong chuyến đi thực tế Cẩm Phả, Hòn Gai, giữa lúc Miền Bắc đang phấn khỏi lao động xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa

+ Nêu đề tài hoặc nội dung chính đặc sắc của bài thơ: ngợi ca những con người lao động làm nghề đánh bắt cá trên biển là chủ nhân trong cuộc sống mới

- Đoạn văn minh hoạ:

Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ mới giai đoạn 192 – 1945 Sau cách

mạng thánh tám thơ Huy Cận có phần chững lại Năm 1958 các văn nghệ sĩ đi thực tế tìm hiểu cuộc sống mới để lấy đề tài, cảm hứng sáng tác, nhà thơ đã đi thực tế dài ngày ở Quảng Ninh

Vẻ đẹp của vùng biển Hòn Gai cùng với không khí làm ăn sôi nổi, hào hùng tràn đầy niềm tin

trong những năm đầu xáy dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc là cho hồn thơ của Huy Cận nảy

nở trở lại Ông đã sáng tác bài thơ " Đoàn thuyền đánh cá" trong thời gian ấy, bài thơ được in

trong tập thơ " Trời mỗi ngày lại sáng" Phải chăng bài thơ là " món quà vô giá" mà nhà thơ tặng lại vùng biển Hòn Gai yêu dấu? Bài thơ sáng tác bằng cảm hứng lãng mạn kết hợp với

cảm hứng về thiên nhiên vũ trụ tạo ra những hình ảnh thơ rực rỡ, huy hoàng, tráng lệ Nó khôngchỉ ca ngợi vẻ đẹp lung linh, kì ảo của biển Hòn Gai mà còn ca ngợi không khí làm ăn tập thể của hợp tác xã ngư dân trong những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội

Bài số 10: Viết đoạn văn ngắn giải thích nhan đề của truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn

Thành Long (sử dụng câu hỏi tu từ kết thúc đoạn văn)

* Gợi ý:

- Về hình thức: đoạn văn 5-7 câu có sử dụng phép liên kết thích hợp và sử dụng câu hỏi tu tư

cuối đoạn văn

- Về nội dung:

+ Nêu chính xác tiên tác phẩm, tác giả

+ Xác định ý nghĩa nhan đề tác phẩm: nhan đề của tác phẩm hướng vào tư tưởng chủ đề tác phẩm

+ Khẳng định ý nghĩa nhan đề của tác phẩm ( có thể kết hợp đánh giá về tác giả, tác

phẩm): nhan đề tác phẩm vừa thể hiện được vẻ đẹp kì ảo của thiên nhiên Sa Pa, vừa thể hiện được sự cống hiến, âm thầm lặng lẽ nhưng lớn lao, cao đẹp

của những con người nơi đây

- Đoạn văn minh họa:

Như chúng ta đều biết: nhan đề tác phẩm thường thể hiện đề tài, nội dung hoặc tư tưởng chủ đề của tác phẩm; với nhan đề Lặng lẽ Sa Pa, truyện ngắn của Nguyễn Thành Long đã thể hiện rõ tư tưởng chủ đề của tác phẩm Bề ngoài Sa Pa có vẻ lặng lẽ, êm đềm, thơ mộng Đó là

xứ sở của sương mù, của những dinh thự cũ kĩ mà người ta đến để nghỉ ngơi Ở đó có những cảnh đẹp nên thơ mê hồn; có những đàn bò đeo chuông ở cổ, có những rừng thông đẹp lung linh kì ảo dưới ánh nắng mặt trời Đắng sau vẻ đẹp lặng lẽ nên thơ của Sa Pa, đã và đang có những con người thầm lặng cống hiến hết mình cho đất nước Đó là anh thanh niên làm công

Trang 15

tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu một mình trên đỉnh Yên Sơn ở độ cao 2600 mét, đang thầm lặng làm việc để góp phần dự báo thời tiết Đó là ông kĩ sư vường rau, anh cán bộ chuyên nghiên cứu bản đồ sét, tất cả đang âm thầm lặng lẽ làm việc và cống hiến Như vậy nhan đề của tác phẩm vừa thể hiện được vẻ đẹp kì ảo của thiên nhiên Sa Pa, vừa thể hiện được sự cống

hiến, âm thầm lặng lẽ nhưng lớn lao, cao đẹp của những con người nơi đây Với việc đặt nhan

đề như vậy, phải chăng tác giả muốn lấy địa danh làm nền để làm nổi bật vẻ đẹp của con

người?

Bài số 11: Viết đoạn văn quy nạp nêu cảm nhận của em về đoạn văn miêu tả tâm lí nhân vật

ông Hai trong truyện Làng của Kim Lân khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc

+ Ông sững sờ, chưa tin đến phải tin và xấu hổ lảng ra về

+ Về nhà nằm vật ra gường, đau đớn, tủi nhục, vừa buồn, vừa sợ

+ Đấu tranh nội tâm gay gắt ở lại hay quay về

+ Đối thoại với con đề trút nỗi lòng của mình với đứa con ngây thơ, nhưng thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ, với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng

+ Tài năng của Kim Lân khi miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật ông Hai

- Đoạn văn minh họa:

Trong lúc ông Hai đang hổ hởi với những chiến tích kháng chiến, những gương dũng cảm anh hùng của quân và dân ta thì ông như bị tin sét đánh về cái tin "dữ" của làng chợ Dầu " Việt gian theo Tây " "vác cờ thần ra hoan hô" lũ giặc cướp! Ông tủi nhục cúi gằm mặt xuống

mà đi, về nhà nằm vật ra gường như bị ốm nặng, nước mắt cứ tràn ra, có lúc ông chửi thể một cách chua chát! Ông sống trong bi kịch triền miên Vợ con ông vừa buồn, vừa sợ ,"gian nhà lặng đi, hiu hắt" Ông sợ mụ chủ nhà có lúc ông nghĩ quẩn " hay là quay về làng" nhưng rồiông lại kiên quyết: " làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì phải thù!" Cuộc đối thoại giữa hai bố con ông là một tình tiết cảm động và thú vị: " À, thầy hỏi con nhé Thế con ủng hộ ai? Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!" Nghe con ngây thơ nói mà nước mắt ông chảy ròng ròngtrên má Lòng trung thành của cha con ông, của hàng triệu nhân dân Việt Nam đối với lãnh tụ

là vô cùng sâu sắc, kiên định Vẻ đẹp tâm hồn ấy của họ rất đáng tự hào, ca ngợi Kim Lân rất sâu sắc và tinh tế khi miêu tả những biến thái vui, buồn, lo sợ của người nông dân về cái làngquê của mình Đó là một bài học vô cùng quý giá và sâu sắc của ông Hai đem đến cho chúng ta

Đọc xong đoạn văn, chúng ta bồi hồi xúc động về tình yêu làng của ông, về nghệ thuật kể chuyện tạo tình huống hấp dẫn, hồi hộp của nhà văn Kim Lân.

Bài số 12: Viết đoạn văn khoảng 10 - 12 câu, phân tích nhân vật ông Sáu trong truyện ngắn " Chiếc lược ngà " của nhà văn Nguyễn Quang Sáng Đoạn văn vừa viết được trình bày theo

cách nào?

* Gợi ý:

- Về hình thức: đoạn văn viết đủ 10 -12 câu Có sử dụng phép liên kết cho thích hợp, đoạn văn

viết tùy theo cách lựa chọn

- Về nội dung: Cần phân tích nhân vật ông Sáu qua các chi tiết sau:

+ Tình yêu con của ông Sáu: Khi gặp bé Thu, những ngày ở nhà, khi chia tay

Trang 16

+ Tuy nhiên ông gặp nỗi khổ khi con không chịu nhận mình là cha, vì hiểu lầm mà cả hai cha con đã mất đi niềm vui, hạnh phúc trong thời gian rất ngắn ngủi.

+ Tình cảm yêu quý con thật sâu sắc khi ở chiến trường

-> Chỉ ra cách trình bày đoạn văn.

Bài số 13: Viết đoạn văn tổng phân hợp, phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc đoạn văn sau

trong tác phẩm Bến Quê của Nguyễn Minh Châu.

" Bên kia những cây bằng lăng, tiết trời đầu thu đem đến cho con sông Hồng một màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra Vòm trời cũng như cao hơn Những tia nắng sớm đang từ từ chuyển từ mặt nước lên những khoảng bở bãi bên kia sông, và cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi ở bên kia sông Hồng lúc này đang phô ra trước khuôn cửa sổ của gian gác nhà Nhĩ một thứ màu vàng thau xen với màu xanh non - những sắc màu thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ".

* Giợi ý:

- Về hình thức: viết đúng đoạn văn tổng phân hợp.

- Về nội dung: cần chỉ ra được những ý sau của đoạn văn:

+ Vẻ đẹp của thiên nhiên trong buổi sáng đầu thu được miêu tả qua cái nhìn và cảm xúc của nhân vật Nhĩ.

+ Cảnh được miêu tả từ gần đến xa, không gian có chiều sâu, chiều rộng:

- Đầu tiên anh nhìn thấy cây bằng lăng tim ngoài cửa sổ

- Đến con sông Hồng màu đỏ nhạt

- Cuối cùng là bãi bồi bên kia sông

+ Không gian, cảnh vốn quen mà lạ với Nhĩ

+ Từ hoàn cảnh mình mà Nhĩ quan sát, suy ngẫm và rút ra quy luật giống như một nghịch lí cuộc đời Khi phát hiện ra vẻ đẹp ấy là lúc anh sắp giã biệt cõi đời, anh khát khao được đặt chânlên bãi bồi ấy

+ Điều ước ấy chính là sự thức tỉnh về giá trị bền vững về điều bình thường trong cuộc sốngthường bị lãng quên, anh cảm thấy xót xa, ân hận

+ Chỉ có anh là người từng trải mới nhìn thấy hết sự giàu có và vẻ đẹp của bãi bồi.

- Đoạn văn tham khảo:

Vể đẹp của thiên nhiên trong buổi sáng đầu thu được miêu tả qua cái nhìn và cảm xúc tinh tế của nhân vật Nhĩ Cảnh vật được miêu tả theo tầm nhìn của Nhĩ từ gần đến xa, tạo thành một không gian có chiều sâu, chiều rộng Đầu tiên anh nhìn thấy những bông bằng lăng tím ngay phía ngoài cửa sổ, rồi đến con sông Hồng với màu nước đỏ nhạt và sau cùng là bãi bồi bênkia sông Cảnh vật thiên nhiên hiện ra với vẻ đẹp quyến rũ Không gian và những cảnh vốn quen thuộc, gần gũi, nhưng hầu như rất mới mẻ với Nhĩ Tưởng chừng như lần đầu tiên trong đời anh cảm nhận được vẻ đẹp phong phú của nó Từ hoàn cảnh cụ thể của mình, Nhĩ đã quan sát, suy ngẫm để rút ra quy luật giống như một nghịch lí của đời người Vào buổi sáng hôm ấy, khi nhận ra vẻ đẹp bình dị, gần gũi của cảnh vật qua ô cửa sổ, đồng thời cũng hiểu rằng mình sắp giã biệt cõi đời, trong tâm thức anh bừng lên một khao khát vô vọng là được đặt chân một lần lên bãi bồi bên kia sông Điều ước muốn ấy chính là sự thức tỉnh về những giá trị bền vững của những điều bình thường và sâu sắc của cuộc sống bình thường bị người ta bỏ qua hoặc lãng

quên Sự thức tỉnh của Nhĩ xen lẫn niềm ân hận, xót xa: Họa chăng chỉ có anh đã từng trải, đã từng in gót chân khắp mọi phương trời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia.

Trang 17

Bài số 14: Viết đoạn văn (5 câu) theo cách tổng phân hợp thể hiện sự cảm nhận của em về ý nghĩa nhan đề tác phẩm Bến quê của Nguyến Minh Châu.

* Gợi ý:

- Về hình thức: viết đoạn văn tổng phân hợp có sử dụng phép liên kết thích hợp Có câu chủ đề

bậc một, câu triển khai đoạn và câu kết thúc đoạn (câu chủ đề bậc

- Về nội dung:

+ Câu mở đầu đoạn là câu chủ đề bậc 1: Nêu cảm nhận chung về nhan đề tác phẩm Bến Quê (

Có những tác phẩm tuy khép lại nhưng những dư âm, những trăm trở vẫn còn mãi trong lòng người đọc)

+ Các câu tiếp theo phân tích, lí giản về nhan đề tác phẩm

- Bến quê ẩn chứa một ý nghĩa sâu xa? Nơi ghi dấu ấn bao kỉ niệm từ thời thơ ấu cho đến lúc trưởng thành

- Con người được nuôi dưỡng và lớn lên cả về thể chất, tâm hồn.

- Bến quê là điểm tựa bình yên cho cả cuộc đời mỗi người Được sống trong yêu thương của mọi người, được bao bọc trong vẻ đẹp quê hương

- Bến quê, những điều tác giả gửi gắm đến người đọc thật tự nhiên và giàu tính biểu

tượng Cách xây dựng tình huống truyện, trần thuật theo dòng tâm trạng của nhân vật chính, những điều tác giả thể hiện được bộc lộ qua suy nghĩ, lời nói của Nhĩ

+ Câu kết thúc đoạn là câu chủ đề bậc hai: khẳng định ý nghĩa nhan đề tác phẩm

( Lấy Bến quê làm nhan đề, Nguyễn Minh Châu gửi gắm những trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về con người, cuộc đời, thức tỉnh mọi sự trân trọng những vẻ đẹp bình dị, gần gũi của gia đình, quê hương.)

- Đoạn văn mẫu:

Có những tác phẩm tuy khép lại nhưng những dư âm, những trăm trở vẫn còn mãi trong

lòng người đọc Nhan đề Bến quê phải chăng ẩn chứa một ý nghĩa sâu xa? Bến quê là nơi ghi

dấu ấn bao kỉ niệm từ thời thơ ấu cho đến lúc trưởng thành Ở đó mỗi con người đã được nuôi

dưỡng và lớn lên cả về thể chất lẫn tâm hồn Bến quê là điểm tựa bình yên cho cả cuộc đời mỗi

người Được sống trong tình yêu thương của mọi người, được bao bọc trong vẻ đẹp bình dị của

quê hương mới thật là hạnh phúc Đó là Bến quê của tâm hồn mỗi chúng ta Những điều tác giảm

gửi gắm đến người đọc càng trở nên tự nhiên nhờ sự miêu tả tâm lí tinh tế, nhiều hình ảnh giàu tính biểu tượng Cách xấy dựng tình huống truyện, đặc biệt là trần thuật theo dòng tâm trạng của nhân vật chính Thật chân thực, gần gũi khi những điều Nguyễn Minh Châu thể hiện lại được bộc

lộ qua suy nghĩ, lời nói của nhân vật chính là Nhĩ Lấy Bến quê làm nhan đề, Nguyễn Minh

Châu gửi gắm những trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về con người, cuộc đời, thức tỉnh mọi sự trân trọng những vẻ đẹp bình dị, gần gũi của gia đình, quê hươn

Bài số 15: Viết đoạn văn ngắn giải thích nhan đề bài thơ " Mùa xuân nho nhỏ" của Thanh Hải

( trong đó có sử dụng phép thế và câu hỏi tu từ cuối đoạn)

* Gợi ý:

- Về hình thức: viết đoạn văn giải thích nha đền bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải,

trong đó có sử dụng phép thế và câu hỏi tu từ cuối đoạn

- Về nội dung: Cần viết được các ý sau.

+ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải ngợi ca cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp của đất nước

Tác giả là người sống hết mình cho đất nước, đem cả cuộc đời phục vụ cho tổ quốc

+ Đất nước bị Mĩ – Diệm chia cắt làm hai miền, tác giả bí mật hoạt động trong vùng địch gây dựng phong trào cách mạng Bài thơ ra đời khi ông đang nằm trên giường bệnh một tháng trước khi qua đời

Trang 18

+ Mùa xuân nho nhỏ không chỉ thể hiện lòng yêu thiên nhiên, quê hương đất nước, thể hiện

tình yêu trước cuộc đời của người nghệ sĩ

+ Nhan đề bài thơ mang một ý nghĩa: mỗi người đều trở thành một mùa xuân nho nhỏ, làm nên mùa xuân bất tuyệt của đất nước

+ Mùa xuân nho nhỏ là một hình ảnh ẩn dụ đầy sáng tạo khắc sâu ý tưởng:

" Mỗi cuộc đời đã hóa núi sông ta" - Nguyễn Khoa Điểm.

+ Nhà thơ đã góp cho thơ ca dân tộc một bài thơ xuân đẹp, đậm đà tình nghĩa Làm sao không quý, không yêu những vần thơ của một hồn thơ đáng kính nhường nào?

- Đoạn văn minh họa:

"Mùa xuân nho nhỏ" của Thanh Hải ngợi ca cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp của đất

nước, một mùa xuân tươi vui, tràn đầy sức sống Tác giả là người sống hết mình thủy chung

cho đất nước, đem cả cuộc đời phục vụ cho Tổ quốc Khi đất nước bị Mĩ - Diệm và bè lũ tay sai

âm mưu chia cắt làm hai miền, tác giả bí mật hoạt động trong vùng địch gây dựng phong trào cách mạng, coi thường cảnh máu chày đầu rơi Cảm động hơn nữa là bài thơ ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt, khi ông đang nằm trên giường bệnh, một tháng trước khi qua đời Bởi thế

"

Mùa xuân nho nhỏ" không chỉ thể hiện lòng yêu thiên nhiên, quê hương đất nước của tác giả

mà còn thể hiện tình yêu trước cuộc đời của người nghệ sĩ.Nhan đề bài thơ chứa đựng một ý

nghĩa sâu sắc: mỗi con người đều trở thành "một mùa xuân nho nhỏ", làm nên mùa xuân bất

tuyệt của đất nước Ai cũng phải có ích cho đời "Mùa xuân nho nhỏ" là một hình ảnh ẩn dụ đầy sáng tạo khắc sâu ý tưởng: " Mỗi cuộc đời đã hóa núi sông ta" - Nguyễn Khoa Điểm Nhà

thơ Thanh Hải đã góp cho thơ ca dân tộc một bài thơ xuân đẹp, đậm đà tình nghĩa Tuy một

tâm hồn, tài năng thơ ca đã khép lại, nhưng những gì thộc về chất ngọc trong trái tim, tấm lòng

nhà thơ còn để đời cho hậu thế trân trọng nâng niu Làm sao không quý, không yêu những vần

thơ của một hồn thơ đáng kính nhường nào?

Bài số 16: Nêu hoàn cảnh ra đời bài thơ " Sang thu" của Hữu Thỉnh bằng một đoạn văn có sử

dụng phép thế

* Gợi ý:

- Về hình thức: viết đúng đoạn văn nêu hoàn cảnh ra đời bài thơ Sang thu có sử dụng phép thế.

- Về nội dung: Cần nêu được các ý sau.

+ Giới thiệu về tác giả - quê quán Là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ Từ một người lính ông trở thành cán bộ văn hóa và sáng tác thơ

+ Hữu Thỉnh là nhà thơ đi nhiều, viết nhiều, có một số bài thơ đắc sắc về con người cùng cuộc sống nông thôn

+ Bài thơ Sang thu sáng tác cuối năm 1977, in lần đầu trên báo văn nghệ Nội dung thể hiện tâm trạng bâng khuâng, xao xuyến của nhà thơ trước những chuyển biến của đất trời và bức tranh đẹp của nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ lúc giao mùa từ hạ sang thu

- Đoạn văn minh họa:

Nhà thơ Hữu Thỉnh quê ở Tam Dương, Vĩnh Phúc Là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ Từ một người lính tăng – thiết giáp, ông trở thành cán bộ văn hóa, tuyên huấntrong quân đội và sáng tác thơ Hữu Thỉnh là nhà thơ đi nhiều, viết nhiều, có một số bài thơ đắc sắc về con người cùng cuộc sống nông thôn Bài thơ Sang thu sáng tác cuối năm 1977, in lần đầu tiên trên báo văn nghệ Nội dung thể hiện tâm trạng bâng khuâng, xao xuyến của nhà thơ trước những chuyển biến tinh tế của đất trời và là bức tranh thiên nhiên đẹp của nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ lúc giao mùa từ hạ sang thu

Trang 19

LÝ THUYẾTCÁC BIỆN PHÁP TU TỪ TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT

I So sánh:

1- KN: So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để

làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt

- VD: " Trong như tiếng hạc bay qua

Đục như tiếng suối mới sa nửa vời"

( Nguyễn Du)

Mỏ Cốc như cái dùi sắt, chọc xuyên cả đất

( Tô Hoài)

2- Cấu tạo của phép so sánh:

So sánh là cách công khai đối chiếu các sự vật với nhau, qua đó nhận thức được sự vật một cách dễ dàng, cụ thể hơn Vì vậy, một phép so sánh thông thường gồm 4 yếu tố:

1 Vế A: Đối tượng (sự vật) được so sánh.

2 Bộ phận hay đặc điểm so sánh ( Phương diện so sánh).

3 Từ so sánh.

4 Vế B: Sự vật làm chuẩn so sánh.

Ta có sơ đồ sau đây:

Vế A

( Sự vật được so

sánh)

Phương diện so sánh

( Sự vật dùng để làm chuẩn so sánh)

NhưNhưNhư là

BôngBát nước chèĐứng chơi

* Lưu ý:

Trong 4 yếu tố trên thì yếu tố ( 1) và ( 4) phải có mặt Nếu vắng cả yếu tố (1) thì giữa yếu

tố ( 1) và ( 4) phải có điểm tương đồng quen thuộc Lúc đó ta có ẩn dụ

Khi ta nói: Cô gái đẹp như hoa -> so sánh

Còn khi nói: Hoa tàn mà lại thêm tươi ( Nguyễn Du) thì hoa ở đây là ẩn dụ.

Yếu tố (2) và (3) có thể vắng mặt Khi yếu tố (2) vắng mặt người ta gọi là so sánh chìm

vì phương diện so sánh ( còn gọi là mặt so sánh) không lộ ra, do đó sự liên tưởng rộng rãi hơn, kích thích trí tuệ và tình cảm người đọc nhiều hơn

Yếu tố (3) có thể là các từ như: giống, tựa, tựa như, khác nào, giống như, là, bao nhiêu bấy nhiêu, hơn, kém mỗi yếu tố đảm nhận một sắc thái biểu cảm khác nhau:

- Như: có sắc thái giả định.

- Là: sắc thái khẳng định.

- Tựa: thể hiện mức độ chưa hoàn hảo

Trật tự của phép so sánh có khi được thay đổi

VD: Như chiếc đảo bốn bề chao mặt sóng

Hồn tôi vang tiếng vọng của hai miền.

3- Các kiểu so sánh: Dựa vào mục đích, các từ so sánh người ta chia phép so sánh thành hai

kiểu

+ So sánh ngang bằng: được thể hiện ở các từ: là, như, y như, tựa như, giống như hoặc cặp đại từ: bao nhiêu bấy nhiêu.

Trang 20

Mục đích của so sánh nhiều khi không phải là tìm sự giống nhau hay khác nhau mà nhằm diễn đạt một hình ản, một bộ phận hay đặc điểm nào đó của sự vật, giúp người nghe (đọc) có cảm giác hiểu biết sự vật một cách cụ thể sinh động Vì thế phép so sánh thường mang tính cường điệu.

VD: Cao như núi, dài như sông

( Tố Hữu) + So sánh hơn kém: từ so sánh được sử dụng: hơn, hơn là, kém, kém gì

VD: Ngôi nhà sàn dài hơn cả tiếng chiêng.

Muốn chuyển so sánh hơn kém sang so sánh ngang bằng người ta thêm một trong các từ phủ

định: không, chưa, chằng vào trong câu và ngược lại.

VD: Bóng đã quyến rũ tôi hơn cả những công thức toán học.

Bóng đã quyến rũ tôi không hơn những công thức hóa học

4- Tác dụng của so sánh:

+ So sánh tạo ra những hình ảnh cụ thê sinh động Phần lớn các phép so sánh đều lấy cái cụ

thể so sánh với cái không cụ thể hoặc kém cụ thể hơn, giúp mọi người hình dung được sự vật,

sự việc cần nói tới và cần miêu tả

VD: Công cha như núi thái sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

(Ca dao)

+ So sánh còn giúp cho câu văn hàm súc gợi trí tưởng tượng của ta bay bổng Vì thế trong thơ thể hiện nhiều phép so sánh bất ngờ

VD: Tàu dừa chiếc lược chải vào mây xanh.

-> Cách so sánh ở đây thật bất ngờ, gợi cảm Yếu tố (2) và (3) bị lược bỏ Người đọc (nghe)

tha hồ mà tưởng tượng ra các mặt só sánh khác nhau làm cho hình tượng so sánh được nhân lên nhiều lần.

II Nhân hoá:

1 Thế nào là nhân hoá ?

Nhân hoá là cách gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật, hiện tượng thiên nhiên bằng những từ ngữ vốn được dùng đẻ gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối đồ vật, … trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ tình cảm của con người

Từ nhân hoá nghĩa là trở thành người Khi gọi tả sự vật ngời ta thường gán cho sự vật đặc tínhcủa con người Cách làm như vậy được gọi là phép nhân hoá

VD: Cây dừa

Sải tay Bơi

Ngọn mùng tơi Nhảy múa

(Trần Đăng Khoa)

2 Các kiểu nhân hoá:

Nhân hoá đợc chia thành các kiểu sau đây:

+ Gọi sự vật bằng những từ vốn gọi người

VD: Dế Choắt ra cửa, hé mắt nhìn chị Cốc Rồi hỏi tôi :

- Chị Cốc béo xù đứng trớc cửa nhà ta đấy hả ?

(Tô Hoài)

+ Những từ chỉ hoạt động, tính chất của con người được dùng để chỉ hoạt động, tính chất

sự vật.

Trang 21

VD: Muôn nghìn cây mía

Em hỏi cây kơ nia

Gió mày thổi về đâu

Về phương mặt trời mọc

(Bóng cây kơ nia)

3 Tác dụng của phép nhân hoá

Phép nhân hoá làm cho câu văn, bài văn thêm cụ thể, sinh động, gợi cảm ; là cho thế giới

đồ vật, cây cối, con vật được gần gũi với con người hơn

VD: Bác giun đào đất suốt ngày

Hôm qua chết dưới bóng cây sau nhà.

VD: Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

(Viễn Phương)

-> Mặt trời ở dòng thơ thứ hai chính là ẩn dụ.

Hoặc: Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi

Mặt trời của mẹ em nằm trên lng

(Nguyễn Khoa Điềm)

Ca dao có câu: Thuyền về có nhớ bến chăng?

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

Trang 22

Bến được lấy làm ẩn dụ để lâm thời biểu thị người có tấm lòng thuỷ chung chờ đợi, bởi những

hình ảnh cây đa, bến nước thường gắn với những gì không thay đổi là đặc điểm quen thuộc ở những cón người có tấm lòng thuỷ chung

Ẩn dụ chính là một phép chuyển nghĩa lâm thời khác với phép chuyển nghĩa thường xuyên trong từ vựng Trong phép ẩn dụ, từ chỉ được chuyển nghĩa lâm thời mà thôi

2.Tác dụng của ẩn dụ:

Ẩn dụ làm cho câu văn thêm giàu hình ảnh và mang tính hàm súc Sức mạnh của ẩn dụ chính là mặt biểu cảm Cùng một đối tượng nhưng ta có nhiều cách thức diễn đạt khác nhau

(thuyền - biển, mận - đào, thuyền - bến, biển - bờ) cho nên một ẩn dụ có thể dùng cho nhiều đối

tượng khác nhau Ẩn dụ luôn biểu hiện những hàm ý mà phải suy ra mới hiểu Chính vì thế mà

ẩn dụ làm cho câu văn giàu hình ảnh và hàm súc, lôi cuốn người đọc ngời nghe

VD: Trong câu : Người Cha mái tóc bạc nếu thay Bác Hồ mái tóc bạc thì tính biểu cảm sẽ

mất đi

IV Hoán dụ:

1 Thế nào là hoán dụ:

Gọi tên những sự vật, hiện tượng, khái niệm này bằng tên những sự vật, hiện tượng, khái

niệm khác có quan hệ gần gũi với nó

- Tác dụng: làm tăng tính gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt

2 Các kiểu hoán dụ:

- Có 4 kiểu hoán dụ thường gặp.

+ Lấy bộ phận để gọi cái toàn thể

+ Lấy vật chứa đựng để nói đến vật bị chứa đựng

+ Lấy dấu hiệu của sự vật đề gọi sự vật

+ Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng

* Bài tập:

Bài 1: Xác định biện pháp tu từ và giá trị nghệ thuật của nó trong các câu thơ sau:

Quê hương là con diều biếc Tuổi thơ con thả trên đồng

(Trích: Quê hương - Đỗ Trung Quân)

* Gợi ý:

- Tác giả sử dụng biện pháp so sánh: lấy con diều để so sánh với quê hương -> hình ảnh so

sánh đẹp, sáng tạo

- Giá trị của biện pháp so sánh:

+ Quê hương: gắn liền với hoài niệm tuổi thơ

+ Cánh diều làm ta liên tưởng đến một bầu trời bát ngát mênh mông hiện lên trên tầng không mà da trời thì xanh ngắt, cánh diều ấy là cánh diều "tuổi thơ con thả trên đồng" sau mùa gặt

+ Qua hình ảnh so sánh nhà thơ nói lên một tình yêu quê hương thắm thiết Yêu quê hươngcũng là yêu bầu trời, yếu cánh đồng, yêu kỉ niệm tuổi thơ

+ Biện pháp so sánh đặc sắc, độc đáo đã gợi tả một không gian nghệ thuật có bầu trời cao, sắc biếc của bầu trời, có chiều rộng của cánh đồng quê, có chiều dài của năm tháng, từ hiện tại đứa con xa quê nhớ về tuổi thơ

Bài 2: Trong đoạn thơ sau, tác giả sử dụng biện pháp tư từ gì? Phân tích tác dụng của biện pháp

tu từ đó?

Có phải thịt da em mềm mại trắng trong

Trang 23

Đã hóa thành những làn mây trắng?

Và ban ngày khoảng trời ngập nắng

Đi qua khoảng trời em Vầng thái dương thao thức Hới mặt trời, hay chính trái tim em trong ngực?

Soi cho tôi Ngày hôm nay tiếp bước quãng đường dài?

(Khoảng trời hố bom - Lâm Thị Vĩ Dạ)

* Gợi ý:

- Đoạn thơ trên, tác giả sử dụng biện pháp như:

+ 3 hình ảnh hoán dụ và so sánh độc đáo:

" Thịt da hóa thành những làm mây trắng"

" hố bom đầy nước - khoảng trời em"

" trái tim - mặt trời"

+ Hình ảnh nhân hóa: Vầng thái dương thao thức.

+ Câu hỏi tu từ: " Có phải thịt mây trắng?

Soi cho tôi đường dài?"

- Tác dụng: + Đoạn thơ giàu hình tượng và dồn nén cảm xúc, gợi ra một trường liên tưởng

man mát diễn tả những suy nghĩ về tấm gương anh hùng của người nữ thanh niên xung phong

đã ngã xuống trên chiến trường

+ Một hố bom đầy nước như một dấu tích anh dũng, đau thương và căm thù mà cô

gái mở đường để lại cho đồng đội Hố bom ấy phản ánh cuộc đời cao đẹp của em " có phải thịt

da em" đã hóa thành " những làn mây trắng" Hay chính " trái tim" em là " mặt trời" soi sáng

nẻo đường hành quân cho đồng đội

+ Người nữ chiễn sĩ đã hi sinh anh dũng nhưng tâm hồn và trái tim vẫn sống mãi cùng quê hương, đất nước như làn mây trắng, như mặt trời chói lọi kia Đoạn thơ như một tượn đài hùng tráng về người con gái Việt Nam anh hùng, bất tử

THỰC HÀNH CÁC ĐỀ CỤ THỂ

Bài số 1: Tìm và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:

Ta đi tới trên đường ta bước tiếp

Rắn như thép, vững như đồng,

Đội ngũ ta trùng trùng, điệp điệp,

Cao như núi, dài như sông

Chí ta lớn như biển Đông trước mặt.

(Trích: Ta đi tới - Tố Hữu)

* Gợi ý:

- Đoạn thơ trên sử dụng các từ ngữ, hình ảnh so sanh: Rắn như thép, vững như

đồng, Đội ngũ ta trùng trùng, điệp điệp- Cao như núi, dài như sông, Chí ta lớn như biển Đông trước mặt.

- Tác dụng: các từ ngữ, hình ảnh so sánh làm nổi bật sức mạnh, ý chí quyết tâm, sô

lượng đông đảo của con người Việt Nam trong cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc

Bài số 2: Vận dụng các phép tu từ đã học để phân tích đoạn thơ sau:

Cứ nghĩ hồn thơm đang tái sinh Ngôi sao ấy lặn hóa bình minh.

Trang 24

Cơm mưa vừa tạnh, Ba Đình nắng Bác đứng bên kia, vẫy gọi mình.

(Trích: Theo chân Bác - Tố Hữu)

* Gợi ý:

- Đoạn thơ trên sử dụng biện pháp tu từ:

+ Hoán dụ: hồn thơm

+ Ẩn dụ: Ngôi sao, bình minh

+ Từ ngữ cùng trường từ vựng chỉ các hiện tượng tự nhiên: ngôi sao, lặn, bình minh, cơn mưa, tạnh, nắng

- Tác dụng: Đoạn thơ đã tái hiện hình ảnh Bác vừa thiêng liêng, cao cả vừa gần gũi thân

thương

+ Các biện pháp tư từ và các từ cùng trường từ vựng sử dụng trong đoạn thơ thể hiện sự vĩnh hằng, bất tử của Bác: Bác hóa thân vào thiên nhiên, trường tồn cùng thiên nhiên đất nước, giảm nhẹ nỗi đau xót về sự ra đi của Người

+ Hình ảnh thơ vừa giàu sắc thái biểu cảm vừa thể hiện tấm lòng thành kính thiêng liêng của tác giả với Bác Hồ

- Nhờ các biện pháp tu từ mà hình ảnh Bác hiện lên thật đẹp, vĩnh hằng và bất tử trong lòng mỗi người dân Việt Nam

Bài số 3: Phân tích giá trị biểu đạt của ngôn ngữ và các biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:

Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ

Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

Nhóm bếp lửa ấp ui nồng đượm

Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi

Nhóm nồi xôi gạo mới xẻ chung vui.

Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ

Ôi kì lạ và thiêng liêng bếp lửa!

(Trích: Bếp lửa - Bằng Việt)

* Gợi ý:

- Đoạn thơ trên tác giả sử dụng các biện pháp nghệ thuật:

+ Điệp ngữ: " Nhóm"(4 lần) -> Nhấn mạnh sự việc của bà

+ Từ láy : " ấp iu"-> Gợi sự chăm sóc

+ Các từ ngữ giàu sắc thái biểu cảm: ôi, kì lạ, thiêng liêng -> Gợi cảm xúc mãnh liệt về bà

và bếp lửa

+ Hình ảnh ẩn dụ :" nhóm" dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ.

+ Câu cảm thán giúp bộc lộ cảm xúc chân thành của cháu

- Với các biện pháp nghệ thuật sử dụng trong đoạn thơ ta thấy hình ản bà và hình ảnh bếp lửa là

biểu tượng cho tình yêu thương và sự xẻ chia và có sức nâng đỡ kì lạ trong cuộc đời cháu

Hình ảnh bếp lửa tỏa sáng trong thơ, trong hồi ức của cháu và có sức sống mãnh liệt, nâng đỡ tâm hồn cháu, tiếp thêm nghị lực cho cháu trên con đường đời

- Như vậy, hình ảnh lửa thật giản dị, bình thường và phổ biến trong mọi gia đình Việt Nam,

nhưng bếp lửa cũng thật cao quý, kì diệu và thiêng liêng vì nó luôn gắn liền với bà - người giữ lửa, nhóm lửa, truyền lửa, người tạo nên tuổi thơ ấu của cháu Bếp lửa trở thành một mảnh tâm hồn, một phần không thể thiếu trong đời sống tâm hồn của cháu

Bài số 4: Tìm và phân tích giá trị của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ sau:

Trang 25

Sương trắng giỏ đầu cành như giọt sữa

Tia nắng tía nhảy hoài trên ruộng lúa

Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh

Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh

(Trích: Chợ tết - Đoàn Văn Cừ)

* Gợi ý:

- Trong khổ thơ trên tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ:

+ So sánh: Sương trắng giỏ như giọt sữa.

+ Nhân hoá: Tia nắng tía nhảy.

Núi uốn mình

Đồi thoa son

- Tác dụng:

+ Biện pháp so sánh của tác giả rất hay và hợp lý: màu trắng của sương gợi màu trắng của sữa,

giọt sương cũng như giọt sữa mát lành của thiên nhiên dành cho cây cối

+ Biện pháp nhân hóa làm cho cảnh vật được thổi vào trong mình linh hồn sống động, nóng hổi

trở thành những con người

"Tía nắng" cũng tinh nhịch nhảy hoài một cách đam mê không mệt mỏi Màu xanh của lúa

pha với màu vàng của nắng thành màu " nắng tía" Gió thổi lúa xao động khiến tia nắng đang trải dài thành ra nhấp nháy, chuyển động

" Núi" được nhà thơ nhân hóa như cô gái duyên dáng trong tà áo đẹp màu xanh óng ả, tươi

tắn

" Đổi" cũng được nhân hóa giống như cặp môi của cô gái thoa son dưới ánh bình minh.

=> Với những biện pháp tu từ trên cho ta cảm nhận được đây là một bức tranh giàu màu sắc:

trắng, tía, xanh, hồng đỏ của son, của bình minh Cách gợi tả bức tranh làng quê vùng đồi buổi

bình minh tươi đẹp, rực rỡ, sống động, mang vẻ đẹp và sức sống của con người, thể hiện một tâm hồn trong sáng, một cách nhìn cảnh vật đầy tình yêu, đằm thắm, lạc quan

Bài số 5: Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong ba câu thơ sau, biện pháp ấy giúp em

hình dung gì về hình ảnh "bếp lửa" mà tác giả nhắc tới?

- Đoạn thơ sử dụng từ láy: chờn vờn.

- Từ láy có tác dụng gợi tả hình ảnh ngọn lửa lúc to, lúc nhỏ; lúc cao, lúc thấp; soi tỏ hình ảnh

của người và vật xung quanh Ngoài ra từ láy còn có tác dụng gợi ra một hình ảnh gần gũi, quenthuộc từ bao đời nay trong các gia đình Việt Nam, nhất là ở nông thôn trước đây Bếp lửa là hình tượng khơi nguồn cảm xúc để người cháu hổi tưởng về hình ảnh người bà kính yêu

Bài số 6: Khổ thơ trên sử dụng biện pháp tu từ nào? Hãy phân tích giá trị nghệ thuật của chúng?

Gió bấc cựa mình làm rơi quả khế

Mèo con ru cái bếp thầm thì

Đêm nũng nịu dụi đầu vào vai mẹ

Mùa đông còn bé tí ti.

(Ấm - Bùi Thị Tuyết Mai)

Trang 26

nên sống động, gợi hình tượng, cảm xúc Người đọc có cảm nhận như khôn chỉ nói về thiên

nhiên mà còn nói về con người

Bài số 7: Phân tích giá trị của biện pháp đổi trật tự cú pháp trong khổ thơ sau:

Nhà ái mới quá tường vôi mới Thơm phức mùi tôm nặng mấy nong Ngồn ngộn sân phơi khoai dát nắng Giếng vườn ai vậy nước khơi trong

* Gợi ý:

- Các từ đổi trật tự cú pháp ở khổ thơ trên: Thơm phức, nặng, ngồn ngộn

- Biện pháp đổi trật tự cú pháp nhằm nhấn mạnh ý nghĩa của từ được đổi trật tự cú pháp, tăng giá trị biểu cảm, tình hình tượng, làm cho người đọc cảm nhận ngay được bằng khứu giác, thị giác, cảm giác về sự sung túc, no ấm của làng quê miền biển, một nét đẹp đẽ của cuộc sống mới

Bài số 8: Chỉ ra các phép hoán dụ trong những câu thơ sau.

Đầu xanh có tuội tình gì

Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi.

Biết thân chạy chẳng khỏi trời, Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh

(Trích: Truyện Kiều – Nguyễn Du)

* Gợi ý:

- Phép hoán dụ sử dụng trong các câu thơ:

+ Đầu xanh: biểu thị con người ở độ tuổi trẻ chung mới bước vào đời.

+ Má hồng: biểu thị người đàn bà sống kiếp lầu xanh.

+ Mặt phấn: chỉ người con gái đẹp và trẻ.

+ Ngày xanh: biểu thị tuổi trẻ, thời con gái.

=> Qua những hình ảnh hoán dụ ấy, Nguyễn Du biểu lộ niềm cảm thông và thương xót cho thân phận nàng Kiều, một thiếu nữ tài sắc mà bạc mệnh đang bị đầy đọa trong chốn lầu xanh

Bài số 9: Mở đầu bài thơ Viếng Lăng Bác, nhà thơ Viễn Phương Viết:

Con ở Miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.

Và cuối bài thơ, nhà thơ bày tỏ ước nguyện:

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.

- Theo em những hình ảnh nào là ẩn dụ, cảm nhận của em về vẻ đẹp của những hình ảnh ẩn dụ đó?

* Gợi ý:

- Những hình ảnh ẩn dụ:

+ Hàng tre Việt Nam

Trang 27

+ Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.

+ Cây tre trung hiếu

- Cảm nhận:

+ Hình ảnh ẩn dụ đầu tiên được gợi ra từ hàng tre rất thực, quanh lăng Bác Theo con

đường dẫn tới lăng Bác, xa xa đã thấy bát ngát của hàng tre, giăng mắc hơi sương trong buổi

ban mai Một hình ảnh quen thuộc mà đâu đâu ta cũng thấy trên đất nước Việt Nam Tre kiên cường, bất khuất trong bão táp, mưa sa, tre bảo vệ tổ quốc Tre là biểu tượng đẹp của con

người Việt Nam trong đó có Bác: Tre - Việt Nam - Hồ Chí Minh khiến tâm hồn nhà thơ phải

buột thốt: Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam có cái gì như thiêng liêng, xúc động, thành

kính, tự hào

+ Hình ảnh ẩn dụ ở khổ cuối: cây tre trung hiếu có kết cấu như một sự hô ứng chặt chẽ Cây tre – Con người kiên cường, bất khuất trong bão táp mưa sa, trong công cuộc xây dựng vàbảo vệ tổ quốc, thì cây tre - con người trung hiếu với Người, với Đảng với cách mạng là lẽ

đương nhiên Nhà thơ muốn bày tỏ tâm nguyện của mình đối với Bác qua hình ảnh cây tre

trung hiếu: trung vời Đảng, hiếu với dân, với Bác Muốn được hóa thân vào cây tre chốn này

để canh giữ cho Người bình yên trong giấc ngàn thu Đó là ước nguyện chân thành, thành kính của tác giả đối với vị cha già kính yêu

Bài số 10: Tìm và phân tích giá trị biểu cảm của biện pháp tu từ trong hai câu thơ sau:

Bão bùng thân bọc lấy thân Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm.

(Trích: Tre Việt Nam - Nguyễn Duy)

* Gợi ý:

- Các biện pháp tu từ trong hai câu thơ sau:

+ Bão bùng: hình ảnh tượng trưng sự gian khổ, khó khăn.

+ Tre được nhân hóa: thân bọc lấy thân, tay ôm tay níu.

+ Điệp từ: thân, tay được láy lại hai lần.

- Đây là hai câu thơ đặc sắc nhất trong bài thơ "Tre Việt Nam" của Nguyễn Duy Tre không chỉ là

vẻ đẹp thân thuộc của làng quê mà còn là biểu tượng cho những phẩm chất cao quý của người nông dân Việt Nam Cũng như tre gắn bó với nhau " nên lũy nên thành", người nông dân Việt Nam

trong " bão bùng" gian khổ, biết yêu thương đoàn kết, che chở nhau " thân bọc lấy thân", bảo vệ nhau " tay ôm tay níu" để cùng tồn tại, phát triển và sống trong hạnh phúc Điệp từ làm cho ý thơ

được nhấn mạnh, giọng thơ êm ấm, nhịp nhàng, gợi cảm Niềm thương mếm và tự hào của tác giả được diễn tả trong một vần thơ hàm súc, hình tượng và truyền cảm sâu sắc

Bài số 11: "Cây lược ngà ấy chưa chải được mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rối được

phần nào tâm trạng của anh."

(Trích: Chiếc lược ngà – Nguyễn Quang Sáng)

- Phân tích ngữ pháp trong câu văn trên.

- Tìm và phân tích giá trị biện pháp tu từ trong câu văn đó

Trang 28

- Câu văn sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa: Cây lược ngà chưa chải được

nhưng như gỡ rối được hàng động: chải, gỡ rối vốn là của con người nhưng lại đặt vào sự

vật Cây lược.

+ Phép tu từ ấy đã gợi hình và cảm xúc cho câu văn Người đọc có thể hình dung ra chiếc lược

ngà mà ông Sáu đã miệt mài, dồn hết tâm huyết, tình yêu thương để làm ra nó Cây lược tuy chưa chải được mái tóc cho con nhưng nó đã xoa dịu nỗi đau xa cách, sự ân hận và thể hiện tìnhcảm cha con thiêng liêng, sâu nặng Nó là biểu tượng của tình cha con bất tử, gợi suy nghĩ và những rung động sâu sa trong người đọc

Bài số 12: Phân tích nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ và xây dựng hình ảnh của Nguyễn Du trong đoạn thơ sau:

Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Buồn trông mặt nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Buồn trông nội cỏ rầu rầu,

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

(Trích: Kiểu ở lầu Ngưng Bích - Trích: Truyện Kiều - Nguyễn Du)

* Gợi ý:

- Nghệ thuật sử dụng ngông ngữ:

+ Sử dụng hàng loạt từ láy: thấp thoáng, man mác, rầu rầu, xanh xanh, ầm ầm ->

Gợi hình ảnh, màu sắc, âm thanh

+ Điệp từ: "Buồn trông" đứng đầu các câu thơ gợi lên ánh mắt đầy buồn bã chán

chường, gọi nỗi buồn triền miên không dứt, mở ra một thế gới tâm trạng ngổn ngang, giăng mắc đầy âu lo của nàng Kiều

+ Câu hỏi tu từ được dùng liên tiếp diễn tả tâm trạng khắc khoải, băn khoăn, lo âu của Thúy Kiều

- Nghệ thuật xây dựng hình ảnh:

+ Sử dụng hình ảnh thiên nhiên có tính ước lệ: thuyền, hoa, cửa bể, chân mây, mặt đất

+ Xây dựng hình ảnh tương phản: Hình ảnh " Cửa bể chiều hôm" gợi không gian mênh mông, rợn ngợp >< " Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa" gợi sự nhỏ nhoi, lẻ loi, hình ảnh

" ngọn nước mới sa" gợi sự dữ dội >< " Hoa trôi man mac" gợi sự yếu mềm, bé nhỏ.

+ Búp pháp tả cảnh ngụ tình: thiên nhiên được tâm trạng hóa với cấp độ ngày càng cao,thể hiển diễn biến tâm trạng từ buồn bã, cô đơn đến hốt hoảng, âu lo của Thúy Kiều

=> Với việc sử dụng ngôn ngữ và xây dựng hình ảnh rất điêu luyện và linh hoạt, Nguyễn Du đãthể hiện xúc động cảnh ngộ và tâm trạng lẻ loi, buồn chán, dự cảm hãi hùng về một tương lai bất an của Thúy Kiều, thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của đại thi hào đối với nhân vật

Bài số 13: " Giời chớm hè Cây cối um tùm Cả làng thơm Cây hoa lan nở hoa trắng xóa Hoa giẻ từng chùm mảnh dẻ Hoa móng rồng bụ bẫm thơm như mùi mít chín ở góc vườn ông Tuyền Ong vàng, ong bỏ vẽ, ong mật đánh lộn nhau để hút mật ở hoa Chúng đuổi cả bướm Bướm hiền lành bỏ chỗ lao xao Từng đản rủ nhau lặng lẽ bay đi".

(Trích: Tuổi thơ im lặng - Duy Khán)

- Chỉ ra các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn

- Phân tích hiệu quả thẩm mĩ của các biện pháp tu từ đó?

Trang 29

* Gợi ý:

- Các biện pháp tu từ:

+ Nhân hóa: Hoa giẻ từng chùm mảnh dẻ, hoa móng rồng bụ bẫm, ong mật đánh lộn nhau,

bướm hiền lành, từng đản rủ nhau lặng lẽ bay đi

+ Liệt kê: ong vàng, ong bò vẽ, ong mật; hoa lan, hoa giẻ, hoa móng rồng.

+ So sánh: Hòa móng rồng thơm như mùi mít chín.

- Đoạn văn sử dụng rất nhiều biện pháp tu từ gợi lên một bức tranh làng quê đầu hè đầy sức sống, nên thơ

+ Hình ảnh so sánh và thủ pháp liệt kê có tác dụng gợi lên một không gian nồng nàn hương thơm, tươi tắm nhiều màu sắc, rộn rịp những hoạt động của thế giới loài vật

+ Với thủ pháp nhân hóa, cảnh vật hiện lên rất có hồn, sống động, đáng yêu

- Thể hiện niềm say mê, tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương của tác giả

- Gợi dậy ở người đọc cảm xúc náo nức, yêu mến, tự hào về cảnh đẹp quê hương

Bài số 14: Phân tích giá trị biểu cảm của biện pháp tu từ trong những câu thơ sau:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ (Trích: Viếng lăng Bác - Viễn Phương)

Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng (Trích: Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ - Nguyễn Khoa Điểm)

* Gợi ý:

- Câu thơ thứ hai của Viễn Phương và câu thơ thứ hai của Nguyễn Khoa Điểm đều được sử dụng với biện pháp tu từ ẩn dụ làm phong phú hình tượng trong văn thơ nói chung và cho thơ nói riêng

+ Với hình ảnh "mặt trời" trong thơ Viễn Phương, tác giả đem hình ảnh so sánh đặt trước (đối

tượng so sánh -> Bác Hồ) để nâng cao hình tượng so sánh Mặt trời là biểu tượng chân lí, cho

ánh sáng vĩnh cửu của cuộc sống Nhà thơ ví Bác như chân lí ấy, như ánh sáng vĩnh cửu ấy Người đọc có thể bắt gặp một sự so sánh không gượng ép, biện pháp ẩn dụ sử dụng đúng chỗ làm tăng giá trị biểu cảm của biện pháp tu từ

+ Với hình ảnh "mặt trời" trong thơ Nguyễn Khoa Điểm được tác giả sử dụng với biện pháp tu

từ ẩn dụ với tác dụng khác nhau Đối tượng so sánh là em bé Lúc này mặt trời không là biểu tượng cho chân lí hay một sức mạnh vĩnh cửu mà nó được đem ra làm biểu tượng cho sự sống, cho niềm tin của một người mẹ đối với con Đồng thời qua đó cũng bộc lộ một tình yêu nóng bỏng, tình mẫu tử

=> Qua phân tích giá trị biểu cảm của biện pháp tu từ trong hai câu thơ trên cho ta thấy ẩn dụ làmột biện pháp tu từ có tính biểu cảm mạnh mẽ, phong phú Biện pháp ấy đã làm đa dạng hóa nhiều hình tượng, hình ảnh qua đôi mắt và trái tim cảm nhận của các nhà văn, nhà thơ

Bài số 15: Dòng sông lặng ngắt như tở

Sao đưa thuyền chạy thuyền chờ trăng theo.

(Đi thuyền trên sông Đáy - Hồ Chí Minh)

Trong thực tế, sao không thể đưa thuyền và thuyền không có thể chờ trăng Vậy mà câu thơ củaBác vẫn rất thực và hay?

* Gợi ý:

Trang 30

Năm 1949 tại chiến khu Việt Bắc, Bác viết bài " Đi thuyền trên sông đáy", mở đầu bài thơ Bác viết:

Dòng sông lặng ngắt như tở

Sao đưa thuyền chạy thuyền chờ trăng theo.

" Sao đưa thuyền chạy" và "thuyền chờ trăng theo" là điều không có thực trong thực tế, nhưng

lại là điều rất thực trong cảm giác của con người, trong cảm hứng trữ tình của nhà thơ Câu thơ

tả cảnh bầu trời, trăng sao và con thuyển Con thuyên đang lướt đi trên dòng sông, đêm mênh mông lặng ngắt như tờ, mọi vật đều ngủ yên, chỉ có con thuyền, trăng, sao con thức Trăng, sao lấp lánh trên bầu trời và trăng, sao in bóng xuống dòng sông xanh Thuyền chạy, trăng sao cũngnhư lướt theo Sao ở đằng trước mũi thuyền nên cảm thấy " Sao đưa thuyền chạy", trăng ở sau

thuyền nên dường như "thuyền chờ trăng theo".

Thuyền và trăng được nhân hóa, cảnh đi thuyền trên sông vừa thực vừa mộng, chữ "chờ

và đưa" vừa gợi tả vừa biểu cảm, cảnh vật hữu tình đầy chất thơ

Tác giả đã tạo nên một sợi tơ duyên khăng khít gắn bó bầu trời với dòng sông, thiên nhiên với con người Vì thế hành trình giữa đêm thanh vắng miền chiến khu mà con người vẫn không hề cảm thấy lẻ loi, đơn chiếc Đây chính là tư thế làm chủ - con người trong hoàn cảnh cũng vẫn thấy sông núi này, đất trời này là của mình, hòa điệu với tâm hồn mình Một vần thơ đẹp biểu lộ tình yêu thiên nhiên gắn liền với tình yêu đất nước

Bài số 16: Phân tích tác dụng diễn đạt của những biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ sau:

Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh, 'Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây.

Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh, Sưởi ấm lòng chiến sĩ giữa ngàn cây.

(Trích: Nhớ - Nguyễn Đình Thi)

* Gợi ý:

- Các biện pháp nghệ thuật sử dụng trong khổ thơ trên:

Khổ thơ trên tác giả sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ, nhân hóa "Ngôi sao nhớ ai" ," Ngọn lửa nhớ ai"

Câu hỏi tu từ: Nhớ ai?

Điệp từ, điệp ngữ: sao ( 2), nhớ ai mà (2), chiến sĩ giữa (2).

Cấu trúc song hành: câu 1,2 với câu 3,4.

- Các biện pháp nghệ thuật ấy đã gợi ra một trường liên tưởng về tình yêu thương Trước hết đó

là một cảnh tượng hùng tráng của đoàn quân ra trận trú quân giữa rừng sâu trong đêm lạnh, sao đầy trời, ánh lửa bập bùng Đó là cảm xúc ấm áp, niềm tin tưởng sáng ngời trong kháng chiếngian khổ trên bước đường hành quân chiến đấu của người chiến sĩ giữa ngàn cây đêm khuya lạnh lẽo Đó là hồn thiên sông núi, là tâm hồn dân tộc, là tấm lòng của nhân dân đối với người chiến sĩ ngoài mặt trận Đó là tình quân dân, tình hậu phương đối với tiền tuyến, tình thương nhớ của người mẹ già, người vợ trẻ, của đứa em thơ đối với anh bộ đội cụ Hồ, và sâu sa hơn nữa là tình yêu nước cao cả, thiêng liêng

Bài số 17: Hãy phân tích cái hay của những biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:

Sông đã phổng phao trời đẫm ướt

Núi không kì hạn mấy khoang đò,

Khi mùa mưa đến, mùa mưa đến

Trống gõ vô hồi là chuối tơ

Trang 31

Gặp giữa mùa mưa lòng trẻ lại

Làng ta tươi tốt một triền đê

Thở mãi không cùng hương đất bãi

Mưa như gót trẻ kéo nhau về

( )

Khi mùa mưa đến em ra bãi

Ngô lúa đôi bờ xanh vút theo

(Trích: Khi mùa mưa đến - Trần Hòa Bình)

* Gợi ý:

Đoạn thơ tả cảnh sắc quê hương và niềm vui của lòng người khi mùa mưa đến Con sông được nhân hóa trở nên "phổng phao" nước dâng lên như rộng lớn thêm ra Bóng núi nhạt nhòa trong mùa mưa, như một người bạn thân "không kì hẹn" với khoang đò nữa Bao giờ trời hửng

để con đò mang theo bóng núi? "Dòng sông, con đò, ngọn núi" được nhân hóa trở nên hữu tình trong mùa mưa

Âm thanh của mưa gõ liên hồi vào " là chuối tơ" được nhà thơ liên tưởng, so sánh với tiếng "trống gõ vô hồi" gợi tả niềm vui xôn xao của cảnh vật

Câu thơ: "Khi mùa mưa đến, mùa mưa đến"là một câu thơ hay và ý vị: Điệp ngữ diễn tả

cảnh mưa rơi suất đêm ngày Lòng người và cây cối vui mừng đón đợi mùa mưa sau những tháng ngày dài nắng hạn, vần thơ âm vang nhịp điệu tưng bừng Câu thơ " Lòng ta tươi tốt một triền đê" Sử dụng biện pháp đảo ngữ cho ta thấy trước mắt chúng ta là một màu xanh tươi tốt bao la mà mùa mưa đem đến cho triền đê, đồng bãi làng ta Đất bãi tỏa hương, dâng hương mọi người "thở mãi" tận hưởng, vô cùng hả hê sung sướng Âm vang của mùa mưa được so sánh, nhân hóa như nhịp bước của "gót trẻ" nhịp nhàng, hân hoan Mùa mưa đem lại hương sắc và sức sống dào dạt cho quê hương yêu dấu

Mùa mưa đến làm cho cô thôn nữ cần cù siêng năng hơn Cô say mê trước màu xanh của ngô, lúa trải dài đôi bờ con sông thân yêu Một chữ "vút" điểm nhãn thần tình, vừa diễn tả tầm mắt của em, vừa nói lên sự tươi tốt của ngô lúa đang vươn lên trong mùa mưa Sung sướng tự hào biết bao khi em ra thăm bãi

Khi mùa mưa đến em ra bãi

Ngô lúa đôi bờ xanh vút theo

Như vậy, với các biện pháp nghệ thuật: So sánh, nhân hóa, điệp ngữ, đảo ngữ tác giả đã miêu tảmột bức tranh đồng quê vô cùng sinh động đầy sức sống khi mùa mưa đến Cảnh đẹp, mùa màng tốt tươi làm ấm áp lòng người, một tình quê đằm thắm dạt dào, một cảnh tượng ấm no đầy hứa hẹn

Bài số 18: Tìm và phân tích hiệu quả thẩm mĩ của biện pháp nghệ thuật có trong đoạn thơ sau:

Trong như tiếng hạc bay qua, Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.

Tiếng khoan như tiếng thoảng ngoài., Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.

(Trích: Truyện Kiều -Nguyễn Du)

* Gợi ý:

- Trong đoạn thơ trên, tác giả sử dụng các biện pháp nghệ thuật:

+ Dùng đối ngữ: trong – đục; tiếng khoan – tiếng mau.

+ Liệt kê: tiếng khoan, tiếng mau.

Trang 32

+ So sánh: Trong như

Đục như

Tiếng khoan như

Tiếng mau sầm sập như

- Các biện pháp nghệ thuật đó kết hợp với nhau để tả tiếng đàn của nàng Kiều vừa cụ thể, vừa gợi cảm, vừa nổi bật, vừa hài hòa với bốn cung bậc khác nhau

Tiếng đàn thứ nhất trong sáng, vút cao, tiếng đàn tiếp theo trầm xuống, da diết rồi tiếng đàn baybổng, tha thiết, nhẹ nhàng, sau cùng là tiếng đàn vội vàng gấp gáp mạnh mẽ Đây là lần đầu và

là lần Kiều tự nguyện đánh đàn cho Kim Trọng nghe Tiếng đàn vừa trong sáng, thanh cao, vừa

là tiếng đàn của người trinh nữ, là khúc nhạc tình yêu, thể hiện cái tài, cái tình của Kiều

Bài số 19:Phân tích giá trị của biện pháp tu từ trong hai câu sau:

Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm

Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ

(Trích: Quê hương -Tế Hanh)

* Gợi ý:

- Trong hai câu thơ trên, tác giả sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa (im, mỏi, trở về, nằm, nghe).

- Với biện pháp tu từ nhân hóa ta thấy tác giả:

+ Biến con thuyền vô chi, vô giác trở nên sống động, có hồn như con người

+ Các từ "im, mỏi, trở về, nằm" cho ta cảm nhận được giây lát nghỉ thư giãn của con thuyền, giống như con người sau một chuyến ra khơi vất vả, cực nhọc trở về

+ Từ "nghe" gợi cảm nhận con thuyền như một cơ thể sống, nhận biết được chất muối của biển đang ngấm dần, lặn dần vào da thịt của mình, và cũng giống như con người từng trải, với con thuyền vị muối mặn càng ngấm vào nó bao nhiêu, nó càng như dày dặn lên bầy nhiêu

+ Tác giả miêu tả con thuyền, nói với con thuyền chính là để nói về người dân trài miền biển ở khía cạnh vất vả cực nhọc, từng trải trong cuộc sống hàng ngày Ở đây, hình ảnh con thuyền đồng nhất với cuộc đời, cuộc sống của người dân trài miền biển

Bài số 20: Phân tích giá trị của những biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau.

Nhớ người những sáng tinh sương Ung dung yên ngựa trên đường suối reo.

Nhớ chân người bước lên đèo, Người đi rừng núi trông theo bóng người.

Trang 33

(Trích: Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật)

* Gợi ý:

- Về hình thức: Viết một đoạn văn ngắn và phân tích giá trị tu từ của những thanh bằng trong

câu cuối của khổ thơ

- Về nội dung: Học sinh cần viết được đoạn văn với các ý sau.

+ Đây là khổ thơ thứ tư của Bài thơ về tiểu đội xe không kính, nhà thơ lại tiếp tục ghi lại

những gian khổ mà người lính đã trải qua

+ Người đọc bắt gặp hình ảnh người lái xe trong cái vẻ ngang tàng, chấp nhận mọi thử

thách: " Ừ thì ướt áo" một thái độ bất cần, bất chấp hoàn cảnh Khó khăn, gian khổ cũng

không làm ảnh hưởng đến ý chí của họ, không gì ngăn nổi bánh xe lăn, không gì ngăn cản nổi trái tim người chiến sĩ hướng về tiền phương

+ Nhiệt tình cách mạng của người lái xe không còn là trìu tượng nữa mà được tính bằng

cung đường " lái trăm cây số nữa" Những cung đường ấy trong mưa bom bão đạn phải trả

bằng mồ hôi xương máu

+ Gian khổ là vậy, nhưng hình ảnh người lái xe vẫn phơi phới niềm tin, tràn đầy nghị lực

được thể hiện qua câu bốn của khổ thơ: "Mưa ngừng, gió lùa mau khô thôi"một câu thơ với

cấu trúc đặc biệt, có bảy từ thì có sáu thanh bằng góp phần diễn tả sự lâng lâng bay bổng Trong hoàn cảnh nghiệt ngã không chỉ ở mưa bom bão đạn của kẻ thù mà là mưa Trường Sơn -

những cơm mưa lũ xối xả, người lính lái xe không hể chùn bước, ngại ngùng mà họ càng dày dặn, vững vàng, coi mưa gió là chuyện thường

+ Câu thơ không chỉ là miêu tả, không chỉ là lời động viên, đằng sau câu thơ là một tâm hồn yêu đời lạc quan, một tính cách trẻ trung đầy chất lính

Bầy chim non bơi lội bên sông Tôi dang tay ôm nước vào lòng Sông mở nước ôm tôi vào dạ Chúng tôi lớn lên mỗi người một ngả

Kẻ sớm hôm chài lưới bên sông

Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến Nhưng lòng tôi như mưa nguồn gió biển Vẫn trở về lưu luyến bên sông.

(Nhớ con sông quê hương - Tế Hanh)

* Gợi ý:

- Trong 4 câu thơ đầu: Khi bở tre ríu rít tiếng chim kêu

Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy

Bầy chim non bơi lội bên sông

Lối dùng từ láy và đảo ngữ tạo cho câu 1,2 sự nhịp nhàng, uyển chuyển như nhịp đi của cảm xúc tâm trạng tác giả

Trang 34

+ Lối đảo ngữ còn chạm khắc rõ nét trước mắt ta hình ảnh bên con sông cảnh sin động, rộn rã

lạ thường Cuộc sống của chim trên cạn, cá dưới nước được tái hiện linh hoạt, giàu hình ảnh

+ Từ láy: ríu rít gợi âm thanh trong trẻo, đông vui, cảnh tươi vui, sống động.

- Với câu thơ: Bầy chim non bơi lội bên sông -> Sử dụng lối vật hóa kết hợp với biện pháp ẩn

dụ hài hòa cho thấy sự ngây thơ, hồn nhiên của tuổi thơ tác giả như bầy chim non Nghệ thuật

đó còn bộc lộ cả tình yêu, thái độ trìu mến của nhà thơ với những kỉ niệm thời niên thiếu Khổ thơ 4 câu cho ta thấy được bao điều về tuổi thơ tác giả, là tuổi thơ hòa mình với tiếng chim trong veo, hót " ríu rít" gắn với con cá, mặt nước, bạn bè thật đẹp, đáng nhớ, đáng yêu

- Với câu thơ: Tôi dang tay ôm nước vào lòng

Sông mở nước ôm tôi vào dạ

Tác giả kết hợp nhuần nhuyễn nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ Từ hình ảnh thực, tác giả ôm nước

và tắm giữa lòng sông, nhà thơ đã nâng lên thành hình ảnh đặc sắc, có tầm khái quát cao hơn Con người tác giả và con sông rất gắn bó với nhau mật thiết như anh em, máu thịt của nhau Cả hai đến với nhau cùng giao hào, cộng hưởng, dành cho nhau khoảnh khắc tuyệt diệu nhất của tuổi trẻ, phải yêu sông lắm, gắn bó thực sự với sông tác giả mới có được kỉ niệm và lưu giữ được nó

- Đoạn thơ khép lại: Chúng tôi lớn lên mỗi người một ngả

Kẻ sớm hôm chài lưới bên sông

Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến Nhưng lòng tôi như mưa nguồn gió biển Vẫn trở về lưu luyến bên sông -> Tác giả sử dụng biện pháp lặp từ vựng nhấn mạnh sự chia

xa, ẩn chứa sự tiếc nuối vô hạn của tác giả vì kỉ niệm tuổi thơ này đành gác lại, trả về với thời gian, dĩ vãng Khi so sánh "lòng tôi như mưa nguồn gió biển" nỗi nhớ trong lòng tác giả đang dâng trào dạt dào Hình ảnh đó cho ta thấy nắm bắt được tâm trạng nỗi lòng nhớ nhung của tác giả khi nghĩ về dòng sông quê hương

-> Đoạn thơ là sự chua xót, ngậm ngùi, nuối tiếc những kỉ niệm ấu thơ vì những chuỗi ngày tươi đẹp gắn liền với dòng sông quê hương không bao giờ trở lại, tác giả nuối tiếc như tự mình đánh mất một thứ gì quý giá.Từ nỗi nhớ con sông quê hương cũng chính là nỗi nhớ tình yêu nước thiết tha sâu nặng của tác giả

Bài số 23: Phân tích cái hay trong những câu thơ sau:

Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ

Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương ?

Khi ta ở, chi là nơi đất ở

Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!

(Trích: Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên)

* Gợi ý:

- Câu thơ đầu của khổ: nhà thơ sử dụng dấu phẩy ở giữa tạo thế đăng đối cân xứng hài hòa,

cùng đó là điệp từ “nhớ” làm cho ta khi đọc lên tưởng chừng như một bài hát Đó chính là nỗi

nhớ vừa thực vừa ảo, nỗi nhớ da diết khôn nguôi mang một màu sắc sương khói hoài niệm

khiến ta liên tưởng đến câu thơ của Tố Hữu: “Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về” Đằng sau những câu thơ như câu hát ấy, nhà thơ

tự hỏi lòng mình “Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương?”, hỏi cũng là tự đo lòng mình, đo yêu thương tình nghĩa “Nơi nao” chính là “Nơi nào” đó chính nơi “máu rỏ tâm hồn ta thấm đất” Đây cũng chính là cách nói thể hiện tình yêu đặc biệt: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

Trang 35

Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”.“Đất” là cụ thể hóa của vật chất nhưng trong hai câu thơ này, “đất” đã được chuyển hóa thành tinh thần, thành tâm hồn Khi ta ở rồi

đến khi ta đi chắc chắn phải trải qua nhiều năm tháng Ở và đi để chỉ hoàn cảnh sống thay đổi

theo thời gian, không gian của quá khứ và cả hiện tại Tuy nhiên có một điều rất thật, điều mà không thể nào thay đổi được đó chính là tấm lòng con người Kẻ vô tâm thì đi là quên hết, còn nơi ở xưa kia là sự dửng dưng trong tâm hồn Người có tâm hồn cao đẹp thì dù có xa cách mấy vẫn mang theo trong tâm hồn mình những kỷ niệm vui buồn, những nhớ thương mà nơi mình từng gắn bó Điều kỳ diệu của tâm hồn ta chính là ở đây

Bài số 24: Phân tích hình ảnh và biện pháp so sánh trong đoạn thơ sau.

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai chim ém được mùa

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.

(Trích: Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên)

* Gợi ý:

- Đoạn thơ sử dụng cấu trúc liên so sánh: A (Con gặp lại nhân dân) được ví với B ( Nai về suối

cũ, cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa, đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa, chiếc nôi ngừng gặp cánh tay đưa)

- Cấu trúc liên so sánh thể hiện được những sắc thái, cung bậc cảm xúc phong phú, đa dạng của nhân vật trữ tình: vừa xúc động thiêng liêng khi được trở về vơi môi trường sống thân thuộc, cuội nguồn gắn bó thân thương; vừa thể hiện được niềm hân hoan, hạnh phúc khi được tiếp thêm sức sống, được hồi sinh; vừa có lòng biết ơn sâu sắc khi được sống lại cảm giác được yêu thương, chở che, đùm bọc trong lòng nhân dân sâu nặng, nghĩa tình

- Ở đây, tác giả đã dùng những quy luật của tự nhiên để thể hiện quy luật của tình cảm con người, từ đó gợi suy ngẫm: trở về với đất nước, với nhân dân cũng là một quy luật tất yếu

- Cấu trúc liên so sánh còn tạo nên hơi thở dồn dập, dạt dào, thể hiện sự trào dâng mãnh liệt của cảm xúc trữ tình Đọc đoạn thơ, ta như thấy tác giả nghẹn ngào, rưng rưng lệ, nhưng đó là

sự xúc động vì niềm vui tìm được lẽ sống đích thực của cuộc đời mình Mùa xuân đến với tác giả không phải là mùa xuân khổ đau, mà là mùa xuân vui tươi, đầy sức sống Giờ đây, người thi sĩ ấy đã đến với ánh sáng cách mạng, cũng vững bước trên con đường dân tộc đang đi, đó là

sự trở về kịp thời nhất

- Đoạn thơ có âm điệu vui tươi, trẻ trung nhưng vẫn có một thoáng ân hận của người con lầm lạc trở về với người mẹ nhân dân đầy nhân ái, bao dung Tâm trạng đó của nhà thơ cũng là tâm trạng chung của các nhà thơ lãng mạn bấy giờ khi họ tìm đến với chân lí cách mạng Đó cũng làgiây phút trọng đại đánh dấu trước thay đổi lớn trong cuộc đười các thi sĩ, và cũng là những giây phút lịch sử khi dân tộc dang rộng vòng tay đón nhận sự trở về của những đưa con

Bài số 25: Cho đoạn thơ sau:

Giặc nước đuổi xong rồi Trời xanh thành tiếng hát

Điện theo trăng vào phòng ngủ công nhân

Những kẻ quê mùa đã thành trí thức

Tăm tối cần lao nay hóa những anh hùng

(Trích: Người đi tìm hình của nước - Chế Lan Viên)

- Trong đoạn thơ trên, tác giả dùng biện pháp tu từ gì?

- Biện pháp đó được dùng ở câu nào trong đoạn thơ?

- Tác dụng diễn đạt của biện pháp đó?

Trang 36

+ Tương phản, đối lập: Quê mùa >< trí thức.

Tăm tối cần lao >< anh hùng

- Các biện pháp tu từ được tác giả vận dụng một cách sáng tạo làm cho lời thơ giàu hình tượng

và biểu cảm Chất thơ lãng mạn cất cánh diễn tả khát vọng và niềm tin chói ngời của lãnh tụ

Nguyễn Ái Quốc về viễn cảnh đất nước ta sau này, khi mà "Giặc nước đuổi xong rồi", tổ quốc được độc lập, tự do, thanh bình "Trời xanh thành tiếng hát", nhân dân được sống ấm no hạnh phúc"Điện theo trăng vào phòng ngủ công nhân" Người lao động " quê mùa", " tăm tối" được

học hành, làm chủ đất nước Một sự đổi thay kì diệu nhờ cách mạng mang lại

Bài số 26: Tìm và phân tích tác dụng diễn đạt của biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn thơ sau:

" Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp, Giấc mơ con đè nát cuộc đời con,

Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp, Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn"

(Trích: Người đi tìm hình của nước - Chế Lan Viên)

* Gợi ý:

Biện pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng trong đoạn thơ rất phong phú, đa dạng ở nhiều phương diện

- Trước hết về mặt ngôn từ:

+ Đại từ nhân xưng số nhiều: Lũ chúng ta -> lớp thi sĩ tiền chiến ( 1932 - 1945) trong đó

có nhà thơ, phần đông là những trí thức, tiểu tư sản học sinh được nói nhều trong thơ ca, khi

nhân vật trữ tình xuất hiện nhằm diễn đạt một tâm sự, một nỗi niềm chân thành, sâu kín Lũ chúng ta trong bài thơ là một lối nói tâm tình rất chân thành của tác giả mang nhiều hệu quả

nghệ thuật tạo nên tính đa thanh trong giọng điệu

+ Các đại từ mang hàm nghĩa sâu sắc tạo nên tính đa nghĩa:

- " ngủ": chỉ sự chìm đắm trong u mê.

- "Đè nát": diễn tả sự quằn quại đau thương, đáng buồn.

- " Đựng": châm biếm một lối sống quá tầm thường.

- " Yên ngủ": an phận thủ thường.

+ Các tính từ góp phần sáng tạo hình ảnh, gây ấn tượng cảm xúc và thẩm mĩ đặc sắc: " hẹp" ( giường chiếu hẹp), " con" (giấc mơ con đè nát cuộc đời con), "đẹp" (tà áo đẹp).

- Biện pháp hóa dụ - tượng trưng:

+"giường chiếu hẹp": cuộc sống chật chội, tầm thường.

+"Giấc mơ con, cuộc đời con": ước mơ nhỏ nhoi, cuộc đời nhạt nhẽo, tầm thường, đáng

buồn

+"Một tà áo đẹp": hạnh phúc vật chất tầm thường.

+"Một mái nhà yên rủ bóng": một lối sống yên phận thủ thường.

- Điệp từ: "con" (2), " một" (2)-> các điệp từ ấy làm cho giọng thơ giàu âm hưởng, ý thơ được

nhấn mạnh, gợi ra niềm xót xa, ân hận một quá khứ nhạt nhẽo, tầm thường

-> Đoạn thơ trên cho thấy rõ bút pháp nghệ thuật thơ của tác giả: ngôn ngữ chọn lọc tinh tế

vừa hình tượng, vừa biểu cảm; chất suy cảm, chất trí tuệ hòa quyện trong hình ảnh đầy chất thơ; các biện pháp tư từ được vận dụng sáng tạo, độc đáo, tạo nên tính đa thanh và đa nghĩa

Trang 37

trong thơ Ngoài ra, người đọc phải đặt đoạn thơ trong toàn bài thơ mới cảm nhận được dụng

ý nghệ thật sâu sắc của tác giả Đặt cái "tôi" nhỏ bé, tầm thường tương phản với người chiến sĩ

đi tìm hình của nước đã khắc họa cái cốt cách vĩ đại, phi thường của Bác Hồ: giàu lòng yêu

nngước, có chí lớn và lý tưởng vĩ đại cao đẹp " tìm đường đi cho dân tộc đi theo".

Bài số 27: Phân tích ngắn gọn cái hay, cái đẹp trong câu thơ sau.

Dưới trăng quyên đã gọi hè,

Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông.

(Trích: Truyện Kiều - Nguyễn Du)

* Gợi ý:

- Đây là hai câu thơ tả cảnh đầu hè trong Truyện Kiều

+ Mùa hè đến, chim quyên (con quốc) khắc khoải kêu suốt ngày, đêm (dưới trăng) Chim quyên được nhân hóa " quyên gọi hè"; bước đi của thời gian như thêm phần thôi thúc, giục giã

Câu thơ không chỉ có âm thanh mà còn có màu sắc, hình ảnh rất đẹp, rất độc đáo

Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông.

+ Khóm lựu đầu tường đã trổ hoa rực rỡ như ngọn lửa " Lửa lựu"- hình ảnh ẩn dụ thần tình " Lập lòe" là hiện tượng nói về ánh sáng khi lóe ra, khi tắt đi Trong màu xanh thẫm của lá, hoa lựu lập lòe khoe sắc Từ láy " lập lòe" đi liền sau " lửa lựu", tạo nên hình tượng " lửa lựu lập lòe"

đầy thi vị Bốn phụ âm "L" đi liền trong một mạch thơ tạo nên sự phong phú vần điệu Thi hào

Nguyễn Du không viết lựu nở hoa mà lại viết " đơm hoa" Cách dùng từ rất tinh tế, đậm đà bản

sắc dân tộc Cũng như chim quyên, hoa lựu là tín hiệu, là biểu tượng mùa hè đồng quê Việt Nam

Bài số 28: Phân tích giá trị của biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:

"

Tiếng chim vách núi nhỏ dần

Rì rầm tiếng suối khi gần, khi xa

Ngoài thềm rơi chiếc lá đa

Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng"

(Trích: Đên Côn Sơn - Trần Đăng Khoa)

mạnh " tiếng chim trên vách núi" đầy chất thơ.

- Câu thứ hai, âm thanh của tiếng suối phù hợp với viếng chim ở câu một, với biện pháp đảo ngữ để nhấn mạnh âm thanh nhẹ nhàng, êm dịu của tiếng suối lúc gần, lúc xa Câu thơ tạo cảm giác êm ái, nhẹ nhàng, tiếp tục nhân lên cái dịu dàng mà tiếng chim trên vách núi để lại, nhằm khắc họa rõ nét quang cảnh huyền ảo của đêm Côn Sơn

- Câu 3 vẫn là âm thanh nhẹ nhàng, tác giả đưa từ " rơi" lên trước mà vẫn không giảm đi sự khẽ

khàng, đó là một hình ảnh sinh động, gợi cảm, biện pháp đảo ngữ lại tiếp tục nâng cao cảm giác dịu dàng trong lòng người đọc

- Câu 4, tác giả sử dụng biện pháp so sánh cho thấy chiếc lá rơi như có hồn, biết rơi thật nhẹ, thật mỏng đề không làm xao động cảm giác êm dịu ở các câu thơ trên

-> Đoạn thơ với những biện pháp tu từ đơn giản được sử dụng một cách nhuần nhuyễn, điêu luyện tạo nên tính biểu cảm cao

Trang 38

đề đặt ra trong cuộc sống thì mới có ý nghĩa.

2 Mục đích:

- Xác lập cho người đọc, nghe một quan điểm, tư tưởng nhất định, giúp họ hiểu, tin, tán đồng

và hành động theo

3 Đặc điểm của văn nghị luận:

- Đặc điểm nổi bật của văn nghị luận là luận đề, luận điểm, luận cứ, lập luận

+ Luận đề: Là vấn đề bao trùm cần được làm sáng tỏ, cần được đem ra để bàn luận, bảo vệ,

chứng minh trong toàn bộ bài viết

+ Luận điểm: Là những ý kiến, quan điểm chính được nêu ra ở trong bài văn nghị luận

Luận điểm thường được thể hiện bằng một phán đoán (câu văn) mang ý nghĩa khẳng định những tính chất, thuộc tính của vấn đề, những khía cạnh nội dung cần được triển khai để làm sáng tỏ luận đề

+ Luận cứ: là các lí lẽ dẫn chứng cụ thể làm sáng tỏ cho luận điểm.\

+ Lập luận: Chính là sự tổ chức các luận điểm, luận cứ, lí lẽ và dẫn chứng nhằm làm sáng

tỏ vấn đề để người đọc, người nghe hiểu, tin, đồng tình với người viết đặt ra giải quyết

II Cách làm bài văn nghị luận:

1 Tri thức về văn nghị luận:

- Tri thức để làm văn nghị luận rất phong phú Có thể là những vấn đề trực tiếp từ cuộc sống, những vấn đề thuộc phạm trù d đạo đức truyền thống (cho bài văn nghị luận xã hội) hay văn học(cho bài văn nghị luận văn học)

- Muốn có tri thức, người viết phải trực tiếp tìm hiểu sự việc, con người, quan sát, ghi chép, hỏi những người am hiểu Đó là cách tích lũy kiến thức trực tiếp Tuy nhiên, tri thức cũng có thể tích lũy một cách gián tiếp thông qua sách vở, tài liệu cũng có khi được sử dụng kết hợp cả hai nguồn tri thức với nhau

2 Các bước làm bài văn nghị luận:

- Gôm 4 bước

+ Bước 1 tìm hiểu đề và tìm ý:

- Tìm hiểu đề: tìm những yêu cầu về nội dung và hình thức của bài viết ( Vấn đề nghị luận là gì? Bằng hình thức nào?).

- Tìm ý: Tìm những ý chính ( luận điểm) sẽ triển khai trong bài.

3 Các phương pháp làm bài văn nghị luận:

- Nhận thức đúng vấn đề trọng tâm mà đề yêu cầu làm sáng tỏ.

Trang 39

Để nhận thức đúng vấn đề trọng tâm cần trả lời được các câu hỏi sau:

+ Vấn đề thực chất được nêu lên buộc người viết phải bàn bạc là gì?

+ Đề văn này thuộc loại đề nào? Nghị luận văn học hay xã hội?

+ Nếu đề thuộc nghị luận văn học thì ở nhóm nào? ( 1 tác phẩm, 1 đoạn trích thơ hay văn xuôi)

+ Nếu thuộc nghị luận xã hội thì ở nhóm nào? ( Sự việc hiện tượng hay tư tưởng đạo lí)+ Bài yêu cầu vận dụng những thao tác nào?

+ Phạm vi kiến thức cần huy động và làm sáng tỏ là gì? (kiến thức lí luận văn học, lịch

2 Tìm các ý nhỏ bằng cách đặt câu hỏi, vận dụng những hiểu biết về văn học và cuộc sống,

xã hội để trả lời câu hỏi:

+ Nó là gì? (giới thiệu các thuật ngữ, khái niệm khó trong đề)

+ Nó như thế nào?

+ Nó như thế có đúng không?

+ Tại sao có thể nói như thế?

+ Căn cứ vào đâu?

+ Điều ấy thể hiện trong văn học và trong cuộc sống như thế nào?

+ Câu nói ấy có ý nghĩa như thế nào? (với nhà văn, người đọc lịch sử văn học)

-> Dù là ở kiểu bài nghị luận văn học hay xã hội cần đặt ra các câu hỏi sau đó lật đi, lật lại vấn

đề dưới nhiều góc độ để tìm ra các ý đúng nhất, hay nhất

- Trước một đề văn, người làm bài phải nêu được cách hiểu (nhận thức đề) và các ý cơ bản cần đạt được trong bài viết.

III Giới thiệu các dạng bài, kiểu bài nghị luận trong chương trình ngữ văn THCS:

- Trả lời các câu hỏi:

+ Chọn dẫn chứng cụ thể, sắp xếp chặt chẽ, hợp lí, khoa học theo đúng yêu cầu của đề

+ Phân tích dẫn chứng khẳng định quan điểm của đề bài? ( tránh liệt kê dẫn chứng)

+ Nhận thức của cá nhân về vấn đề, rút ra bài học

2 Giải thích:

a Xác định rõ mục đích:

- Giúp người đọc ( nghe) hiểu vấn đề đó nghĩa như thế nào?

Trang 40

b Xác định phương tiện chính trong bài văn:

- Dùng lí lẽ là chủ yếu, có thể đưa ra một vài dẫn chứng cụ thể làm cho lí lẽ thêm chắc chắn

hơn

c Phương pháp:

- Trả lời các câu hỏi:

+ Vấn đề đó có nghĩa như thế nào? ( Giải thích từng hình ảnh, từ ngữ trong từng vế của đề, tìm ra nghĩa đen, dùng phép liên tưởng tìm ra nghĩa bóng)

+ Tại sao tác giả nói như thế?

+ Vấn đề ấy thể hiện được quan điểm, tư tưởng gì của tác giả?

+ Tác dụng của vấn đề đối với đời sống con người, xã hội?

3 Bình luận:

a Mục đích:

- Bình: Bàn bạc xem vấn đề đúng hay sai? Chỗ đúng? Chỗ sai?

- Luận: Suy luận, mở rộng, nâng cao vấn đề, tác dụng vấn đề trong đời sống con người, xã hội

b Phương tiện:

- Chủ yếu là dẫn chứng, lí lẽ

c Phương pháp:

- Trả lời các câu hỏi:

+ Vấn đề đúng hay sai? Chỗ đúng? Chỗ sai?

+ Tại sao đúng? Sai?

- Đi vào khía cạnh

VD: Phân tích nhân vật Lão Hạc

+ Những câu hỏi ở dạng bài: Chứng minh, Giải thích, Bình luận:

- Là gì?

- Tại sao? Giải thích.

- Như thế nào? Chứng minh.

- Là gì?

- Ý nghĩa, tác dụng -> Bình luận.

NGHỊ LUẬN XÃ HỘI:

- Là những bài văn bàn bạc về các vấn đề xã hội, chính trị, lịch sử, văn hóa, đạo đức, thiên

nhiên, môi trường

A Điểm chung:

I Loại: Cả 3 dạng

+ Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

Ngày đăng: 01/03/2019, 21:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w