1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Curcumin và khả năng chống oxy hóa

28 232 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 227,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Curcumin là thành phần chính của curcuminoit – một chất trong củ nghệ thuộc họ Gừng (Zingiberaceae) được sử dụng như một gia vị phổ biến ở Ấn Độ. Có 2 loại curcuminoit khác là desmethoxycurcumin và bisdesmethoxycurcumin. Các curcuminoit là các polyphenol và là chất tạo màu vàng cho củ nghệ. Curcumin có thể tồn tại ít nhất ở 2 dạng tautome là keto và enol. Cấu trúc dạng enol ổn định hơn về mặt năng lượng ở pha rắn và dạng dung dịch.

Trang 1

Mục lục

I. Giới thiệu chung về oxy hóa và tính chống oxy hóa

1. Định nghĩa về oxy hóa – tính chống oxy hóa………3

2. Cơ chế của quá trình oxy hóa – tính chống oxy hóa………7

3. Các chất chống oxy hóa trong cơ thể………12

II. Curcumin – tính chất……… …13

III. Tính chống oxy hóa của curcumin………17

IV. Chiết tách curcumin từ củ nghệ vàng- Thử nghiệm hoạt tính của curcumin invitro 1. Chiết tách và tinh chế curcumin……….18

2. Định tính và định lượng curcumin-thử nghiệm hoạt tính của curcumin invitro……… 19

3. Kiểm tra chất lượng của bột curcumin………20

V. Thử nghiệm hoạt tính của curcumin invivo……… 22

VI. Kết luận………27

Tài liệu tham khảo

I. Giới thiệu chung về oxy hóa và tính chống oxy hóa

Trang 2

1. Định nghĩa về oxy hóa – tính chống oxy hóa

Tính oxy hóa (antioxidation)

Oxy hết sức cần thiết cho sự sống nhưng lại là một chất rất không ổn định Nó phản ứng với sắt tạo nên rỉ sét và cũng phản ứng với mỡ trong bơ tạo nên sự ôi thiu Trong cơ thể cũng có một quá trình tương tự như vậy xảy ra Phản ứng oxy hóa thường thấy là phản ứng đốt cháy nhưng phản ứng oxy hóa trong cơ thể diễn ra nhẹ nhàng hơn Quá trình này gây ra bởi các gốc tự do Khi bạn càng ngày càng già đi, sự oxy hóa lại càng tăng thêm , nó làm làm cơ thể bạn bị lão hóa và gây nên nhiều bệnh tật khác.

GỐC TỰ DO

Gốc tự do có thể gây hại cho sức khỏe của bạn

Nguyên tử là thành phần cơ bản nhất và nhỏ nhất cấu tạo nên vật chất Một nguyên tử bao gồm một hạt nhân và các Nơ-tron Thông thường, một cặp electron bay trên một quỹ đạo quanh hạt nhân, giống như các hành tinh quay quanh Mặt trời Phân tử bao gồm các nhóm nguyên tử gắn kết với nhau bởi hoạt động của các cặp electron này Đôi khi trong quá trình phản ứng hóa học, một electron bị kéo ra khỏi chỗ cố hữu của nó trong phân tử, và tạo thành một gốc tự do.Về bản chất, gốc tự do là một electron độc thân Các gốc tự do rất không ổn định và nhạy cảm Chúng tìm kiếm những electron khác để hình thành một cặp electron mới Các gốc tự do gây tổn thương cho cơ thể khi chúng kéo những electron từ các tế bào bình thường

Gốc tự do hình thành từ đâu ?

G ốc tự do hình thành từ hai nguồn, đó là nguồn nội sinh và nguồn ngoại sinh

Ở nguồn nội sinh, gốc tự do hình thành:

- Từ chuỗi chuyền điện tử trong ty thể (các phản ứng phosphoryl oxy hóa của

mitochondria): superoxide anion (O2●), peroxynitrate (ONO-), hydrogen peroxide (H2O2), gốc hydroxyl (●OH)

- Từ hoạt động hô hấp của leucocyte, gốc tự do hình thành để giết vi khuẩn

- Từ quá trình tự chết của tế bào (apoptosis): bằng in vitro, người ta thấy chất oxy hóa nội sinh AXO có thể ngăn trở apoptosis

Ở nguồn ngoại sinh, gốc tự do hình thành từ khí ozone, bức xạ tử ngoại, khói thuốc lá

Trang 3

Các gốc tự do có thường tấn công vào cơ thể hay không?

Vào mọi lúc! Dược sĩ Bruce Ames, Đại học California, đã ước lượng mỗi tế bào trong

cơ thể chúng ta (và cơ thể có đến hàng tỷ tế bào) phải hứng chịu khoảng 10.000 gốc tự

do tấn công mỗi ngày Rất nhiều trong số đó nhắm vào ADN (deoxyribonucleic acid) và các chất liệu di truỵền Một trong những hậu quả là làm tăng tỷ lệ đột biến Người già có

tỷ lệ đột biến cao gấp 9 lần so với trẻ nhũ nhi Chính những những đột biến này làm tăng

tỷ lệ ung thư Thêm vào dó, màng tế bào, protein và mỡ cũng bị tấn công Trải qua 70 năm cuộc đời, cơ thể hình thành ước chừng đến 17 tấn gốc tự do Vì vậy cơ thể bạn cần phải có các chất ống oxy hóa làm người bảo vệ và phòng thủ hữu hiệu.

Có gốc tự do nào có lợi cho chúng ta không?

Thêm một điều có vẻ khó tin nữa - chúng ta sống không thể thiếu các gốc tự do Cơ thể sử dụng gốc tự do để phá hủy các mầm bệnh Hơn nữa, gốc tự do còn cần thiết trong các phản ứng tạo năng lượng Vấn đề là ở chỗ, đa số cơ thể bị phơi nhiễm trước quá nhiều gốc tự do, một tình trạng mất cân bằng

được gọi là stress oxy hóa (oxidative stress) Các chế phẩm bổ sung chất chống oxy hóa giúp cơ thể phục hồi trạng thái cân bằng

Liệu chúng ta có thể kiểm soát sự sản xuất các gốc tự do trong cơ thể hay không?

Chúng ta có thể tránh những việc làm cơ thể phơi nhiễm hay gia tăng sản xuất các gốc tự do Ví dụ: hút thuốc lá và khói bụi, ánh nắng mặt trời và tia X Khi tầng ozone bị mỏng đi dần dần, cơ thể sẽ phải hứng chịu nhiều tia cực tím từ mặt trời hơn Mỡ và đường cũng làm tăng gốc tự do Stress, tăng tiêu thụ oxy trong quá trình luyện tập thể lực nặng làm tăng sự hình thành gốc tự do Tuy nhiên hầu hết các gốc tự do đều tạo ra những phản ứng phụ bên cạnh quá trình sử dụng oxy bình thường để phân hủy thức ăn thành năng lượng Có rất nhiều việc chúng ta không thể thay đổi hay kiểm soát, ví dụ như bạn không thể sống rời xa thành phố bị ô nhiễm, nhưng bù lại bạn có thể sử dụng các chế phẩm bổ sung chất chống oxy hóa

Thật ra, gốc tự do luôn luôn được sinh ra trong cơ thể và cũng có vai trò tích cực đối với cơ thể (có thể nói ta không thể sống được nếu trong cơ thể hoàn toàn thiếu vắng gốc

tự do) Ôxy (dưỡng khí) mà ta hít thở hàng ngày là chất cần thiết nhưng chính nó cũng trở thành gốc tự do (khi đó gọi là ôxy đơn nguyên tử) Hiện tượng thực bào là hiện tượng

vi khuẩn, siêu vi bị tế bào bạch cầu tiêu diệt trong cơ thể ta, hoặc hiện tượng hô hấp trong tế bào, hoặc cơ chế giải độc ở gan đều là các hoạt động làm sinh ra gốc tự do Quan trọng hơn hết là trong cơ thể khoẻ mạnh, gốc tự do sinh ra có giới hạn, không quá

Trang 4

thừa để gây hại Bởi vì bên cạnh các gốc tự do luôn có hệ thống các chất chống ôxy hoá

"nội sinh" (tức có sẵn trong cơ thể) để cân bằng lại, vô hiệu hoá các gốc tự do có hại Hệ thống các chất chống ôxy hoá nội sinh gồm các enzym như glutathione peroxidase, superroxid, dismutase đặc biệt là vitaminC, vitamin E, beta-caroten (tiền vitamin A), khoáng chất selen "nội sinh" có sẵn trong cơ thể, xúc tác các phản ứng khử để vô hiệu hoá gốc tự do (còn gọi là "bẫy" gốc tự do) giúp cơ thể khoẻ mạnh Chỉ khi nào gốc tự do sinh ra quá nhiều (do ô nhiễm môi trường, do tia cực tím từ ánh nắng, do khói thuốc lá,

do viêm nhiễm trong cơ thể, thậm chí do dùng một số dược phẩm ) và hệ thống chất ôxy hoá nội sinh không đủ sức cân bằng, cơ thể sẽ sinh ra rối loạn bệnh lý

Tất cả những điều đó đẩy nhanh quá trình thoái hóa và lão hóa cơ thể, dẫn đến nhiều loại bệnh tật làm suy giảm sức khỏe, rút ngắn tuổi thọ.

quan dễ bị lão hoá nhất chính là lớp da bảo vệ cơ thể, là nơi dễ bị tác động của tia cực tím của ánh nắng, hứng chịu tác hại của ô nhiễm môi trường cộng thêm lối sống của người thường xuyên bị stress, sai lầm trong dinh dưỡng, thói quen lạm dụng độc chất (như hút thuốc, uống rượu, kể cả dược phẩm) thì lớp da mịn màng của người phụ nữ nhất là da mặt sẽ chóng nhăn, cằn cỗi, không còn sức sống tươi mát do có sự bội tăng gốc tự do gây lão hoá.

Để chống lại sự bội tăng các gốc tự do sinh ra quá nhiều mà hệ thống "chất ôxy hoá nội sinh" không đủ sức cân bằng để vô hiệu hoá, các nhà khoa học đặt vấn đề dùng các

"chất chống ôxy hóa ngoại sinh" (tức là từ bên ngoài đưa vào cơ thể) với mục đích

phòng bệnh, nâng cao sức khoẻ, chống lão hoá Các chất chống ôxy hoá ngoại sinh đó

đã được xác định, đó là curcumin, beta-caroten, chất khoáng selen, các hợp chất

flavonoid, polyphenol Các chất ôxy hoá ngoại sinh đó thật không xa lạ, chúng có từ các nguồn thiên nhiên là thực phẩm như rau cải, trái cây tươi và một số loại dược thảo

Có thể kể tới curumin từ nghệ, hay beta-caroten là chất chống ôxy hoá có nhiều trong dầu gấc, chiết xuất từ quả gấc là loại quả mà từ xưa ông bà ta đã dùng để nấu xôi gấc tạo thức ăn ngon miệng có màu đỏ đẹp mắt Các loại rau, củ quả có màu đỏ cam như cà

Trang 5

chua, cà rốt cũng chứa nhiều beta-caroten) Beta-caroten khi đưa vào cơ thể ngoài tác dụng chống ôxy hoá còn biến thành vitamin A mà cơ thể cần đến hàng ngày cho hoạt động thị giác và sức đề kháng chống lại bệnh tật Dùng beta-caroten từ thiên nhiên sẽ rất

an toàn, không sợ bị ngộ độc do dùng quá nhiều như vitamin A (dùng thừa beta-caroten vào cơ thể vẫn được chuyển hoá vừa đủ vitamin A, vì vậy chế phẩm bổ sung vitamin A cho phụ nữ có thai thường dùng beta-caroten thay vì vitamin A).

Một dưỡng chất được gọi là chống oxy hóa cần có những điều kiện nào?

Một chất COH làm bất hoạt các gốc tự do bằng cách cho electron, và một lượng nhỏ cũng có thể sử dụng lâu dài Nói cách khác, một số ít phân tử COH phải bảo vệ nhiều, rất nhiều các phân tử khác

Những dưỡng chất nào có khả năng chống oxy hóa?

Được biết đến nhiều nhất là vitamin C, E, Curcumin, Beta-carotene, lutein, và

lycopene đều là những họ hàng của các carotenoid chống oxy hóa, có mặt trong nhiều loại trái cây và rau xanh Một nhóm dưỡng chất chống oxy hóa khác là các Flavonoid, cũng có thể được tìm thấy trong các loại rau và hoa quả Các chất chống oxy hoá khác

như: Selenium, một khoáng chất cực kỳ cần thiết trong sinh tổng hợp men glutathion peroxidase; coenzyme Q10 và alpha-lipoic acid cũng là những chất chống oxy hóa

nguồn gốc thực phẩm và cũng có thể được cơ thể tổng hợp.

2. Cơ chế oxy hóa và chống oxy hóa

Oxy hóa

Một số phản ứng sinh học trong cơ thể sản sinh ra các gốc tự do Đó là những phân

tử hoặc các mảnh vỡ của phân tử có một điện tử tự do không ngừng xoay quanh quỹ đạo vòng ngoài của nguyên tử oxy (hoặc một nguyên tử oxy hóa) hoạt động Do sự có mặt của điện tử này, các gốc tự do có một thuộc tính đáng ngại là có khả năng oxy hóa rất mạnh Một trong các thành phần của tế bào bị tấn công trước hết là các màng tế bào, vì

ở đó có nhiều acid béo chưa bão hòa Quá trình oxy hóa do các gốc tự do tham gia sẽ tạo nên các peroxide, được coi là một phản ứng thoái hóa sinh học Các gốc tự do và sản phẩm hoạt động của chúng các dẫn chất peroxide hóa sau khi gây tổn thương màng tế bào sẽ dẫn đến nhiều tổn thương khác như biến đổi cấu trúc các protein, ức chế hoạt động các men (enzym), biến đổi cấu trúc và thuộc tính các hormon

Các gốc tự do gây có thể gây ra tổn thương cho tất cả các chất liệu và mô trong cơ thể Mô mỡ là nơi bị tổn thương sớm nhất và thường gặp nhất, vì đó là loại mô có xu

Trang 6

hướng đặc biệt dễ bị oxy hóa Các chuyên gia dùng thuật ngữ “sự peroxide hóa Lipid”

để mô tả sự oxy hóa của mỡ trong cơ thể Sự peroxide hóa lipid làm khởi phát một chuỗi phản ứng liên tục trên các chất mỡ và chỉ có thể bị chặn đứng bởi một chất chống oxy hóa

Các gốc tự do còn gây tổn hại cho các acid nucleic cơ bản (adenine, thymine,

guanine và cytosine), là những thành phần cơ bản cấu trúc ADN Tổn thương này làm ADN sao mã không chính xác theo các thông tin sinh học – và tế bào ung thư được hình thành

Gốc tự do còn làm tổn thương protein, dẫn đến sự rối loạn chức năng của nhiều cơ

quan trong cơ thể Ví dụ như, các protein collagen ở da, gây tổn hại da; hay các enzyme (bản chất là protein) bị tổn thương sẽ không hoạt động hiệu quả để xúc tác các phản ứng sinh hóa trong cơ thể Các enzyme sẽ không được sửa chữa phục hồi vì nồng độ các gốc

tự do cao, vòng xoắn bệnh lý này dần dần làm cơ thể lão hóa nhanh hơn và có thể tạo ung thư

Một số cơ chế chính mà các gốc tự do có thể sinh ung thư :

Gây tổn thương ADN, gây đột biến tế phân tử, tế bào.

Kích hoạt gen sinh ung thư, còn gọi là oncogene.

Ưc chế hệ miễn dịch cơ thể – bất hoạt hàng rào phòng thủ bảo vệ cơ thể.

Kích hoạt các chất sinh ung hoặc tiền sinh ung, khởi động những phản ứng hóa học có thể gây ung thư.

Làm tổn thương màng tế bào và bất hoạt cơ chế nhận diện của cơ thể chống lại sự hình thành và phát triển của các tế bào bất thường.

Chống oxy hóa

Oxi có vai trò quan trọng trong cơ thể Nó là chất oxi hóa các phenol, oxi hóa các axit béo, giúp chuyển hóa lipit, oxi hóa các nhân thơm và các squalen tạo ra sterol Từ các phản ứng oxi hóa các chất hữu cơ đem lại năng lượng cho cơ thể hoạt động hay tích lũy

đã nảy sinh ra các chất độc gọi là dạng oxi hóa hoạt động gây ra các gốc tự do này, vậy gốc tự do là gì?

Chất chống oxy hóa (antioxidant)

Trang 7

Chất chống oxy hóa là một phân tử có khả năng làm chậm hay ngăn ngừa sự oxy hóa những phân tử khác Oxy hóa là phản ứng giữa một phân tử với oxy, hoặc bất cứ khi nào một phân tử mất một điện tử trong phản ứng hóa học Những phản ứng oxy hóa có thể sản sinh các gốc tự do và khởi động những phản ứng liên hoàn gây tổn hại tế bào Các chất chống oxy hóa ngăn chặn các phản ứng liên hoàn này bằng cách tách các gốc tự do

và ức chế những phản ứng oxy hóa khác

Chất chống oxy hóa được xếp thành hai nhóm, nhóm hòa tan trong nước và nhóm hòa tan trong lipid Nói chung nhóm hòa tan trong nước phản ứng với các chất oxy hóa trong tế bào chất, trong huyết tương, trong khi đó nhóm hòa tan trong lipid thì bảo vệ màng tế bào không bị peroxide hóa Các chất chống oxy hóa có thể được tổng hợp trong

cơ thể hay nhận từ thực phẩm

Các chất chống oxy hóa bao gồm:

+ Vitamin A, D, E, C.

+ Các coenzyme như coenzyme Q10 (CoQ10) và các chất khoáng dưới dạng các

metalloenzyme như superoxide dismutase (SOD) chứa Mn, catalase chứa Fe, glutathion peroxidase chứa Se…

+ Các carotenoid như α-carotene, β- carotene, lutein, canthaxanthin, zeaxanthin,

lycopene…

+ Các flavonoid polyphenolic như flavone (apigenin, luteolin, tangeritin), flavonol (isohamnetin, kaemferol, quercetin, rutin…), isoflavone phytoestrogen (daizein, genistein, glycitein), các phenolic acid và ester của chúng (acid chicoric, acid cinamic, acid

gallic…), các phenolic nonflavonoid (như curcumin, flavonolignan…), các chất chống oxy hóa hữu cơ (như bilirubin, acid citric, acid oxalic…)

+ Các hormone như melatonin

+ Các chất chống oxy hóa tổng hợp như BHT, BHA, Ethoxyquin

Các chất chống oxy hóa thấy trong thực phẩm như vitamin C có nhiều trong rau, quả; vitamin E có nhiều trong dầu thực vật, các polyphenolic acid có nhiều trong trà, café, đỗ tương, dầu olive, chocolate, vang đỏ, quế, các carotenoid có nhiều trong rau quả và trứng…

Các chất chống oxy hóa có tác động “hiệp đồng” Tác động “hiệp đồng” có nghĩa là tác động phối hợp của nhiều chất chất chống oxy hóa, phối hợp lại thì mạnh hơn là ở dạng đơn lẻ Một cầu thủ siêu sao không tạo nên sức mạnh của cả đội bóng

Trang 8

Như vậy dùng phối hợp nhiều loại thực phẩm trong bữa ăn, đặc biệt sử dụng nhiều loại rau quả có tác dụng cung cấp nhiều loại chất chống oxy hóa khác nhau (Các gia vị như hạt tiêu, ớt, nghệ, tỏi… hay thảo dược như húng, thì là, kinh giới…cũng giầu các chất chống oxy hóa, nhưng số lượng dùng trong bữa ăn rất ít cho nên không phát huy được tác dụng)

Các chất chống oxy hóa có vai trò quét các gốc tự do bắn phá tế bào, nhờ đó ngăn chặn được sự tổn hại của tế bào Để minh họa cho cơ chế này hãy xem các phản ứng trung hòa gốc tự do peroxide (H2O2) của enzyme superoxide peroxidase (SODs) catalase

và glutathion peroxidase (GPx): SODs xúc tác phân giải anion superoxide thành oxy và hydrogen peroxide (H2O2), catalase xúc tác phân giải H2O2 thành nước và oxy, GPx cũng phân giải H2O2 thành nước (có hai loại superoxide dismutase, một trong ty thể chứa Mn, một trong tế bào chất chứa Cu và Zn; catalase chứa Fe và glutathione peroxidase chứa Se; các nguyên tố Fe, Cu, Mn, Zn, Se đến từ bữa ăn)

Superoxide dismutase 2O-2 + 2H ==============> H2O2 + O2

Catalase H2O2 ==============> 2H2O + O2

Glutathione peroxidase 2GSH + H2O2 ==============> GSSG +2H2O

Nhờ hoạt động của hệ thống các chất chống oxy hóa trong cơ thể mà nhiều bệnh tật được ngăn ngừa như bệnh tim mạch (xơ vữa động mạch, suy tim, nhồi máu cơ tim, cao

huyết áp ), các bệnh ung thư, các bệnh về mắt (thoái hóa hoàng điểm và đục thủy tinh thể), lão hóa

Gốc tự do là những tiểu phân hóa học (nguyên tử, mảnh phân tử hay ion có electron hóa trị chưa được ghép đôi ở các ocbitan hóa trị) Các gốc tự do này có khả năng phản ứng cao dễ dàng phản ứng với phân tử, gốc hay ion khác để tạo ra ocbitan phân tử bền.

Trang 9

Một số mảnh phân tử là gốc tự do không mang điện:

Gốc tự do độc hại: CnH2n+1 gốc ankyl O-O= ↑O↑↓↑O↑ (gốc oxy đơn bội 1O2)

N-O=N↑ ↓O↑ ( gốc nitrozo)H-O= H↑↓O ↑(gốc hidroxi)

Gốc tự do không độc hại có tác dụng bảo vệ chống gốc tự do độc hại Gốc vitamin E (Tocopheryl) Các gốc tự do có khả năng phản ứng cao dễ dàng phản ứng với phân tử, gốc hay ion khác để tạo ra ocbitan phân tử bền

Loại gốc tự do nào có thời gian tồn tại hơn 10-6 giây được gọi là gốc bền Trong cơ

thể những gốc tự do chứa oxi rất không bền, hoạt tính rất lớn:

Oxi đơn bội : O-O (1O2) Lipoxi: LO

Hidroxi: OH Lipoperoxit: LOO

Ancoxi: R-O Anion superoyl: O-2

Các dạng oxi hoạt động và các gốc tự do của nó là nguyên nhân sinh ra các oxy hoạt động có hại này xảy ra ở tế bào, tạo nên sự già cỗi của tế bào cơ thể làm sinh ra các bệnh tật về tim mạch, ung thư, đãng trí.

Cơ chế oxy hóa của gốc tự do xảy ra như sau: bình thường, một nguyên tử oxy có 4

cặp electron Các phản ứng chuyển hóa trong cơ thể lấy đi một electron, oxygen trở thành gốc tự do Nó cố tìm cách chiếm lại 1 electron của phân tử khác, và cứ thế tạo thành dây chuyền, làm sói mòn màng tế bào và các mô, gây ra hiện tượng lão hóa và khởi đầu một số bệnh nan y Để bảo vệ được sức khỏe, bảo vệ các tế bào khỏi bị tấn công liên tục không bị lão hóa cần dùng các chất chống oxy hóa mạnh, để khống chế nồng độ

và tỷ lệ các dạng oxy hóa độc hại và các chất thứ cấp của nó sinh ra Hiện nay, người ta

đã đưa vào sử dụng các chất có khả năng làm giảm tác dụng độc hại của các gốc tự do,

Trang 10

các dạng thứ cấp như các chất chống oxy hóa như Vitamin E, Chetacarsoten có tác dụng ngăn chặn hoạt động độc hại của oxy, bảo vệ tế bào, duy trì sự trẻ trung, khỏe mạnh, chống lão hóa (các chất đó được gọi là antioridant)

3. Các chất chống oxy hóa có trong cơ thể

Cơ thể bạn có thể sản xuất ra một số chất chống oxy hóa (gọi là chất chống oxy hóa nội sinh), nhưng bạn buộc phải cung cấp thêm các chất chống oxy hóa ngoại sinh từ chế

độ ăn Thực tế, một số chất chống oxy hóa , như Vitamine E và C, hết sức cần cho sự sống Các chất chống oxy hóa nội sinh thường là các enzyme, coenzyme , và những hợp chất chứa sulfur, như glutathione Các chất chống oxy hóa ngoại sinh trong chế độ ăn gồm các vitamine như C và E, bioflavonoids, carotenoids, và một số hợp chất chứa sulfur

Một số các chất chống oxy hóa mà cơ thể chúng ta tạo ra như enzyme catalase, glutathione peroxidase, superoxide dismutase (SOD) Tuy nhiên như vậy vẫn chưa đủ và chúng ta buộc phải cung cấp thêm qua chế độ ăn Một số chất chống oxy hóa ngoại sinh

từ thực phẩm có chứa Vitamine A và đặc biệt là có liên quan đến họ carotene, vitamine

C, và vitamine E Các khoáng chất bản thân chúng không phải là các chất chống oxy hóa , nhưng nhiều chất khoáng lại trở nên thành phần thiết yếu của các enzyme chống oxy hóa do cơ thể tạo ra Trong số này có selenium, cần thiết để tạo glutathione peroxidase; sắt, cần cho catalase; và mangan, đồng, kẽm, cần cho SOD Các hợp chất của sulfur, như cysteine và methionine là các amino acid chứa sulfur, giúp cơ thể tạo ra loại chất chống oxy hóa thường gặp nhất trong tế bào, glutathione Các coenzyme chống oxy hóa, như NADH (nicotinamide adenine dinucleotide), coenzyme Q10 , và acid alpha-lipoic do cơ thể tạo ra và cũng có được từ chế độ ăn

II. Curcumin – tính chất

Trang 11

Curcumin-tinh chất quý chiết xuất từ củ nghệ:

Curcumin là thành phần chính của curcuminoit – một chất trong củ nghệ thuộc họ Gừng (Zingiberaceae) được sử dụng như một gia vị phổ biến ở Ấn Độ Có 2 loại

curcuminoit khác là desmethoxycurcumin và bis-desmethoxycurcumin Các curcuminoit

là các polyphenol và là chất tạo màu vàng cho củ nghệ Curcumin có thể tồn tại ít nhất ở

2 dạng tautome là keto và enol Cấu trúc dạng enol ổn định hơn về mặt năng lượng ở pha rắn và dạng dung dịch

Thuộc tính Công thức phân tử C21H20O6

Phân tử lượng 368,38 g/mol

Bề ngoài Bột màu vàng cam tươi

Trang 12

Curcumin dạng keto

Curcumin dạng enol

Curcumin kết hợp chặt chẽ vài nhóm chức Các hệ thống vòng thơm, là các polyphenol

được nối bởi 2 nhóm cacbonyl α,β-chưa bão hòa Hai nhóm cacbonyl tạo thành diketon Diketon tạo thành các enol ổn định hay dễ dàng khử proton và tạo thành các enolat, trong khi cacbonyl α,β-chưa bão hòa là tác nhân nhận Michael tốt và có phản ứng cộng

ái lực hạt nhân Cấu trúc của curcumin được xác định lần đầu tiên vào năm 1910

(Kazimierz Kostanecki, J Miłobędzka and Wiktor Lampe).

Theo TS.Phạm Đình Tỵ- người có công nghiên cứu công nghệ chiết tách Curcumin từ nghệ tại Việt Nam, củ nghệ vàng là một trong 14 loại nghệ được tìm thấy và rất sẵn có ở

Trang 13

nước ta Nhưng trong nghệ có rất nhiều tạp chất khác nhau mà Curcumin chỉ chiếm một phần rất nhỏ, khoảng 0,3% Trong dân gian, người ta từng nghiền bột nghệ làm dược phẩm hoặc thuốc, tuy nhiên giá trị chữa bệnh không thể hoàn hảo như Curcumin, vì phần lớn dược tính có khả năng trị bệnh là ở tinh chất Curcumin có trong củ nghệ chứ không phải là bột nghệ Nhóm nghiên cứu của TS Phạm Đình Tỵ từng cho ra đời tinh bột nghệ Curcumin độ tinh khiết 92,5% được đăng ký tại Sở Y tế Hà Nội làm thực phẩm chữa bệnh Bước đầu có nhiều bệnh nhân ung thư, viêm đại tràng, dạ dày…có chuyển biến tích cực rất rõ rệt Một số người sau khi điều trị bằng tinh nghệ, khối u ác tính đã bị thu hẹp, thể trạng tốt hơn…

Theo Đông y củ nghệ vàng còn có tên gọi là Khương Hoàng, vị cay, đắng, tính bình

có tác dụng hành khí,hoạt huyết, làm tan máu, tan ứ và giảm đau Sách Đông y bản giám cho rằng Khương Hoàng có tác dụng phá huyết, hành khí, thông kinh, chỉ thống (giảm đau) chủ trị bệnh trướng đầy, bế kinh, bệnh sau đẻ, chấn thương, ung thũng… Sách Nhật hoa tử bản thảo cho Khương Hoàng có tác dụng trị huyết cục, nhọt, sưng, thông kinh nguyệt…

Ngày nay khi công nghệ hiện đại hỗ trợ trong việc chiết tách Curcumin trong nghệ, nghệ trở thành dược liệu quý, có tác dụng rất tốt trong hỗ trợ điều trị ung thư, khối u…

vì Curcumin là một trong những hoạt chất có tác dụng chống Oxy hoá và kháng viêm rất hiệu quả.

Curcumin cũng được chứng minh là có hoạt tính chống viêm vượt trội Theo nghiên cứu của Đại học Dược khoa Ấn Độ, Curcumin có hoạt tính kháng viêm rất mạnh, nó có thể tiêu diệt các gốc tự do xấu nhất như các gốc tự do thuộc nhóm superoxide Ngoài ra, khi dùng với liều cao, curcumin sẽ kích thích tuyến thượng thận bài tiết cortisone, mà cortisone là chất có hiệu lực rất mạnh để ức chế phản ứng viêm.

Thêm một đặc tính nữa, Curcumin có khả năng mạnh mẽ giải độc và bảo vệ gan, bảo

vệ và làm tăng hồng cầu, loại bỏ cholesterol xấu, điều hòa huyết áp, hạ mỡ máu, ngăn chặn béo phì, xóa bỏ tàn nhang, đồi mồi, trứng cá (mũi đỏ) chống rụng tóc (hói ) giúp mau chóng mọc tóc, làm cho da dẻ hồng hào, tăng cường sắc đẹp (mỹ phẩm hồi sinh), sức lực và cả tuổi thọ…

Hiện nay, Curcumin ở nhiều nước trên thế giới được coi như vừa là thuốc vừa là thực phẩm (thực phẩm thuốc) –fooddrug) giúp phòng ngừa và hỗ trợ điều trị ung thư, viêm loét dạ dày tá tràng, giải độc gan, tăng sức đề kháng của cơ thể…

Trang 14

Curcumin có nhiều tác dụng thần kỳ như vậy nhưng tính ứng dụng vào thực tế để chữa bệnh lại rất thấp do sinh khả dụng của Curcumin rất thấp Curcumin chỉ hấp thu một phần nhỏ qua ruột, và nhanh chóng bị thoái hóa và đào thải ra ngoài

III. Tính chống oxy hóa của curcumin

Ngoài cortisol, stress còn kích thích tuyến thượng thận giải phóng hormone

adrenaline Khi lượng hormone này tăng cao thì hơi thở thường trở nên gấp gáp, không sâu.

Ngày đăng: 23/01/2019, 12:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w