1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân sâm và hoạt chất saponin trong nhân sân

20 2,1K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 313,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhân sâm là loai cây quý trong dược liệu. Người ta đã tìm thấy trong cây nhân sâm có chứa chất Saponin là chất có hoạt tính sinh học mạnh và có nhiều tác dụng trong phòng chống xơ vữa động mạch, và trong nhiều bệnh lý khác, nhằm làm tăng sức đề kháng của con ngwoif và đem lại tinh thàn sảng khoái cho người sử dụng

Trang 1

Báo cáo:

NHÂN SÂM VÀ HOẠT CHẤT SAPONIN TRONG NHÂN SÂM

-CHƯƠNG I: TỔNG QUAN

Hồng Sâm mang lại nhiều hiệu quả kỳ diệu, không chỉ cho tăng cường, bồi

bổ sức khỏe mà còn hiệu quả với nhiều căn bênh Tuy nhiên, đa phần người ta chỉ chú ý đến hiệu quả nhưng số ít vẫn rất quan tâm trong Hồng Sâm có những thành phần hóa học nào và tác dụng của nó như thế nào? Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chia sẻ về những thành phần hóa học có trong Nhân Sâm

Những thành phần Hóa học trong nhân sâm là gì?

Hồng Sâm mang lại nhiều hiệu quả kỳ diệu, không chỉ cho tăng cường, bồi

bổ sức khỏe mà còn hiệu quả với nhiều căn bênh Tuy nhiên, đa phần người ta chỉ chú ý đến hiệu quả nhưng số ít vẫn rất quan tâm trong Hồng Sâm có những thành phần hóa học nào và có tác dụng như thế nào?

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chia sẻ về những thành phần hóa học

có trong Nhân Sâm và những tác dụng riêng biệt của nó đối với sức khỏe

Với sự tiến bộ của Khoa Học hiện đại, không chỉ xác định hiệu quả của Nhân Sâm, người ta còn xác định chính xác các thành phần hóa học trong Nhân Sâm với từng tác dụng cụ thể Thành phần hóa học mang lại hiệu quả của Nhân Sâm chính là hợp chất Saponin gồm tổng hợp các hoạt chất ginsenosides có tác dụng khác nhau Thành phần hóa học Saponin phần lớn có trong Nhân Sâm và chỉ

có rất ít trong các thực vật khác như đậu, hoa chuông, tỏi, nha đam, nấm Linh Chi,

Trang 2

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN

THÀNH PHẦN HÓA HỌC TRONG NHÂN SÂM

- Thành phần Saponin gồm các ginsenosides: Ginsenosides Ro, Re, Rg1, Rg2, Rg3, Rh1, Rh2, Ra1, Ra2 Các ginsenosides này có tác dụng: giải độc, chống viêm gan, tác dụng kiểm soát kết tập tiểu cầu, tác dụng kháng tiểu đường, tránh xơ cứng động mạch, tác dụng làm giảm đau liên quan đến tế bào thần kinh não, tác dụng tăng cường sinh lý, tác dụng hạ đường huyết, chống tiểu đường, tác dụng chống loét dạ dày

Trong đó, thành phần Rh2, Rg3 có tác dụng khống chế và kìm hãm sự phát triển của khối u, ngăn ngừa bệnh ung thư Hiện nay, bằng công nghệ tiên tiến hơn, các nhà khoa học đã sử dụng thành phần Rh2, Rg3 từ Hồng Sâm để chế biến các loại thuốc ngăn ngừa tế bào ung thư, dùng để hỗ trợ trong việc điều trị các bệnh ung thư

- Các thành phần Malnonyl Rb1, Rb2, Rc, Rd có tác dụng chống lão hóa, chống lại quá trình lão hóa của cơ thể duy trì thể trạng và kéo dài tuổi xuân Nhờ vào các hoạt chất này, các nghành chăm sóc sắc đẹp đã chế tạo ra nhiều loại kem Hồng Sâm chống lão hóa, làm đẹp da, làm giảm các vết nám mang lại nét đẹp rạng ngời cho các chị em phụ nữ

- Ngoài các thành phần ginsenosides, Malnonyl, Nhân Sâm chứa 7 hợp chất polyacetylen, 17 axit béo (axit palnitic, axit stearic, oleic) trong đó có đủ 8 loại axit cần thiết cho cơ thể và 20 nguyên tố hóa học Fe, Mn, Co, Se, K Các thành phần khác là glucid, tinh dầu cung cấp đầy đủ những vi chất cần thiết cho cơ thể

Cấu tạo thành phần Hóa Học Rg3 trong Nhân Sâm

Trang 3

THÀNH PHẦN HÓA HỌC TRONG NHÂN SÂM CÓ GIỐNG NHAU KHÔNG?

Nhân Sâm khác nhau thì số lượng và thành phần ginsenosides cũng khác nhau nên mang lại hiệu quả khác nhau Nhân Sâm càng nhiều tuổi càng chứa nhiều nhiều ginsenosides Nhân Sâm tốt nhất là Nhân Sâm đúng 6 năm tuổi được trồng trọt tại vùng đất đầy đủ dưỡng chất, khí hậu quanh năm ôn hòa (có đủ 4 mùa rõ rệt)

và thu hoạch đúng thời điểm Thời điểm tốt nhất là vào tháng 11, tháng giữa mùa thu và mùa đông để Nhân Sâm hấp thụ đầy đủ dưỡng chất

Nếu điều kiện nào đó, không thể trồng trọt đủ 6 năm, Nhân Sâm sẽ thu hoạch lúc 3-4 năm tuổi thì chất lượng Nhân Sâm rất thấp, mang lại hiệu quả rất ít Nhân Sâm này thường chỉ để chế biến các món ăn bổ dưỡng hàng ngày để nâng cao và bồi bổ sức khỏe

Với cách chế biến Nhân Sâm thành Hồng Sâm đã làm tăng thêm nhiều thành phần Saponin So với Nhân Sâm chứa 18 thành phần hóa học Saponin, Hồng Sâm chứa đến 34 thành phần Saponin nên mang lại hiệu quả cao, không chỉ hỗ trợ và nâng cao thể trạng mà còn hiệu quả trong việc điều trị các bệnh như huyết áp, tim mạch, ung thư, tiểu đường, rối loạn cương dương

Thành phần hóa học trong Hồng Sâm được tăng đáng kể khi chế biến bằng máy

Hồng Ngoại

Và mới đây, bằng phương pháp tinh chế Hồng Sâm bằng tia Hồng Ngoại, áp dụng nguyên lý không thoát hơi đã giữ nguyên được hoàn toàn dược liệu quý hiếm

và làm tăng thêm thành phần hóa học của Nhân Sâm càng nâng cao hiệu quả của Hồng Sâm, nhất hoạt chất Rg3(S), Rg3(R), Rg5 hiệu quả với hỗ trợ và điều trị các bệnh ung thư

Trang 4

Thành phần hóa học Rg3(S), Rg3(R), Rg5 trong Hồng Sâm tăng vượt trội khi chế

biến bằng máy Hồng Ngoại Tóm lại trong Hồng Sâm chứa đầy đủ các thành phần cung cấp cho cơ thể những vi chất cần thiết trong việc nâng cao thể trạng, tăng cường sinh lực, tăng cường sức đề kháng cũng như những hoạt chất Saponin giúp cơ thể chống lại với bệnh tật cũng như hiệu quả với việc điều trị các loại bệnh mãn tính

Chỉ cần sử dụng mỗi ngày một lượng nhỏ Hồng Sâm để mang lại sức khỏe dẻo dai, tinh thần minh mẫn, thể lực cường tráng

Định nghĩa

Saponin còn gọi là saponosid là một nhóm glycosid lớn, gặp rộng rãi trong thực vật Saponin cũng có trong một số động vật như hải sâm, cá sao

Saponin có một số tính chất đặc biệt:

- Làm giảm sức căng bề mặt, tạo bọt nhiều khi lắc với nước, có tác dụng nhũ hoá

và tẩy sạch

- Làm vỡ hồng cầu ngay ở những nồng độ rất loãng

Trang 5

- Ðộc với cá vì saponin làm tăng tính thấm của biểu mô đường hô hấp nên làm mất các chất điện giải cần thiết, ngoài ra có tác dụng diệt các loài thân mềm như giun, sán, ốc sên

- Kích ứng niêm mạc gây hắt hơi, đỏ mắt, có tác dụng long đờm, lợi tiểu; liều cao gây nôn mửa, đi lỏng

- Có thể tạo phức với cholesterol hoặc với các chất 3-b-hydroxysteroid khác Saponin còn gọi là saponosid do chữ latin sapo = xà phòng (vì tạo bọt như xà phòng),

Tuy vậy một vài tính chất trên không thể hiện ở một vài saponin.Ví dụ:

sarsaparillosid thì không có tính phá huyết cũng như tính tạo phức với cholesterol Saponin đa số có vị đắng trừ một số như glycyrrhizin có trong cam thảo bắc,

abrusosid trong cam thảo dây, oslandin trong cây Polypodium vulgare có vị ngọt Saponin tan trong nước, alcol, rất ít tan trong aceton, ether, hexan do đó người ta dùng 3 dung môi này để tủa saponin Saponin có thể bị tủa bởi chì acetat, bari hydroxyd, ammoni sulfat

Saponin khó bị thẩm tích, người ta dựa vào tính chất này để tinh chế saponin trong quá trình chiết xuất

Phần genin tức là sapogenin và dẫn chất acetyl sapogenin thường dễ kết tinh hơn saponin

Saponin triterpenoid thì có loại trung tính và loại acid, saponin steroid thì có loại trung tính và loại kiềm

Về mặt phân loại, dựa theo cấu trúc hoá học có thể chia ra: saponin triterpenoid và saponin steroid

Back to Top

2 Cấu trúc hoá học

2.1 Saponin triterpenoid:

Trang 6

Phần genin của loại này có 30 carbon cấu tạo bởi 6 nhóm hemiterpen Người ta chia làm 2 loại:

Saponin triterpenoid pentacyclic và saponin triterpenoid tetracyclic

2.1.1 Saponin triterpenoid pentacyclic: loại này chia ra các nhóm: olean*, ursan*, lupan*, hopan

a - Nhóm olean (I) : Phần lớn các saponin triterpenoid trong tự nhiên đều thuộc nhóm này Phần aglycon thường có 5 vòng và thường là dẫn chất của 3-β hydroxy olean 12 - ene, tức là β-amyrin Một vài aglycon làm ví dụ (công thức A):

- Acid oleanolic: R1 = R2 = R4 = R5 = -CH3, R3 = -COOH

- Hederagenin: R2 = R4 = R5 = -CH3 , R1 = -CH2OH , R3 = -COOH

- Gypsogenin: R2 = R4 = R5 = -CH3 , R1 = -CHO , R3 = -COOH

Mạch đường có thể nối vào 3 theo dây nối acetal, có khi mạch đường nối vào

C-28 theo dây nối ester Gần đây người ta phân lập được các saponin có đến 10-11 đơn vị đường nếu kể cả 2 mạch, riêng một mạch có thể đến 6 đơn vị đường

b - Nhóm ursan (II): Cấu trúc của nhóm ursan cũng tương tự như nhóm olean chỉ khác là nhóm methyl ở C-30 không đính vào vị trí C-20 mà lại đính ở vị trí C-19 Các sapogenin nhóm ursan thường là những dẫn chất của 3-β hydroxy ursan 12-ene, tức là α-amyrin Những saponin của nhóm này ít gặp hơn nhóm olean

Cinchona glycosid A, Cinchona glycosid B có trong cây canh-ki-na, asiaticosid có trong rau má là những saponin của nhóm này

c - Nhóm lupan (III): Cấu trúc của nhóm lupan có các vòng A,B,C,D giống như các nhóm trên, chỉ khác vòng E là vòng 5 cạnh, C-20 ở ngoài vòng và thường có nối

đôi ở vị trí 20-29 Lấy một ví dụ là saponin có trong rễ cây Ô rô Acanthus

iliciformis Linn.: [ α -L - arabinofuranosyl (1-4) β -D glucoropyranosid (1-3)]-3-β - hydroxy-lup-20(29) ene (IIIa)

Một số saponin có trong cây ngũ gia bì chân chim cũng thuộc nhóm này

Trang 7

d - Nhóm hopan (IV): Cấu trúc của nhóm hopan có các vòng A,B,C,D giống như các nhóm trên, chỉ khác vòng E là vòng 5 cạnh, C-22 ở ngoài vòng và nhóm

methyl góc đính ở C-18 thay vì ở C-17 Saponin đầu tiên được biết là chất

mollugocin A có trong cỏ thảm Mollugo hirta L

2.1.2 Saponin triterpenoid tetracyclic: có 3 nhóm chính: dammaran*, lanostan*, cucurbitan

a - Nhóm dammaran (V): Ðại diện là các saponin của nhân sâm Phần aglycon gồm

4 vòng và một mạch nhánh Khi tác dụng bởi acid thì mạch nhánh đóng vòng tạo thành vòng tetrahydropyran Bằng các phương pháp đặc biệt để cắt phần đường, người ta đã thu được các genin thật Hai genin chính là: protopanaxadiol và

protopanaxatriol

Phần đường nối vào OH ở cabon số 3 hoặc có khi thêm 1 mạch nữa nối vào OH ở mạch nhánh

Saponin triterpenoid tetracyclic nhóm damaran còn gặp trong hạt táo (Ziziphus jujuba Mill.), rau đắng biển (Bacopa monnieri (L.) Wettst.

b - Nhóm lanostan (VI): Holothurin A, một trong những saponin có trong các loài hải sâm - Holothuria spp là một ví dụ của nhóm này

Một nhóm phụ của nhóm lanostan là nhóm cycloartan có cấu trúc 9,19 cyclo (9β) lanostan Các saponin abrusosid A, B, C, D có trong cam thảo dây Abrus

precatorius là những saponin thuộc nhóm này

c/ Nhóm cucurbitan (VII) Phần lớn các saponin nhóm cucurbitan gặp trong họ

Cucurbitaceae Ở đây nhóm CH3 góc thay vì ở vị trí C10 lại đính ở C9

2.2 Saponin steroid:

2.2.1 Nhóm spirostan: Ta xét 3 chất sapogenin làm ví dụ: sarsasapogenin,

smilagenin, tigogenin Những chất này có 27 carbon như cholesterol, nhưng mạch nhánh từ C 20-27 tạo thành 2 vòng có oxy (16,22 và 22,26 diepoxy), một vòng là

Trang 8

hydrofuran (vòng E) và một vòng là hydropyran (vòng F) Hai vòng này nối với nhau bởi 1 carbon chung ở C-22 Mạch nhánh này được gọi là mạch nhánh

spiroacetal

Ba chất trên là 3 đồng phân Smilagenin và tigogenin khác nhau do cấu hình ở C-5 Còn sarsasapogenin và smilagenin thì khác nhau do cấu hình ở C-25

Sarsasapogenin có nhóm methyl ở C-25 hướng axial có cấu hình tuyệt đối 25S, smilagenin thì nhóm methyl ở C-25 hướng equatorial có cấu hình tuyệt đối 25R Các sapogenin nhóm này có nối vòng C và D trans (khác với glycosid tim) Còn vòng A và B có thể là cis như ở chất sarsasapogenin và smilagenin hoặc có thể là trans như ở chất tigogenin Công thức lập thể của 3 chất sarsasapogenin

Smilagenin và tigogenin

Nhóm OH ở C3 thường hướng β, một số hướng α ví dụ các saponin của tỳ giải Nhóm spirostan hiện nay được chú ý nhiều vì là nguồn nguyên liệu quan trọng để bán tổng hợp các thuốc steroid Hai sapogenin quan trọng nhất là diosgenin (có chủ yếu trong các loài Dioscorea) và hecogenin (có chủ yếu trong các loài Agave)

Ở dạng glycosid phần đường được nối vào OH ở C-3, một số ít trường hợp ở C1 Mạch đường thường phân nhánh và phức tạp Ví dụ digitonin là một saponosid có trong cây digital, có mạch đường gồm 5 đơn vị đường và phân nhánh:

Xyl - 1 → 3glc-1 → 4gal → digitogenin 2

1 | glc-1 → 3gal 2.2.2 Nhóm furostan: Nhóm này có cấu trúc tương tự như nhóm spirostan chỉ khác là vòng F bị biến đổi Trường hợp thứ nhất: vòng F mở và nhóm alcol bậc một ở C-26 được nối với đường glucose Nếu glucose ở C-26 bị cắt (bởi enzym hoặc bởi acid) thì xảy ra sự đóng vòng F thành vòng hydropyran và chuyển thành

Trang 9

dẫn chất nhóm spirostan Ví dụ sarsaparillosid dưới tác dụng của enzym thủy phân cắt mạch glucose ở C-26 sẽ chuyển thành parillin

Trường hợp thứ hai: vòng F là vòng 5 cạnh do sự đóng vòng 22-25 epoxy ví dụ

avenacosid có trong yến mạch (Avena L Họ Lúa - Poaceae) Avenacosid A cũng

có 2 mạch đường Khi thủy phân cắt đường glucose ở C-26 thì cũng chuyển thành dẫn chất nhóm spirostan

Sarsaparillosid và avenacosid A đều có 2 mạch đường Người ta gọi đây là các bidesmosid (desmos = mạch)

2.2.3 Nhóm aminofurostan: Ở đây vòng F mở như trường hợp sarsaparillosid nói

ở trên nhưng ở vị trí C-3 đính nhóm NH2 Ví dụ jurubin, là saponin có trong

Solanum paniculatum

2.2.4 Nhóm spirosolan: Nhóm này chỉ khác nhóm spirostan ở nguyên tử oxy của vòng F được thay bằng NH Một điểm cần chú ý là ở đây có isomer ở C-22 (khác

với nhóm spirostan) Ví dụ solasonin có trong cây cà Úc (= cà lá xẻ ) Solanum laciniatum có cấu trúc (25R) 22α còn tomatin là các saponin có trong cây cà chua

thì có cấu trúc (25S) 22β

2.2.5 Nhóm solanidan: Solanin có trong mầm khoai tây thuộc nhóm này Ở đây 2 vòng E và F cùng chung 1C và 1N

Những chất thuộc 3 nhóm aminofurostan, spirosolan và solanidan đều có chứa N vừa mang tính alcaloid vừa mang tính glycosid nên được gọi là những chất

glycoalcaloid

2.2.6 Ngoài những nhóm saponin steroid kể trên người ta còn gặp một số saponin steroid có cấu trúc mạch nhánh khác ví dụ polypodosaponin và oslandin được Jizba

phân lập 1971 từ thân rễ cây Polypodium vulgare L Oslandin là một bidesmosid

có vị ngọt α-spinasterol glycosid có trong cây chè Camelia sinensis (L.) O K.tze (Thea sinensis L.) Back to Top

Trang 10

3 Kiểm nghiệm Saponin

Trang 11

CHƯƠNG III: CÁC PHƯƠNG PHÁP ÐỂ KIỂM NGHIỆM DƯỢC LIỆU CHỨA

SAPONIN:

3.1 Dựa trên tính chất tạo bọt:

Ðây là tính chất đặc trưng nhất của saponin do phân tử saponin lớn và có cùng một lúc một đầu ưa nước và một đầu kỵ nước Người ta dựa trên hiện tượng gây bọt ở môi trường kiềm và acid để sơ bộ phân biệt saponin steroid và triterpenoid: lấy 1g bột nguyên liệu thực vật, thêm 5ml cồn, đun sôi cách thủy 15 phút

Lấy 2 ống nghiệm cỡ bằng nhau, cho vào ống thứ nhất 5ml HCl 0,1 N

(pH=1) vào ống thứ hai 5ml NaOH 0,1 N (pH=13) Cho thêm vào mỗi ống 2-3 giọt dung dịch cồn chiết rồi bịt ống nghiệm, lắc mạnh cả 2 ống trong 15 giây Ðể yên, nếu cột bọt trong cả 2 ống cao ngang nhau và bền như nhau thì sơ bộ xác định trong dược liệu có saponin triterpenoid Nếu ống kiềm có cột bọt cao hơn ống kia thì sơ bộ xác định là saponin steroid Có thể dựa vào chỉ số bọt để đánh giá một nguyên liệu chứa saponin: chỉ số bọt là sốml nước để hoà tan saponin trong 1g nguyên liệu cho một cột bọt cao 1cm sau khi lắc và đọc (tiến hành trong điều kiện qui định) Cách tiến hành: cân 1g bột nguyên liệu (qua rây số 32), cho vào bình nón có thể tích 500ml đã chứa sẵn 100ml nước sôi, giữ cho sôi nhẹ trong 30 phút, lọc, để nguội và thêm nước cho đúng 100ml Lấy 10 ống nghiệm có chiều cao 16

cm và đường kính 16 mm, cho vào các ống nghiệm lần lượt 1,2,3, ,10ml nước sắc, thêm nước cất vào mỗi ống cho đủ mỗi ống 10ml Bịt miệng các ống nghiệm rồi lắc theo chiều dọc trong 15 giây, mỗi giây 2 lần lắc Ðể yên 15 phút và đo chiều cao của các cột bọt Nếu cột bọt trong các ống thấp dưới 1 cm thì chỉ số bọt dưới

100 Nếu ống có cột bọt cao 1 cm nằm giữa gam, ví dụ ống số 4 chẳng hạn thì tính như sau: ống này có 4ml nước sắc 1% tương ứng với 0,04g bột thì chỉ số là:

10x1/0,04=250

Ngày đăng: 18/12/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w