1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN CHÍNH TẢ LỚP 2

13 78 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 33,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với lớp 2 chữ viết đóng vai trò vô cùng quan trọng, tuy nhiên ngôn ngữ viết của các em còn ở mức độ thấp nhưng qua hệ thống ngôn ngữ đó giúp Giáo viên phần nào nắm được mức độ hiểu b

Trang 1

BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI

- Tên đề tài: Giải pháp giúp học sinh lớp 2A trường Tiểu học

….“Viết đúng chính tả”

- Tên tác giả:

- Đơn vị công tác:.

1 Lý do chọn đề tài:

- Nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy và học, đáp ứng nhu cầu mà ngành và xã hội đề ra Viết đúng chính tả là yêu cầu cần thiết nhất trong tất cả các môn học nói chung, phân môn chính tả nói riêng Vì viết đúng chính tả giúp người đọc hiểu được ý tác giả cần muốn diễn đạt điều gì đó

2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

+ Đối tượng: Học sinh lớp 2A trường Tiểu học

+ Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Đọc và nghiên cứu tài liệu sách báo có liên quan đến vấn đề rèn chữ cho học sinh Tiểu học

- Phương pháp điều tra, khảo sát, thâm nhập số liệu

- Phương pháp thống kê.- Trao đổi, tìm hiểu qua các đồng nghiệp

3 Đề tài đưa ra giải pháp mới: Học sinh biết phân biệt được các âm vần, dấu thanh dễ lẫn trong khi viết chữ Giúp các em viết đúng và đẹp, trình bày bài viết sạch sẽ hơn Qua đó tạo cảm giác nhẹ nhàng trong tiết học, sự quan tâm động viên khích lệ tinh thần học tập của học sinh Học sinh hứng thú trong học tập đạt hiệu quả cao hơn

4 Hiệu quả áp dụng: Giải quyết được các khuấc mắc, các mâu thuẫn trong dạy

và học Thực hiện đúng theo chỉ đạo của ngành, phù hợp với mục tiêu, quan điểm của Đảng, phương châm giáo dục của ngành Học sinh học tập ngày một tiến bộ ( như bảng thống kê)

5 Phạm vi áp dụng: Áp dụng trong khối 2, 3, 4, 5 năm học 2009 – 2010 có hiệu quả

, ngày tháng năm 20 Người thực hiện

Giải pháp giúp Hs lớp 2A trường TH

Trang 2

“ Viết đúng chính tả”.

A Mở đầu:

1 Lý do chọn đề tài:

Khi nói về chữ viết Bác Hồ nhận định “Nét chữ – nết người” Như chúng ta

đã biết chữ viết đóng một vai trò rất quan trọng, đặc biệt là bậc Tiểu học Chất lượng Giáo dục ngày càng được nâng cao và toàn diện, đòi hỏi chất lượng chữ viết

ở Tiểu học phải xem như là chuẩn mực trong chất lượng Giáo dục nói chung

Ngay từ bâc Tiểu học, Học sinh đã được chú ý quan tâm và đầu tư hết mức

về những kiến thức các môn học Chữ viết là một hệ thống kí hiệu ngôn ngữ thay cho lời nói Nó chuyển tải thông tin từ dạng nói thành dạng viết Nó còn có những quy tắc, quy định riêng Muốn viết đúng chúng ta phải tuân theo những quy tắc, quy định đã được xác lập Đối với lớp 2 chữ viết đóng vai trò vô cùng quan trọng, tuy nhiên ngôn ngữ viết của các em còn ở mức độ thấp nhưng qua hệ thống ngôn ngữ đó giúp Giáo viên phần nào nắm được mức độ hiểu bài của Học sinh Ở Học sinh lớp 2 các em bắt đầu làm quen với việc hình thành ngôn bản: Câu văn; đoạn văn Do đó đòi hỏi chữ viết của các em phải đẹp, chính xác thì mới phản ánh đúng nguồn thông tin cần muốn nói Hay nói cách khác chính là sự trình bày lại một bài làm viết đúng đẹp Vì vậy rèn luyện cho Học sinh viết đúng chính tả là một điều hết sức thiết thực Nó là cơ sở, là nền tảng giúp học sinh học tốt hơn ở các lớp sau này

Thực tế hiện nay tình trạng học sinh viết chữ xấu, sai lỗi chính tả chiếm một

tỉ lệ không nhỏ ở bậc Tiểu học Thực trạng này sẽ dẫn đến chữ viết của học sinh ngày càng sai lệch so với yêu cầu đặt ra cho môn chính tả ở Tiểu học Đây là vấn

đề được các nhà Giáo dục quan tâm Cụ thể trong lớp 2 tôi đang giảng dạy có những em học sinh viết sai cả 10 lỗi trong một bài chính tả khoảng 35 chữ Vã lại trong bài viết Tập làm văn tôi không thể hiểu các em muốn diễn đạt điều gì vì bài viết mắc quá nhiều lỗi chính tả Điều này ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của học sinh ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác Các em hạn chế khả năng giao tiếp, Mất tự tin, trở nên rụt rè, nhút nhát

Một lí do quan trọng nữa khiến tôi chọn đề tài là học sinh của tôi ngoài viết sai lỗi chính tả thì chữ viết còn xấu, trình bày bẩn, cẩu thả

Làm thế nào để giúp học sinh Tiểu học viết đúng chính tả là trăn trở, suy nghĩ của người Giáo viên Ý thức được điều đó tôi tập trung nghiên cứu của đề tài” Biện pháp góp phần nâng cao chất lượng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2”

2 Đối tượng nghiên cứu:

- Học sinh lớp 2A tôi đang trực tiếp giảng dạy thuộc trường Tiểu học Thạnh Sơn

3 Phạm vi nghiên cứu:

Trang 3

Do trình độ chuyên môn, khả năng và thời gian nghiên cứu có giới hạn cùng với tình hình thực tế học sinh trong lớp nên việc tìm hiểu phương pháp dạy học chỉ dừng lại ở “Giải pháp giúp học sinh lớp 2A trường Tiểu học Thạnh Sơn viết đúng chính tả” năm học 2009 – 2010

4 Phương pháp nghiên cứu:

a) Phương pháp nghiên cứu lí luận: Đọc và nghiên cứu tài liệu sách báo có liên quan đến vấn đề rèn chữ cho học sinh Tiểu học

b) Phương pháp điều tra, khảo sát, thâm nhập số liệu

c) Phương pháp thống kê

B Nội dung:

1 Cơ sở lí luận:

Vấn đề rèn viết đúng, đẹp cho học sinh Tiểu học là vấn đề không chỉ giáo viên quan tâm mà đòi hỏi sự quan tâm, chăm lo của toàn xã hội Bởi lẽ: Chữ viết đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động giao tiếp của con người Viết đúng chuẩn mới truyền đạt chính xác điều mình định bộc lộ, lúc đó người đọc mới hiểu đuợc ý đồ của người viết Viết đẹp, đúng chính tả là người có học thức, có văn hóa Trong giao tiếp, học tập mới có hiểu quả

Với phương châm “ Dạy chữ – Dạy người” Giáo viên luôn cố gắng tìm hiểu biện pháp để từng bước nâng cao chất lượng Giáo dục

Rèn cho học sinh tính chịu khó, cẩn thận, viết đúng, đẹp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện để làm tiên đề cho việc học tập và rèn luyện sau này

2 Cơ sở thực tiễn:

- Học sinh thuộc khu vực nông thôn nhà trường cũng không có đủ điều

kiện, ít được sự quan tâm của phụ huynh học sinh

- Học sinh ở huyện Tân Biên cụ thể là học sinh lớp tôi có một số em nói và viết theo ngôn ngữ địa phương, thường các em nói sao, viết vây

Ví dụ: Đi về viết thành đi dề

- Sai và nhầm lẫn giữa những chữ có âm đầu, vần, âm cuối, thanh điệu Ví dụ: ngôi sao – ngôi xao; con thuyền – con thiền; …

- Viết thiếu nét, chiều cao, khoảng cách không đúng quy định Các em chưa

có ý thức rèn chữ viết, còn xem nhẹ môn học này

3 Thực trạng:

Tổng số học sinh: 38 / 18

Qua thực tế giảng dạy, tiếp xúc, khảo sát học sinh, đa số các em còn hạn chế

về chữ viết Bài viết còn mắc nhiều lỗi chính tả, trình bày chữ chưa sạch, đẹp Vì vậy kết quả bài làm của các em có phần hạn chế, không đạt điểm tối đa

Qua khảo sát đầu năm, thống kê như sau:

Giai

Trang 4

9 - 10 7 - 8 5 - 6 Dưới 5 SL TL%

ĐẦU

NĂM

4 Nội dung vấn đề:

4.1 Qua quá trình giảng dạy, tìm hiểu tôi đã thống kê được một số các loại lỗi mà học sinh thường mắc phải như sau:

a) Về thanh điệu:

Trong Tiếng Việt có 6 thanh điệu( Ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã nặng) Riêng 2 thanh điệu là hỏi / ngã học sinh chưa phân biệt được

Ví dụ: củ khoai – viết cũ khoai; hướng dẫn – viết hướng dẩn

b) Về âm đầu:

Học sinh còn lẫn lộn giữa các âm sau:

- c / k: Ví dụ: gói kẹo – viết gói cẹo;…

- g / gh: Ví dụ: ghê sợ – viết gê sơ;…

- ng / ngh: Ví dụ: nghỉ ngơi – viết ngỉ ngơi;…

* Học sinh cần phân biệt đúng luật chính tả:

+ k/ gh/ ngh đứng trước các nguyên âm i; e; ê

+ c/ g/ ng đứng trước các nguyên âm còn lại: a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư

- s / x: ngôi sao – viết ngôi xao;…

- v/ d/ gi: Ví dụ: dải lụa – viết giải lụa; đi về – viết đi dề;…

- g/ r: Ví dụ: cái rổ – viết cái gỗ

c) Về âm chính:

Hs thường hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các âm chính trong các vần sau:

- Ai/ ay/ ây: Ví dụ: Bàn tay- bàn tai; đi cày – đi cầy; …

- ao/ au/ âu: Ví dụ: Hôm sau – hôm sao; màu đỏ – mầu đỏ; …

- iu/ êu/ iêu: Ví dụ: chiều chuộng – chìu chuộng; liêm khiết – lim khiết; …

- oi/ ôi/ ơi: noi gương – nôi gương; xôi nếp – xoi nếp; …

- ăm/ âm: con tằm – con tầm; sưu tằm; …

- im/ iêm/ êm/ em: tiêm thuốc – tim thuốc; lúa chiêm – lúa chim; …

- ắp/ ấp: gặp gỡ – gập gỡ; trùng lắp – trùng lấp; …

d) Về âm cuối:

học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:

- an/ ang: cái bàn - cái bàng; …

- at/ ac: lang bạt – lang bạc; …

- ăn/ ăng: lẳng lặng – lẳn lặng; …

- ân/ âng: hụt hẩng – hụt hẩn; nhà tầng – nhà tần; …

- uôn/ uông: buồn chán – buồng chán; buồng tắm – buồn tắm; …

Trang 5

- ươn/ ương: sung sướng – sung sướn, sân vườn – sân vường; …

4.2 Nguyên nhân mắc lỗi:

a) Về thanh điệu:

- Do số lượng tiếng mang hai thanh hỏi/ ngã khá lớn Do đó lỗi về thanh điệu rất phổ biến

b) Về âm đầu:

- Trong phương ngữ Bắc và Nam có sự lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu tr/

ch, s/ x, v/ d/ gi Mặt khác người miền Nam còn lẫn lộn giữa v vá d Ngoài ra trong quy ước về chữ quốc ngữ, một âm ghi bằng 2 hoặc 3 dạng (VD: / k / ghi bằng c,

k, qu)… Dĩ nhiên là có những quy định riêng cho mỗi dạng nhưng đối với học sinh Tiểu học( nhất là học sinh yếu) thì rất dễ lẫn lộn

c) Về âm chính:

Có hai nguyên âm gây ra sự lẫn lộn về âm chính trong các vần này:

+ Nguyên âm thứ nhất là do sự phức tạp của chữ quốc ngữ

+ Nguyên âm thứ hai là do cách phát âm lẫn lộn của tiếng địa phương

d) Về âm cuối:

Do học sinh ảnh hưởng quá nhiều của tiếng địa phương nên khi các em phát

âm hoàn toàn không phân biệt các vần có âm cuối: n/ ng/ nh và t/ c/ ch Mà số từ mang các vần này không nhỏ Mặt khác hai bán âm cuối / i, u / lại được ghi bằng 4 con chữ i/ y( trong lai/ lây), u/ o( trong sau/ sao) Do đó lỗi về âm cuối là lỗi khó khắc phục đối với những em bị ảnh hưởng nhiều của tiếng địa phương

4.3: Một số biện pháp khắc phục lỗi cho học sinh:

* ) Đối với Giáo viên:

Thấm nhuần câu nói “ Người thầy là tấm gương sáng cho học sinh noi theo” nên tôi xác định yếu tố quan trọng nhất là chữ viết và cách trình bày của giáo viên cũng hết sức mẩu mực Giáo viên phải có tập vở rèn chữ viết làm tập vở mẫu

Khi viết trên bảng giáo viên phải viết đẹp, chính xác, đúng mẫu chữ Bởi lẽ đối với học sinh Tiểu học, người giáo viên là thần tượng, là những gì tốt đẹp nhất Mọi hành động, việc làm của giáo viên cần chuẩn mực, chính xác, luôn rèn cho học sinh tính cẩn thận, có ý thức rèn chữ viết Mỗi chữ viết của giáo viên trên bảng đều là một công cụ trực quan để giáo dục học sinh viết chữ đẹp, đúng chính tả

- Giáo viên cần có những hiểu biết đầy đủ về mẫu chữ viết, nắm vững một

số quy định về dạy viết chữ ở trường tiểu học Từ đó tìm hiểu về nội dung và phương pháp dạy tập viết, chính tả theo hướng dạy tích cực

- Ngay tư đầu năm học giáo viên khảo sát, phân loại đối tượng học sinh Từ

đó có những biện pháp rèn viết phù hợp

- Giáo viên cần sưu tầm tranh ảnh về tư thế ngồi học đúng, có bảng chữ mẫu treo ở trước lớp để học sinh nhìn rõ và thực hiện Ngoài ra cần sưu tầm các bài viết của học sinh trên báo thế giới trong ta cho học sinh xem

- Cần nói, viết đúng mọi lúc, mọi nơi

Trang 6

- Thường xuyên quan tâm đến việc rèn chữ viết của học sinh, chấm, chữa bài đúng quy định, có nhận xét bài chấm rõ ràng, chữa các bài tập kịp thời

- Thường xuyên kiểm tra, động viên, khích lệ học sinh Kết hợp với phụ huynh để rèn viết đúng cho học sinh

a) Qua các lỗi sai đó, giáo viên hướng dẫn học sinh khắc phục lỗi bằng các biện pháp sau:

a.1 Luyện phát âm:

- Muốn học sinh viết đúng chính tả giáo viên phải chú ý luyện phát âm cho học sinh để học sinh phân biệt được các thanh, âm đầu, vần, âm cuối

-Việc rèn phát âm không chỉ được thực hiện trong tiết Tập đọc mà được thực hiện thường xuyên , liên tục, lâu dài trong tất cả các tiết học( đặc biệt là chính tả)

- Với những học sinh có vấn đề về mặt phát âm( nói ngọng, nói lắp) giáo viên nên lưu ý học sinh chú ý nghe cô phát âm để viết cho đúng Vì vậy người giáo viên cố gắng phát âm rõ ràng, tốc độ vừa phải mới có thể giúp học sinh viết đúng được

a.2 Phân tích, so sánh:

- Với những tiếng khó, giáo viên áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng,

so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, nhấn mạnh những điểm khác nhau để học sinh ghi nhớ

Ví dụ: Khi viết tiếng “ muống” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “muốn”, giáo viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:

- Muống = m + uông + thanh sắc

- Muốn = m + uốn + thanh sắc

So sánh để thấy sự khác nhau Tiếng “muống” có âm cuối là “ ng”, tiếng muốn có

âm cuối là “n” Học sinh biết và khi viết sẽ không viết sai Hơn nữa nghĩa của từ

“muốn” là muốn hay không muốn làm một cái gì đó

a.3 Giải nghĩa từ:

- Đây là biện pháp thứ ba để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giải nghĩa từ Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết luyện từ và câu, tập đọc, tập làm văn… Nhưng nó cũng là việc làm rất cần thiết trong tiết chính tả, khi

mà học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo tiếng

- Có nhiều cách dể giải nghĩa từ cho học sinh Giáo viên có thể cho học sinh đọc chú giải, đặt câu( Nếu học sinh dặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩa từ), tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật, mô hình, tranh ảnh, …

Ví dụ: Phân biệt “ chiêng" và “chiên”

+ Giải nghia từ “ chiêng” Giáo viên có thể cho học sinh quan sát cái chiêng hoặc miêu tả đặc điểm( chiêng là nhạc cụ bằng đồng, hình tròn, đánh bằng dùi, âm thanh vang dội)

Trang 7

+ Giải nghĩa từ “ chiên” Giáo viên có thể cho học sinh đặt câu với từ chiên hoặc giải thích bằng định nghĩa( Chiên là làm chín thức ăn bằng cách cho thức ăn vào chảo dầu, mỡ, đun trực tiếp trên bếp lửa)

- Với những từ nhiều nghĩa, giáo viên phải đặt từ đó trong văn cách cụ thể

để giải nghĩa từ

b) Ngoài những biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh nêu trên, giáo viên còn có thể dạy cho các em ghi nhớ mẹo luật chính tả như sau:

- Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối hàng loạt từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách rất hữu hiệu Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả Đơn giản như: Các âm đầu k, ngh, gh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê, iê Ngoài ra, giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như:

+ Để phân biệt âm đầu tr/ ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật đều bắt đầu bằng ch

Ví dụ: Chăn, chiếu, chảo, chổi, châu chấu, …

+ Để phân biệt s/ x: Đa số các từ chỉ tên cây và con vật đều bắt đầu bằng s

Ví dụ: sung, si, sên, sếu, sâu,…

+ Để phân biệt thanh hỏi/ thanh ngã: Các từ gộp âm chỉ mang thanh hỏi, không mang thanh ngã:

Ví dụ: Trên + ấy = trển

Anh + ấy = ảnh

Hôm + ấy = hổm

+ Luật bổng – trầm: trong các từ láy điệp âm đầu, thanh( hay dấu) của hai yếu tố ở cùng một hệ bổng ( ngang/ sắc/ hỏi) hoặc ( huyền/ ngã/ nặng) Để nhớ được hai nhóm này, giáo viên chỉ cần dạy cho học sinh thuộc hai câu thơ:

Chị huyền mang nặng ngã đau Anh không sắc thuốc hỏi sao chị lành

Nghĩa là đa số các từ láy mang âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh huyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã Nếu yếu tố đứng trước mang thanh ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi( hoặc ngược lại)

Ví dụ: Bổng

Ngang + hỏi: nho nhỏ, lẻ loi, trong trẻo, vui vẻ,…

Sắc + hỏi: nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vắng vẻ,…

Hỏi + hỏi: lỏng lẻo, thỏ thẻ, hổn hển,…

+ Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn:

Một số từ có vần “ênh” chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc Ví dụ: Bập bênh, chênh vênh, lênh khênh, …

Hầu hết các từ tượng thanh có tận cùng là “ng” hoặc “ nh” Ví dụ: oang oang, đùng đoàng, loảng xoảng, thình thịch,…

Trang 8

Tóm lại: Giáo viên cần khéo léo sử dụng linh hoạt các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học để truyền thụ cho các em một cách nhịp nhàng, không tách rời nhau mà phải đan xen, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau trong từng tiết học Bên cạnh đó, người giáo viên phải có dự kiến về những tinh huống của học sinh đưa ra trong mỗi hoạt động để từ đó có biện pháp giải quyết và điều chỉnh kip thời

* Đối với học sinh:

- Phát động phong trào thi đua trong lớp” Giữ vở sạch, viêt đúng, đẹp” Ngay từ đầu năm học, học sinh cần có ý thức giữ gìn sách vở, tính kiên trì, chịu khó trong việc rèn chữ viết, mỗi tuần viết một bài nộp về giáo viên

- Tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở:

Tư thế ngồi thẳng, đầu hơi cúi, vở để thẳng với tầm mắt, cầm bút ở mức độ vừa phải

- Giữ sách vở, không tẩy xóa viết bậy:

Giáo viên thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn cách giữ gìn sách vở, không tẩy xóa, không quăn góc Phân công Tổ trưởng kiểm tra việc rèn chữ viết rồi báo lại cho giáo viên Thường xuyên kiểm tra, sửa sai, uốn nắn kịp thời từng chữ, từng lỗi chính tả cho học sinh còn yếu, cẩu thả chữ xấu

- Tuyên dương những học sinh viết đúng, đẹp Ra bài tập về nhà cho các em rèn luyện thêm hằng ngày Đánh giá sự tiến bộ hàng tháng của học sinh

- Tích cực tham gia thi vở sạch, chữ đẹp

5 Kết quả:

5.1 Qua thời gian thực hiện đề tài lớp đã đạt được kết quả đáng khích lệ như sau:

-Tổng số học sinh: 38

Điểm

Giai

Đoạn

9 - 10 7 - 8 5 - 6 Dưới 5 Từ TB /

%

%

%

%

ĐẦU NĂM 1 2.6 5 13.2 17 44.7 15 39.5 23 60.5

Trang 9

Từ kết quả trên cho thấy, chất lượng của học sinh được nâng lên một cách

rõ rệt Cụ thể: Trong bài viết của học sinh các em đã biết trình bày rõ ràng, sạch đẹp Đặc biệt hơn là sai lỗi chính tả từng bước được khắc phục

5.2 Bài học kinh nghiệm:

Rèn chữ viết cho học sinh Tiểu học là vấn đề cấp thiết đang được đặt ra cho tất cả những người làm công tác giáo dục, đòi hỏi mỗi học sinh phải xây dựng cho mình một kế hoạch, một biện pháp cụ thể thiết thực để có kĩ năng viết đúng, đẹp

Đây là công việc đòi hỏi phải có nhiều thời gian, tôn nhiều công sức và phải tiến hành thường xuyên Vì vậy giáo viên phải có tinh thần trách nhiệm cao,

có lòng yêu nghề, mến trẻ Học sinh phải biết tích cực tự giác, chịu khó học tập, có

ý thức vươn lên trong việc rèn chữ viết đúng, đẹp

Để nâng cao chất lượng, rèn chữ viết ở trường Tiểu hoc nói chung, lớp 2A nói riêng theo tôi cần thực hiện đủ các bước:

- Xây dựng hình thức bên ngoài đồng bộ, đúng quy cách

- Rèn chữ viết đúng mẫu, đúng chính tả, đúng ngữ pháp

- Trình bày sạch sẽ, giữ vở sạch, không quăn góc, xệch xoạc

- Bàn ghế ngay ngắn, đúng cỡ, phòng học đủ ánh sáng Hướng dẫn tư thế ngồi viết, có bảng chữ mẫu

- Cần áp dụng đổi mới phương pháp dạy học môn chính tả, tiếng việt theo hướng tích cực hoạt động của học sinh

- Giáo viên thường xuyên kiểm tra nhắc nhở, sửa sai kịp thời, hình thành cho học sinh ý thức rèn chữ, giữ vở tốt

- Giáo viên cần nói, viết đúng chuẩn ở mọi nơi, mọi lúc, chú ý cách chấm, chữa bài cho học sinh, cách ghi bảng, trình bày bảng đúng, đẹp và có khoa học

- Động viên biểu dương kịp thời Ngoài ra còn kết hợp với phụ huynh học sinh tham gia hướng dẫn các em rèn chữ viết ở nhà để đạt kết quả cao hơn

5.3 Kiến nghị – đề xuất:

Với những giải pháp trên, để vận dụng tốt hơn nữa tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến bổ sung thêm từ hội đồng khoa học trường, huyện để đề tài được hoàn chỉnh, nhằm giúp tôi vận dụng tốt hơn ở năm học 2009– 2010 và những năm học tiếp theo Tôi xin chân thành cảm ơn !

C Kết thúc vấn đề:

Việc chọn lựa phương pháp thích hợp trong giảng dạy để đạt kết quả cao là vấn đề đáng quan tâm của ngành giáo dục nhất là học sinh lớp 2 Giáo viên cần rèn luyện thói quen và kĩ năng trong viết chữ để hình thành nền tảng cho các lơp học sau này

Để giúp học sinh học tập có tiến bộ và đạt được kết quả cao cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội Bên cạnh sự hướng dẫn dìu dắt của giáo viên thì bản thân của mỗi học sinh cần phải có sự nổ lực, cố gắng mới có kết quả vượt bậc và dần dần hình thành những kiến thức, kĩ năng, những thói quen

Trang 10

trong học tập của học sinh đáp ứng việc thực hiện tiêu chí hai không trong giáo dục, đáp ứng nhu cầu trong công cuộc đổi mới của đất nước

, ngày tháng năm

Người thực hiện

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU:

Ngày đăng: 12/01/2019, 13:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w