Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá mặt được và mặt hạn chế của tiền lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định, thực trang tình hình thực hiện các quy định của Nhà nước về tiền lư
Trang 1I Tổng quan về mức lương tối thiểu vùng 3
1 Khái niệm mức lương tối thiểu vùng 3
2 Vai trò mức lương tối thiểu vùng 3
3 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức lương tối thiểu vùng 4
4 Tiêu chí xác định mức lương tối thiểu vùng 4
II Thực tiễn áp dụng quy định về mức lương tối thiểu vùng 6
1 Một số quy định cơ bản của pháp luật về mức tiền lương tối thiểu vùng hiện nay 6
1.1 Mức lương tối thiểu vùng 6
1.2 Tổ chức triển khai thực hiện mức lương tối thiểu vùng 7
2 Thực tiễn thực hiện các chính sách về mức lương tối thiểu vùng 8
2.1 Phương hướng nâng mức lương tối thiểu vùng trong năm từ 2018-2030 8
2.2 Thực hiện điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng năm 2019 9
2.3 Đánh giá thực tiễn áp dụng quy định về mức lương tối thiểu vùng 11
2.4 Tác động của việc tăng mức lương tối thiểu đối với doanh nghiệp và người lao động 13
III Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về mức lương tối thiểu vùng 15
1 Yêu cầu của việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về mức lương tối thiểu vùng 15
2 Giải pháp hoàn thiện mức lương tối thiểu vùng 16
3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về mức lương tối thiểu 16
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chính sách tiền lương của nước ta sau nhiều lần cải cách đã và đang thể hiện được vai trò và chức năng của mình trong sản xuất kinh doanh và đời sống của người lao động, nhất là chính sách tiền lương từ năm 1993 đến nay đã từng bước đổi mới theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tiền lương
đã được coi là giá cả sức lao động và được hình thành trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động thông qua ký kết hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể, tiền lương trở thành độn lực, đòn bẩy kích thích, khuyến khích người lao động làm công việc có năng suất, chất lượng, hiệu quả, nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề là phương tiện đảm bảo cuộc sống ngày càng nâng cao
Tiền lương tối thiểu vùng là một trong những nội dung cơ bản và quan trọng của chính sách tiền lương trong kinh tế thị trường Tiền lương tối thiểu vùng tham gia vào quá trình phân phối, điều tiết vĩ mô về tiền lương và thu nhập trên phạm vi toàn xã hội, đồng thời là yếu tố tham gia vào hình thành chi phí đầu vào của doanh nghiệp và phân phối theo kết quả đầu ra của sản xuất kinh doanh
Đối với nước ta, trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhận thức về tiền lương tối thiểu nói chung và tiền lương tối vùng nói riêng trong nền kinh tế thị trường ngày càng rõ nét Chính sách về tiền lương tối thiểu vùng qua nhiều lần cải cách đã không ngừng hoàn thiện, phù hợp với mỗi giai đoạn phát triển của đất nước, Đã từng bước đổi mới theo định hướng thị trường Tuy nhiên, trong giai đoạn quá độ chuyển đổi từ cơ chế quản lý tập trung, bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta ngày càng hội nhập sâu, rộng với kinh tế quốc tế thì tiền lương tối thiều vùng đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tế
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá mặt được và mặt hạn chế của tiền lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định, thực trang tình hình thực hiện các quy định của Nhà nước về tiền lương tối thiểu và các yêu cầu đối với tiền lương tối thiểu trong nền kinh tế thị trường, của Tổ chức lao động quốc tế, khi Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mai thế giới, Đề tài “ Quy định pháp luật
về mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động và thực tiễn thi hành” đề xuất nội dung và giải pháp để luật hóa đầy đủ, đồng bộ tiền lương tối thiểu vùng phù hợp kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế
2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Tiểu luận tập chung nghiên cứu các vấn đề sau:
Khái niệm, bản chất, vai trò của tiền lương tối thiểu vùng, các phương pháp xác định tiền lương tối thiểu vùng, các yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương tối thiểu vùng Thực trạng của pháp luật Việt Nam về tiền lương tối thiểu vùng củng như các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về tiền lương tối thiểu vùng ở Việt Nam
Trang 3QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG ĐỐI
VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
II Tổng quan về mức lương tối thiểu vùng
1 Khái niệm mức lương tối thiểu vùng
Mức lương tối thiểu (hay còn gọi là tiền lương tối thiểu) là mức lương thấp nhất do Nhà nước quy định làm cơ sở để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận và trả lương, đó là mức lương thỏa thuận để đóng các khoản bảo hiểm, không tính các khoản phụ cấp, trợ cấp khác Trong đó, mức lương trả cho người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường, bảo đảm đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận Tiền lương tối thiểu bao gồm lương tối thiểu chung, lương tối thiểu vùng, lương tối thiểu ngành
Mức lương tối thiểu vùng là mức lương áp dụng cho một vùng nào đó trên lãnh thổ được pháp luật quy định được xác định tương ứng với trình độ lao động đơn giản nhất, tương ướng với cường độ lao động nhẹ nhàng nhất trong điều kiện lao động bình thường, đảm bảo nhu cầu tiêu dùng cần thiết ở mức tối thiểu, tương ứng với giá tư liệu sinh hoạt chủ yếu ở vùng có mức giá trung bình
2 Vai trò mức lương tối thiểu vùng
“Việc quy định mức lương tối thiểu nói chung và mức lương tối thiểu vùng nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ đối với Nhà nước, người sử dụng lao động mà còn đối với đời sống người lao động:
Thứ nhất: Lương tối thiểu là sự đảm bảo có tính pháp lý của Nhà nước đối với người lao động trong mọi ngành nghề, khu vực có tồn tại quan hệ lao động Bảo đảm đời sống tối thiểu cho họ phù hợp với khả năng của nền kinh tế
Thứ hai: là công cụ điều tiết của Nhà nước trên phạm vi toàn xã hội và trong từng cơ sở kinh tế nhằm:
- Loại bỏ sự bóc lột có thể xảy ra đối với người làm công ăn lương trước sức ép của thị trường;
- Bảo vệ sức mua cho các mức tiền lương trước sự gia tăng của lạm phát và các yếu tố kinh tế khác;
- Loại bỏ sự cạnh tranh không công bằng của thị trường lao động;
- Đảm bảo sự trả lương tương đương cho những công việc tương đương, tiền lương tối thiểu ở một mức độ nào đó là sự điều hòa tiền lương trong các nhóm người lao động mà ở đó tiền lương không được tính đúng mức;
- Phòng ngừa xung đột, tranh chấp trong lao động Sự xác định thỏa đáng các mức tiền lương tối thiểu có thể xóa bỏ một trong những nguyên nhân gây nên xung đột giữa chủ và thợ để thúc đẩy kinh tế phát triển
Trang 4Thứ ba: Thiết lập mối quan hệ ràng buộc kinh tế trong lĩnh vực sử dụng lao động, tăng cường trách nhiệm của các bên trong quản lý và sử dụng lao động”1
3 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức lương tối thiểu vùng
“Mục tiêu của việc xác định xác định mức lương tối thiểu là phải bảo hộ cho toàn thể người lao động làm công ăn lương Chính vì thế mà việc xác định tiền lương tối thiểu phải dựa trên các căn cứ sau:
- Hệ thống các nhu cầu tối thiểu của người lao động và gia đình họ Hệ thống các nhu cầu này bao gồm các nhu cầu về mặt sinh học đối với một số mặt hàng thiết yếu theo định hướng và các nhu cầu xã hội như nhu cầu về: ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, y tế, sinh hoạt văn hóa, giao tiếp xã hội, bảo hiểm tuổi già và nuôi con…;
- Mức tiền lương chung của cả nước;
- Chi phí và sự biến động của giá cả sinh hoạt;
- Mối tương quan về điều kiện sống của các tầng lớp dân cư trong xã hội;
- Các nhân tố kinh tế như tốc độ tăng trưởng kinh tế và năng xuất lao động;
- Sự đạt được và giữ vững về mức độ có việc làm trên phạm vi vùng và quốc gia
Các yếu tố là căn cứ xác định mức tiền lương tối thiểu nêu trên luôn có sự thay đổi nên khi chúng thay đổi thì tiền lương tối thiểu cũng được điều chỉnh cho hợp lý Khi điều chỉnh mức lương tối thiểu cần phải xem xét các vấn đề liên quan như:
Tốc độ tăng giá cả tư liệu sinh hoạt; tốc độ tăng tiền lương trung bình; sự thay đổi về quy mô và trạng thái gia đình, trình độ thành thạo nghề của người lao động”2
Qua các yếu tố trên có thể thấy các yếu tố luôn có sự thay đổi hay nói cách khác là sự chuyển động theo từng thời điểm khác nhau đòi hỏi nhà làm luật cũng phải tạo ra các thay đổi trong quy định của pháp luật về các mức lương tối thiểu trong đó có thể kể đến là mức lương tối thiểu vùng cho phù hợp với sự chuyển động đó
4 Tiêu chí xác định mức lương tối thiểu vùng
Theo “công ước 131 về ấn định lương tối thiểu, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, 1970”3 Thì tổ chức tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã ban hành “khuyến nghị số 135 về ấn định lương tối thiểu”4 đưa ra các tiêu chí để giải thích điều 3 công ước 131 Các tiêu chí đó gồm:
1 Giáo trình Luật lao động Viện Nam - Trường đại học Luật Hà Nội - NXB CAND (Trang 171)
2 Giáo trình Luật lao động Viện Nam - Trường đại học Luật Hà Nội - NXB CAND (Trang 173)
3 Công ước 131 http://www.molisa.gov.vn/vi/pages/ChiTietVanBan.aspx?vID=32586 (truy cập 29/11/2018)
4 Khuyến nghị số 135
http://www.molisa.gov.vn/Images/FileCu/VI/UserUpload/lasic/052011/khuyen%20nghi%20so%20135%20ok doc (truy cập 29/11/2018)
Trang 5- Nhu cầu của người lao động và gia đình họ;
- Mức lương chung trong nước;
- Chi phí cuộc sống và những thay đổi trong đó;
- Trợ cấp an sinh xã hội;
- Mức sống tương đối của các nhóm xã hội khác;
- Các yếu tố kinh tế, bao gồm yêu cầu phát triển kinh tế, mức năng suất và nhu cầu muốn và duy trì được việc làm ở mức cao
Theo đánh giá của ILO thì yếu tố được sử dụng phổ biến là “chi phí cuộc sống và những thay đổi trong đó”, trong khi tiêu chí nhu cầu của người lao động và gia đình, năng lực chi trả của doanh nghiệp, hai tiêu chí này rất quan trọng khi xác định tiền lương tối thiểu nhằm bảo vệ mức sống của người lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh, năng lực chi trả của doanh nghiệp
Với điều kiện ở Việt Nam, tiền lương tối thiểu được xác định dựa trên cơ
sở đảm bảo hài hòa giữa các yếu tố sơ bản sau:
- Nhu cầu mặt hàng tiêu dùng chủ yếu của người lao động liên quan đến mức sống tối thiểu Đó là hệ thống nhu cầu các mặt tiêu dùng, dịch vụ tối thiểu của người lao động và gia đình họ với mức giá của các mặt hàng đó trên thị trường
- Mức tiền lương chung trên thị trường được xác lập thông qua cung cầu lao động và khả năng chi trả của doanh nghiệp Mức tiền lương chung trên thị trường phản ảnh khả năng cung về số lượng của nguồn nhân lực Ngoài ra, còn cho biết mức tiền lương mà người lao động nhận được đã xứng đáng chưa, có
bị bóc lột hay không
- Tham khảo chính sách của các nước lân cận để dảm bảo yếu tố cạnh tranh
và đảm bảo sự phát triển của đất nước
Trong nhiều năm qua, Nhà nước luôn cố gắng cải cách các chính sách tiền lương nhằm đáp ứng được nhu cầu của xã hội và phù hợp với nền kinh tế đang phát triển Đảm bảo mức lương của người lao động luông vận chuyển động song song và không bị bỏ lại phía sau so với sự phát triển kinh tế của cả nước Pháp luật lao động hiện hành đã có một hành lang pháp lý quy định về tiền lương, đặc biệt là các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh mức lương tối thiểu Cụ thể, trong tại Khoản 2, Điều 35 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam 2013 có quy định: "Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi."
Trang 6Hiện nay, mức lương tối thiểu mà Nhà nước quy định cơ bản đã đáp ứng được mục tiêu là nhằm đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và tái sản xuất một phần sức lao động, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động trong nền kinh tế thị trường Các mức lương tối thiểu mà Nhà nước quy định đang tác động ổn định cho người lao động phục vụ cuộc sống của mình Nhìn chung, mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động đều được tăng lên đáng kể qua hàng năm
II Thực tiễn áp dụng quy định về mức lương tối thiểu vùng
1 Một số quy định cơ bản của pháp luật về mức tiền lương tối thiểu vùng hiện nay
1.1 Mức lương tối thiểu vùng
Theo Bộ Luật lao động 2012 và Nghị định 141/2017/NĐ-CP về việc quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động thì: “ mức lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ Mức lương tối thiểu được xác định theo tháng, ngày, giờ và được xác lập theo vùng, ngành Căn cứ vào nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, điều kiện kinh tế
- xã hội và mức tiền lương trên thị trường lao động, Chính phủ công bố mức lương tối thiểu vùng trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng tiền lương quốc gia”5 Mức lương mà doanh nghiệp trả cho người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường, bảo đảm đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận phải bảo đảm: Không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc giản đơn nhất; cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc đòi hỏi người lao động đã qua học nghề, đào tạo nghề theo quy định tại khoản 2 Điều này Người lao động đã qua học nghề, đào tạo nghề được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 141/2017/NĐ-CP
Các doanh nghiệp trên các địa bàn khác nhau sẽ phải tuân thủ theo mức lương tối thiểu đã được quy định trên địa bàn mà doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh, đối với doanh nghiệp có nhiều trụ sở, chi nhánh đặt trên các địa bàn khác nhau thì cũng phải tuân thủ theo mức lương tối thiểu nơi đặt trụ sở, chi nhánh, doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp, khu chế xuất nằm trên các địa bàn có mức lương tối thiểu vùng khác nhau hoặc doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn được thành lập mới từ một địa bàn hoặc nhiều địa bàn
có mức lương tối thiểu vùng khác nhau thì áp dụng mức lương tối thiểu vùng theo địa bàn có mức lương tối thiểu vùng cao nhất Trường hợp doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn là thành phố trực thuộc tỉnh được thành lập mới từ một địa bàn hoặc nhiều địa bàn thuộc vùng IV thì áp dụng mức lương tối thiểu vùng quy định đối với địa bàn thành phố trực thuộc tỉnh còn lại tại Mục 3, Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 141/2017/NĐ-CP Đối với doanh nghiệp hoạt
5 Bộ Luật lao động 2012 - khoản 1,2 Điều 91
Trang 7động trên địa bàn có sự thay đổi tên hoặc chia tách thì tạm thời áp dụng mức lương tối thiểu vùng quy định đối với địa bàn trước khi thay đổi tên hoặc chia tách cho đến khi Chính phủ có quy định mới
Nghị định 141/2017/NĐ-CP đã thay thế cho Nghị định 153/2016/NĐ-CP
có một vài điểm mới như: từ ngày 1/1/2018, lương tối thiểu vùng sẽ được điều chỉnh tăng thêm từ 180.000 – 230.000 đồng tại 4 vùng lương
- Tăng mức lương tổi thiểu vùng: Tăng 6,5% so với Lương tối thiểu vùng năm 2017 (Tăng từ 180 đến 230 nghìn đồng)
- Nghị định 141 cũng điều chỉnh phân vùng đối với một số huyện, thị xã như sau:
- Đưa thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai từ vùng II lên vùng I;
- Đưa các huyện Thống nhất thuộc tỉnh Đồng Nai, Huyện Thủ Thừa tỉnh Long An, Thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam từ vùng III lên vùng II
“Mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp được quy định như sau:
- Mức 3.980.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I
- Mức 3.530.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng II
- Mức 3.090.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III
- Mức 2.760.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng IV
Địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu vùng được quy định theo đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh Danh mục địa bàn
áp dụng mức lương tối thiểu thuộc vùng I, vùng II, vùng III và vùng IV được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này”6 Địa bàn thuộc vùng I, vùng II, vùng III và vùng IV được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 141/2017/NĐ-CP
1.2 Tổ chức triển khai thực hiện mức lương tối thiểu vùng
Sau khi khi Chính phủ công bố các quy định của luật về mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động trước thời hạn áp dụng là 2-3 tháng thì cơ quan có thẩm quyền về lĩnh vực này là Tổng liên đoàn lao động sẽ ban hành văn bản đề nghị các các Liên đoàn lao động (LĐLĐ) trực thuộc thực hiện vai trò đại diện cho người lao động bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động
“LĐLĐ Thành phố yêu cầu các cấp Công đoàn Thủ đô khẩn trương tổ chức tuyên truyền các nội dung của Nghị định số 141/2017/NĐ-CP, về mức lương
6 Điều 3 Nghị định 141/2017/NĐ-CP về việc quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động
Trang 8tối thiểu vùng tới công nhân viên chức lao động (CNVCLĐ), Người sử dụng lao động (NSDLĐ) và các cấp Công đoàn thành phố
LĐLĐ các quận, huyện, thị xã, Công đoàn ngành, Công đoàn cấp trên cơ
sở cần chỉ đạo các CĐCS trực thuộc chủ động phối hợp với người sử dụng lao động (NSDLĐ) trong doanh nghiệp xây dựng phương án điều chỉnh tiền lương tối thiểu vùng theo đúng quy định tại Nghị định số 141/2017/NĐ-CP trong đó, lưu ý khi thực hiện mức lương tối thiểu vùng quy định tại Nghị định này, doanh nghiệp không được xóa bỏ hoặc cắt giảm các chế độ tiền lương khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại và các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao động
Các Công đoàn cơ sở (CĐCS) cần phối hợp với chủ doanh nghiệp thông báo công khai kế hoạch nâng lương của doanh nghiệp cho CNLĐ biết trước để yên tâm lao động sản xuất đồng thời thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình, diễn biến tư tưởng của CNLĐ và tổng hợp các ý kiến, kiến nghị, đề xuất của đoàn viên, CNLĐ để trao đổi với NSDLĐ, bàn bạc thống nhất không để CNLĐ bức xúc d n đến ngừng việc tập thể, lãn công tự phát
Cùng đó, LĐLĐ Thành phố chỉ đạo các cấp công đoàn cần quan tâm, động viên kịp thời những CNLĐ có hoàn cảnh khó khăn, mắc bệnh hiểm nghèo; những CNLĐ bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; đặc biệt tổ chức tốt các hoạt động chăm lo Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018 cho công nhân lao động Công đoàn các cấp cũng cần đẩy mạnh công tác giám sát việc thực hiện Nghị định 141/2017/NĐ-CP và pháp luật về tiền lương tại doanh nghiệp; phối hợp với cơ quan chức năng trên địa bàn tham gia thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật lao động, Công đoàn, BHXH, trong đó chú trọng việc thanh toán tiền lương, tiền thưởng tại các đơn vị, doanh nghiệp
LĐLĐ Thành phố yêu cầu các cấp Công đoàn Thủ đô tập trung triển khai thực hiện các nội dung trên, trước khi Nghị định số 141/2017/NĐ-CP có hiệu lực thi hành và báo cáo kết quả về Liên đoàn Lao động Thành phố trước ngày 20/01/2018 (qua ban Chính sách Pháp luật)”7
Đồng thời các sở Lao động- thương binh và xã hội sẽ phối hợp với các phòng,doanh nghiệp và các hiệp hội triển khai thực thực nhằm xử lý các vấn đề vướng mắt liên quan đến tiền lương tối thiểu
2 Thực tiễn thực hiện các chính sách về mức lương tối thiểu vùng
2.1 Phương hướng nâng mức lương tối thiểu vùng trong năm từ
2018-2030
Ban chấp hành Trung Ương đã ban hành “Nghị quyết 27-NQ/TW 2018 về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng
vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp” như sau:
7
http://laodongthudo.vn/trien-khai-thuc-hien-nghi-dinh-cua-chinh-phu-ve-luong-toi-thieu-vung-nam-2018-66 663.html (truy cập ngày 11/8/1018)
Trang 9Xây dựng hệ thống chính sách tiền lương quốc gia một cách khoa học, minh bạch, phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập quốc tế, xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ; tạo động lực giải phóng sức sản xuất, nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực; góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phòng, chống tham nhũng, lãng phí; bảo đảm đời sống của người hưởng lương và gia đình người hưởng lương, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Với các mục tiêu cụ thể đối với khu vực doanh nghiệp:
Từ năm 2018 đến năm 2020
Thực hiện điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu vùng phù hợp tình hình phát triển kinh tế - xã hội, khả năng chi trả của doanh nghiệp để đến năm 2020 mức lương tối thiểu bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ Thực hiện thí điểm quản lý lao động, tiền lương đối với doanh nghiệp nhà nước theo các nội dung của Đề án cải cách chính sách tiền lương được phê duyệt
Từ năm 2021 đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030
Từ năm 2021, Nhà nước định kỳ điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng trên
cơ sở khuyến nghị của Hội đồng Tiền lương quốc gia Các doanh nghiệp được thực hiện chính sách tiền lương trên cơ sở thương lượng, thoả thuận giữa người
sử dụng lao động với người lao động và đại diện tập thể người lao động; Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào chính sách tiền lương của doanh nghiệp Thực hiện quản lý lao động, tiền lương trong doanh nghiệp nhà nước theo phương thức khoán chi phí tiền lương gắn với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đến năm 2025 và tiến tới giao khoán nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vào năm 2030
2.2 Thực hiện điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng năm 2019
Ngày 9/7/2018, tại phiên họp thứ nhất của Hội đồng Tiền lương Quốc gia (HĐTLQG) diễn ra vừa qua, trong khi Tổng LĐLĐVN đề xuất mức tăng lương tối thiểu (LTT) vùng năm 2019 là 8% (từ 220.000 - 330.000 đồng theo từng vùng), đại diện giới sử dụng lao động là Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đề xuất không tăng; còn Bộ phận kỹ thuật HĐTLQG đưa ra các phương án: Tăng 6,1% (từ 180.000 - 230.000 đồng theo từng vùng) và 5,2% (từ 130.000 - 190.000 đồng) Qua các con số nêu trên có thể thấy sự khác biệt khá rõ qua cách tính mức lương tối thiểu của các cơ quan có thẩm quyền Cũng như các năm trước đây, khi xem xét để đề xuất mức tiền Lương tối thiểu (LTT), các bên đều phải căn cứ vào: Nhu cầu sống tối thiểu của Người lao động (NLĐ); điều kiện kinh tế - xã hội và mức tiền lương trên thị trường lao động Trong bối cảnh Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã thông qua Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 19.5.2018 về cải cách chính sách tiền lương đối với công chức viên chức, lực lượng vũ trang và NLĐ
Trang 10trong doanh nghiệp Nghị quyết chỉ rõ: “Thực hiện điều chỉnh tăng mức LTT vùng phù hợp tình hình phát triển kinh tế - xã hội, khả năng chi trả của DN để đến năm 2020 mức LTT bảo đảm mức sống tối thiểu của NLĐ và gia đình họ” Như vậy, lộ trình để LTT đáp ứng mức sống tối thiểu đã được xác định cùng một lộ trình kết thúc vào năm 2020 nhưng đề xuất mức tăng LTT năm 2019 của Tổng LĐLĐVN, Bộ phận kỹ thuật HĐTLQG có sự chênh lệch là do số liệu tính toán mức sống tối thiểu của Bộ phận kỹ thuật HĐTLQG thấp hơn khá nhiều so với tính toán của Tổng LĐLĐVN (khoảng gần 230.000 đồng) nên d n đến có sự chênh lệch về đề xuất như vậy (8% và 6,1%)
Tổng LĐLĐVN và Bộ phận kỹ thuật HĐTLQG cơ bản thống nhất sử dụng phương pháp và các căn cứ dựa vào nhu cầu tiêu dùng tối thiểu để xác định mức sống tối thiểu của NLĐ và gia đình họ Nhu cầu tiêu dùng tối thiểu của NLĐ bao gồm nhu cầu lương thực, thực phẩm (bảo đảm dinh dưỡng 2.300 kCal/ngày/người); nhu cầu phi lương thực, thực phẩm (như giáo dục, y tế, văn hóa, năng lượng, chất đốt, đi lại) và nhu cầu nuôi con (bằng 70% nhu cầu tối thiểu của NLĐ) Sự khác biệt về mức sống tối thiểu do hai bên tính toán chủ yếu do sự lựa chọn khác nhau về tỉ lệ giữa chi phí lương thực, thực phẩm với chi phí phi lương thực, thực phẩm Theo đó, Bộ phận kỹ thuật HĐTLQG đề xuất chọn tỉ lệ chi phí lương thực, thực phẩm chiếm 48% (phi lương thực, thực phẩm 52%); còn Tổng LĐLĐVN đề xuất cơ cấu nhu cầu lương thực, thực phẩm chỉ chiếm 45% (phi lương thực, thực phẩm là 55%) Việc xác định tỉ lệ giữa chi phí lương thực và phi lương thực là một sự băn khoăn và chưa tạo được sự thống nhất đối với các cơ quan chức năng
Ngày 26/7/2018, phiên họp thứ hai của Hội đồng Tiền lương Quốc gia (HĐTLQG) về phương án tiền lương tối thiểu vùng năm 2019 đã kết thúc mà chưa tìm được tiếng nói chung HĐTLQG dự định sẽ tổ chức phiên họp lần thứ
ba vào tháng 8 tới
“Tại phiên họp, ông Mai Đức Chính - Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐVN, Phó Chủ tịch HĐTLQG - nêu quan điểm, căn cứ vào Nghị quyết số 27, lộ trình để LTT đáp ứng mức sống tối thiểu còn 2 năm nữa Hiện mức LTT vùng đã đáp ứng được 92% mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ Như vậy, khi chỉ còn 2 năm nữa để bảo đảm mức tăng 8%, chia ra mỗi năm (2019, 2020)
là 4%
Ngoài ra, việc điều chỉnh LTT phải phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế cả nước 6 tháng đầu năm (đạt 7,08%, mức cao nhất trong 7 năm qua), chỉ số lạm phát CPI cả năm dự kiến tăng 4% Như vậy, cộng với chỉ số lạm phát (khoảng 4%), ít nhất năm 2019 phải tăng LTT vùng ở mức 8%
Trong khi đó, theo bà Tống Thị Minh - Cục trưởng Cục Quan hệ lao động
và Tiền lương (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), tại phiên đàm phán thứ hai, Bộ phận Kỹ thuật đưa ra những căn cứ như mức sống tối thiểu tính toán trên nguyên tắc nào, cập nhật giá cả ra sao, mô hình chi tiêu, dinh dưỡng, mức sống tối thiểu…