Các phóng xạ ion hóa có thể phản ứng với nước và gây nên tổn thương ngay lập tức cho sinh vật, một quá trình được gọi là sự phân ly do phóng xạ.. II.1 DPPHƯu điểm, han chế và tính ổn địn
Trang 1PHƯƠNG PHÁP ĐO CÁC GỐC OXI HÓA TỰ DO
TRONG HỆ THỐNG SINH HỌC
Trương đai hoc sư pham ky thu t tp.hcm â
Khoa đi n – đi n tư ê ê
B môn : SINH HỌC ĐẠI CƯƠNG ô
Trang 3Dương Thanh Toàn
16129073
Pham Thị Diễm My 16129039
Trang 4I Gốc tự do
Trang 6I.2 Nguyên nhân
Các gốc tự do luôn được hình thành từ nhiều con đường khác nhau, được chia thành 2 loại: nội sinh và ngoại sinh
Nội sinh :
- Từ chuỗi chuyền điện tử trong ty thể (các phản ứng phosphoryl oxy hóa của mitochondria): superoxide anion (O2●), peroxynitrate (ONO-), hydrogen peroxide (H2O2), gốc hydroxyl (●OH)
- Từ hoạt động hô hấp của leucocyte, gốc tự do hình thành để giết vi khuẩn
- Từ quá trình tự chết của tế bào (apoptosis): bằng in vitro, người ta thấy chất oxy hóa nội sinh AXO có thể ngăn trở apoptosis
Ngoại sinh (phát sinh do các tác động từ môi trường sống):
Các yếu tố môi trường tác động sinh ra gốc tự do: có rất nhiều như tia tử ngoại (UV), các loại bụi kim loại, khói thuốc lá, bụi, khói công nghiệp (khói thải từ nhà máy, xe,…), thuốc trừ sâu, các chất phụ gia, chất bảo quản thực phẩm, thức ăn nước uống có chứa nấm mốc, độc tố vi khuẩn, các chất phóng xạ, các hành vi, thói quen cá nhân như hút
thuốc, uống rượu, ăn uống nhiều loại đồ ăn sinh axit, v.v…
Trang 7I.3 Cấu trúc
Phân tử gồm một số nguyên tử dính với nhau do tác dụng của các cặp đôi điện tử (electron) Vì một lý do nào đó, một điện tử
bị tách rời khỏi nhóm nên phân tử có số điện tử lẻ và khi đó được coi là một gốc tự do
Trang 10I.6.1 ROS ngoại sinh
ROS ngoại sinh có thể được tạo ra từ chất ô nhiễm, thuốc lá, khói bụi, các chất độc hóa học hoặc phóng xạ
Các phóng xạ ion hóa có thể phản ứng với nước và gây nên tổn thương ngay lập tức cho sinh vật, một quá trình được gọi là sự phân ly do phóng xạ Vì nước chiếm tới 55-60% cơ thể nên khả năng xảy ra sự phân ly do phóng xạ là rất cao trong trường hợp có sự hiện diện của các phóng xạ ion hóa Trong quá trình này, nước bị mất một electron và trở nên rất hoạt động
Trang 11I.6.1 ROS nôi sinh
ROS nội bào được sản xuất từ nhiều nguồn khác nhau, các nguồn chính gồm có ti thể, peroxisome,
hệ võng nội bào và phức hợp NADPH oxidase (NOX) ở màng tế bào
Trang 12I.7 Vai trò của ROS
Không chỉ liên quan đến sự chết theo chương trình của tế bào mà còn tạo ra các kháng thể trong cơ thể và khởi động các bơm ion Điều này làm ROS trở thành 1 chất kiểm soát chức năng của
tế bào Đặc biệt, các tiểu cầu tham gia vào việc làm lành vết thương và duy trì cân bằng của máu tiết ra ROS để tạo thêm các tiểu cầu mới tại vị trí vết thương Chúng cũng nói lên sự liên quan đến các đáp ứng miễn dịch thông qua việc tạo mới thêm các bạch cầu
Trang 13I.7 Vai trò của ROS
ROS cũng liên quan đến các hoạt động của tế bào trước mỗi đáp ứng viêm khác nhau
Trang 14II Phương pháp xác định hoat tính chống oxi hóa
• Phương pháp thử hoạt tính ức chế gốc tự do DPPH
• Phương pháp thu hoạt tính ức chế gốc tự do NO
• Phương pháp đo MDA
Trang 15II.1 DPPH
Nguyên tắc:
Các chất có khả năng kháng oxy hoá sẽ trung hoà gốc DPPH bằng cách cho hydrogen, làm giảm
độ hấp thụ tại bước sóng cự đại và màu của dung dịnh phản ứng sẽ nhạt dần, chuyển từ tím sang vàng nhạt
Phương trình phản ứng :
Trang 16II.1 DPPH
Ưu điểm, han chế và tính ổn định
của phương pháp DPPH
Ưu điểm :
• DPPH được phép phản ứng với toàn bộ mẫu và đủ thời gian nhất định trong phương
pháp này cho phép DPPH để phản ứng chậm ngay cả với chất chống oxy hóa yếu DPPH có thể được sử dụng trong các dung môi hữu cơ và dung dịch nước không phân cực và
có thể được sử dụng để kiểm tra cả hai chất chống oxy hóa ưa nước và ưa mỡ
• Có độ chính xác cao , dễ dàng và kinh tế
Hạn chế
• Do DPPH tương tác cơ bản với các gốc khác và đường cong đáp ứng thời gian
• Phương pháp DPPH có những hạn chế trong việc phản ánh các phân vùng của
chất chống oxy hóa trong các hệ thống nhũ tương và không phải là hữu ích để
đo lường các hoạt động chống oxy hóa của huyết tươngDPPH là nhạy cảm với một số căn cứ Lewis và các loại dung môi cũng như oxy
• Độ hấp thụ của DPPH trong methanol và acetone giảm dưới ánh sáng
Trang 17II.2 Ức chế gốc tự do NO
Hóa chất – dụng cụ:
Dung dịch natri nitroprussid 10 mM: pha trong đệm phosphat pH 7.4 (20 mM) trước khi tiến hành thí nghiệm và được bảo quản trong chai tối màu.
Thuốc thử Greiss :bao gồm 2 dung dịch A và B:
+ Dung dịch A: sulfanilamide 2% trong acid phosphoric (H3PO4) 4%.
+ Dung dịch B: N-(1-napthyl)-ethylendiamin 0.2% trong nước cất.
Hai dung dịch này được trộn với cùng tỉ lệ thể tích trước khi thí nghiệm.
Quercetin và các hợp chất thử nghiệm được cô lập từ hoa cúc trắng, độ tinh khiết của các chất này được xác định theo phương pháp HPLC.
Máy UV-Vis.
Trang 18Khả năng ức chế gốc tự do NO được xác định dựa trên phần trăm ức chế I (%) Từ đó, ta tính được giá trị IC50, đại lượng đánh giá khả năng ức chế mạnh hay yếu của các hoạt chất, IC50 (Inhibitory concentration) được định nghĩa là nồng độ của một mẫu mà tại đó nó có thể ức chế được 50% gốc tự do NO Để có cơ sở đánh giá hoạt tính của những mẫu chất khảo sát, chúng ta sử dụng quercetin và acid caffeic làm chất đối chứng để so sánh, vì đây là những chất có hoạt tính mạnh đối với gốc tự do NO được sử dụng làm chất đối chứng trong các tài liệu tham khảo.
Cơ sở phương pháp
Trang 19II.3 Do MDA
MDA (Malonyl dialdehyde) là sản phẩm cuối cùng của quá trình peroxy hóa lipid màng tế bào nên
được áp dụng rộng rãi trong thực tế để nghiên cứu quá trình peroxy hóa lipid của màng tế bào Nguyên tắc MDA được sinh ra trong quá trình peroxy hóa lipid màng tế bào, khi cho phản ứng với acid
thiobarbituric, một phân tử MDA phản ứng với hai phân tử acid thiobarbituric tạo phức màu hồng hấp thu cực đại ở bước sóng 532 nm, phản ứng được thực hiện ở môi trường pH bằng 2-3, nhiệt độ là 90-100 độ C trong thời gian từ 10 đến 15 phút Dựa trên sự giảm cường độ hấp thu của phức ta tính được khả năng kháng oxy hóa của chất cần nghiên cứu
Phương trình phản ứng :
Trang 20III Các phương pháp xác định g ốc tự do
• Phương pháp xác định trực tiếp
• Các phương pháp dấu vân tay
• Đo các tổn thương của AND
Trang 21III.1.1 ESR và bẫy Spin
Quang phổ cộng hưởng ESR là kỹ thuật duy nhất xác định các gốc tự do, còn gọi là cộng hưởng thuận từ electron (ESP) ESR đặc hiệu với các gốc tự do vì phương pháp này phát hiện sự có mặt của các electron độc thân
Bẫy spin :
DVPO (5,5-DimethVipyrroline-Noxide)
PBN ( [alpha]-phenyl-t-butyl nitrone)
Trang 22III.1.2 Phát hiên gốc hydroxyl
3.1.2.1- Hydroxyl hóa các hợp chất thơm
Sản phẩm ban đầu của sự tấn công OH’ trên các hợp chất thơm là các gốc tự do và cuối cùng tạo ra các sản phẩm hydroxyl hóa Phản ứng hydroxyl hóa các “hợp chất thơm” đã được sử dụng để phát hiện OH’ bằng cách đo các sản phẩm hydroxyl tạo thành Chúng có thể được đo bằng các thiết bị đo màu, nhưng các phản ứng tạo màu thường không thể phát hiện tất cả các dạng đồng phân hydroxyl và do đó là phương pháp bán định lượng
Phương pháp sắc ký khí (GC)
Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC)
Trang 23III.1.2 Phát hiên gốc hydroxyl
3.1.2.2- Phương pháp deoxyribose
Sự tấn công của OH’ vào phần tử dương 2-deoxyribose tạo ra rất nhiều sản phẩm khác nhau Một số mảnh sản phẩm khi bị đun nóng ở nhiệt độ cao sẽ bị phân hủy tạo thành dạng
Trang 24III.1.3Phát hiên gốc Superoxide
Ngoài bẫy spin, DMPO kết hợp với ESR là một phương pháp phát hiện Oxi hiệu quả (mục 2.1.1), các bẫy spin khác cũng được sử dụng Những chất phát hiện có khả năng huỳnh quang như lucigenin được sử dụng rộng rãi để phát hiện sự tạo thành *cr2 bởi các thực bào, nhưng dễ tạo ra sự giả mạo
Thông thường, *cr2 được phát hiện bởi khả năng khử cytochrome c hoặc nitrobirtue tetretojium (NBT) Về mặt hóa học, phản ứng khử cytochrome c đơn giản hơn phản ứng khử NBT
Tuy nhiên, nhiều chất khác cũng có thể khử cytochrom c (đặc biệt ascorbate và các thiol) cản trở việc phát hiện O2 Khắc phục bằng việc sử dụng một điện cực *O~2 để đo sự khử cytochrom c Thông thường thêm SOD để thấy
dự khử gián tiếp của *O~2 Sự khử NBT diễn ra phức tạp hơn, và *O~2 có thể được sinh ra trong quá trình khử Do vậy, việc thêm NBT vào một hệ sinh học không tạo ra *O~2 nhưng có thể khử NBT có thể tạo ra sự phát sinh *O~2 Một số phương pháp dễ phát hiện *O~2 trong mô: ví dụ làm ngập mô với muối tetrazolium có thể dẫn tới tạo kết tủa formazan quan sát được dưới kính hiển vi tại vị trí mô sinh ra *O~2
Trang 25III.1.4Phát hiên nitric oxide NO’
Trang 26III.1.5 Phát hiên peroxynito (ONOO)
Oxy hóa thuốc nhuộm dihydroergotamine (DHE):
Trang 27III.1.5 Phát hiên peroxynito (ONOO)
Phương pháp nitro hóa :
ONOO nitro hóa rất nhiều các hợp chất thơm gồm các acid amin tyrosin, triptophan và phenylalanin, trong đó chú ý đến tyrosin Quá trình nitro hóa phụ thuộc ONOO được thúc đẩy bằng cách thêm ion Fe(III) hoặc Cu2+ và một
số metalloprotein, gồm CuZnSOD, MnSOD Sự nitro hóa các tyrosin có thể được đo bằng phương pháp quang phổ (3nitrotyrosin có màu vàng ở pH kiềm) Các phương pháp sắc ký khí, phổ khối, HPLC với phổ hấp thụ hoặc detector điện hóa cũng đã được sử dụng
Trang 28III.1.6Phát hiên dạng clor hóa (UOC)
Phương pháp taurine: dựa trên sự biến đổi laurine thành taurme chloramine
Taurin chloramin giống HOC1 oxy hóa acid lhinitrobenzoic có màu vàng thành sản phẩm không màu 5,5-dithiobise
(2-nitrobenzoic acid) (DNTR, thuốc thử Ellmun) Quá trình clo hóa monohchlodimedon thành dichlodomedon, với sự mất hấp thụ là 290nm, đã được sủ dụng để đo sự tạo thành HOC1 bởi myeloperoxidase Vì nói chung HOC1 phản ứng với nhiều các phân tử sinh học, nên nói chung các phép định lượng này không hữu ích để đo sự tạo thành của nó trong cơ thể HOC1 clor hóa tyrosin ở dạng tự do hoặc trong protein tạo thành sản phẩm 3-elorotyrosin, sản phẩm này được coi là chất đánh dấu sinh học của sự sinh ra HOC1 Tuy nhiên, NQ2C1 cũng có thể clor hóa lyrosin tạo thành các sản phẩm nitrat hóa và clor hóa,
do đó hữu ích trong việc phân biệt tác dụng của ONOO (nitro hóa), HOC1(clor hóa) và NO2C1 (cả hai loại phản ứng).
Trang 29III.1.7 Phát hiên hydrogen peroxid (H2O2)
Phương pháp được sử dụng phổ biến nhất là sử dụng sự oxy hóa phụ thuộc của spocolectin bởi horseradish peroxidase tạo thành sản phẩm không phát huỳnh quang Đo sự mất huỳnh quang của scopeletin là 460nm Đôi khi
sử dụng các cơ chất khác của peroxidase ( ví dụ sự biến đổi guaicol thành một chất có màu nâu) Superoxide có thể làm giảm hoạt tính của peroxidase và có thể ảnh hưởng đến phép đo H2O2 trong các hộ sinh ra O2 Điều này có thể tránh được bằng cách thêm vSOD
Trang 30III.2 Các phương pháp dấu vân tay
ROS và RNS phản ứng theo những cách riêng với ADN, protein, lipid và một số chất chống oxy hoá khối lượng phần tử thấp( ví dụ ascorbic, urat) Do đó các sản phẩm tạo thành được coi như những ‘dấu vân tay’ của sự tấn công oxy hoá.Các phương pháp này không do các dạng hoạt động ROS/RNS mà do các sản phẩm của sự tổn thương oxy hoá gây bởi ROS/RNS
và các sảnphẩm này phải là các chất đánh dấu đặc trưng của sự tổn thương do oxy hoá Và phải đảm bảo chắc chắn rằng các sản phẩm được xác định chỉ do sự tấn công oxy hoá chứ không phải được tạo ra bởi các quá trình sinh học thông
thường
Trang 31III.2 Các phương pháp dấu vân tay
3.2.1 Đo quá trình peroxyd hóa lipid (POL)
Quá trình peroxyd hoá các lipid màng, các lipoprotein hoặc các acid béo chưa no do sự tấn công của các gốc tự do tạo ra các sản phẩm cuối Mỗi kỹ thuật đo một sản phẩm của quá trình POL và không một kỹ thuật nào đo được chính xác toàn bộ quá trình POL Dưới đây là một số phương pháp đo các sản phẩm của quá trình POL
Trang 32III.2 Các phương pháp dấu vân tay
3.2.1.1Đo sự mất các acid béo chưa no
Trang 33III.2 Các phương pháp dấu vân tay
3.2.1.2 Đo sự hấp thụ UV cấu trúc điện liên hợp với sự sắp xếp liên kết đôi- đơn- đôi
Trang 34III.2 Các phương pháp dấu vân tay
3.2.1.3Đo các khí hydrocarbon
Trang 35III.2 Các phương pháp dấu vân tay
3.2.1.4- Do các isoprostan (isoPs)
Các mô dộng vật và các dịch cơ thể (gồm cả nước tiểu) chứa một lượng nhỏ các F2- Tsopiostan
Trang 36III.2 Các phương pháp dấu vân tay
3.2.1.5 Đo các aldehyd khác ngoài MDA
Có rất nhiều sản phẩm cuối của quá trình peroxvd hóa lipid ngoài cácisoprotane, các peroxyd, các khí hydrocarhon và MDA Các aldehyd có thể phản ứng với dinilrophenylhydrazin cho sản phẩm là các dinitrophenylhydrazon, chất có thể được tách bằng HPLC Hoặc, chúng cũng cố thể bị biến đổi thành các sản phẩm dể bay hơi có thể được tách bằng GC vàđược xác định bời MS Các aldehyd hoạt động bị chuyển hoá bởi các tế bào Khi sinh ra trong tế bào chúng nhanh
chóng liên kết với các protein mà GC-MS không tách được các phức hợp đã liên kết với protein này Do đó, các phương pháp dựa vào kháng thể đổ phát hiện các phức hợp
Trang 37III.2 Các phương pháp dấu vân tay
Trang 38III.2 Các phương pháp dấu vân tay
3.2.2 Đo các tổn thương của ADN
Sự tổn thương ADN do oxy hoá gây đứt mạch ADN, tổn thương đường deoxyribose và gâv biến đổi các base purin và pyrimidin tạo ra nhiều sản phẩm 8- hydroxydeoxyguanosin (8-OHdG) là sản phẩm được coi như là chất chỉ thị của sự tổn thương ADN do oxy hoá Do đó một phương pháp để định
lượng sự tổn thương ADN do oxy hoá là định lượng trực tiếp 01 IdG trong ADN Trước tiên giải phóng OHdG từ ADN bằng cách thuỷ phân bằng enzym, sau đó định lượng 8-OHdCr bằng phương pháp HPLC kết hợp với detector điện hoá (ECD), đây là một kỹ thuật rất nhạy thường hay được sử dụng.
8-3.2.2.1 Định lượng trực tiếp 8-hydroxydeoxyguanosin trong AON bằng HPLC
Trang 39III.2 Các phương pháp dấu vân tay
3.2.2 Đo các tổn thương của ADN
Đánh giá sự tổn thương base do oxy hoá Sau khi phân giải các tế bào, cho tiếp xúc với các enzym phục hồi ADN ADN bị phá vỡ tại các vị trí base biến đổi, tạo ra nhiều đoạn hơn Phương pháp này có thể kết hợp với phương pháp khác để đo lường mức độ phá vỡ ADN Gồm đánh dấu đồng vị 31P trên các
nucleotid ở một ADN đã thuỷ phân, bằng enzym, sau đó tách bang sắc kỷ và phát hiện bàng cách do bức
xạ, sử dụng kháng thể trực tiếp kháng lại 8-OHdG hoặc các tổn thương khác Nhuộm màu kháng thể kháng lại 8-OHdG có thể ứng dụng cho toàn bộ ADN hoặc kháng thể có thể đưa vào các cột để loại hết 8- OHdG từ sự thuỷ phân ADN hoặc từ nước tiểu.
3.2.2.2 Phương pháp điện ly gel đơn tế bào phương pháp comet, phương pháp "sao chổi')
Trang 40III.2 Các phương pháp dấu vân tay
3.2.2 Đo các tổn thương của ADN
Các aldehyd độc tế bào dược tạo ra trong quá trình peroxvd hoá lipid và cũng có nhiều trong môi trường Nếu gặp ADN, aldehyd có thể liên kết với các base của ADN Đo các sản phẩm này bằng phương pháp GC-MS hoặc HPLC/ECD sau khi thuỷ phân ADN bằng acid hoặc các thử nghiệm miễn dịch
3.2.2.3 Do các hợp chất gốc aldehyde kết hợp với ADN
Trang 41III.2 Các phương pháp dấu vân tay
3.2.2 Đo các tổn thương của ADN
3.2.2.4 Đo các tổn thương của protein
Một phương pháp phổ biến đánh giá sự tổn thương protein do oxy hoá là phương pháp carbonyl được sử đụng rộng rãi Dựa trên sự tấn công của một số ROS vào các gốc amino acid trong các
protein đặc biệt histidin, arginine, lysin và prolin) để tạo ra các sản phẩm cố chứa các nhóm carbonyl, các sản phẩm này có thể được đo sau phản ứng với 2,4- dinitrophenylhydrazine tạo sản phẩm hấp thụ ở bước sóng 360-390 nm
Trang 42Hãy chống lai gốc tự do
Hãy chống lai gốc tự do