A. MỞ ĐẦU 1 B. NỘI DUNG 1 I. Một số vấn đề chung về hoạt động đối chất 1 1. Khái niệm 1 2. Đặc điểm đối chất 2 3. Thẩm quyền tiến hành đối chất 2 4. Mục đích của hoạt động đối chất 2 II. Chiến thuật đối chất 2 1. Chuẩn bị đối chất 2 2. Tiến hành đối chất 3 3. Kết thúc đối chất 5 III. Đánh giá và sử dụng kết quả đối chất 5 1. Đánh giá kết quả đối chất 5 2. Sử dụng kết quả đối chất 9 IV. Một số khó khăn trong hoạt động đánh giá và sử dụng kết quả đối chất 12 C. KẾT LUẬN 14
Trang 1ĐỀ TÀI: Đánh giá và sử dụng kết quả đối chất
A MỞ ĐẦU
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, mọi tội phạm phải được đấu tranh và ngăn ngừa Chính vì thế, hoạt động đấu tranh với tội phạm, tìm ra sự thật khách quan của vụ án là nhiệm vụ của các cơ quan có thẩm quyền Để thực hiện tốt công tác đó, Chiến thuật và phương pháp điều tra vụ án hình sự là hoạt hoạt động nghiệp vụ giữ vai trò quan trọng Cụ thể hóa các chiến thuật và các phương pháp thực hiện các biện pháp điều tra quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, giúp cho Điều tra viên và Kiểm sát viên, người tiến hành tố tụng có thể nhanh chóng tìm ra tội phạm và trừng trị đích đáng Một trong những chiến thuật điều tra quan trọng đó là chiến thuật đối chất Trong đề tài này, sinh viên xin trình bày một số vấn đề liên quan đến việc đánh giá và sử dụng kết quả đối chất
B NỘI DUNG
I Một số vấn đề chung về hoạt động đối chất
1 Khái niệm
Đối chất là một biện pháp điều tra được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự do Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên tiến hành bằng cách hỏi hai hay nhiều người cùng một lúc mà những người này trước đó đã được hỏi cung hay lấy lời khai nhưng nội dung trình bày của họ có mâu thuẫn, không thống nhất với nhau mà đã áp dụng các biện pháp khác không giải quyết được mâu thuẫn nên cần đối chất để tìm ra đâu là lời trình bày, lời khai phù hợp với thực tế khách quan
Trang 22 Đặc điểm đối chất
Các đặc điểm cơ bản của đối chất: Là một biện pháp điều tra được quy định trong tố tụng hình sự; Là một trình tự, thủ tục để Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án tìm kiếm sự thật khách quan khi giải quyết một vụ việc, vụ án nhất định; Hỏi hai hay nhiều người cùng một lúc; Hỏi về cùng một vấn đề hay một tình tiết trong cùng một vụ án mà trước đó lời khai của họ có mâu thuẫn với nhau; Xác định sự thật trước khi đưa ra những quyết định, kết luận và phán quyết…
3 Thẩm quyền tiến hành đối chất
Theo quy định tại khoản g, Điều 37 và khoản i, Điều 42 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì Điều tra viên, Kiểm sát viên có quyền tiến hành đối chất
Cụ thể, theo Điều 189 Bộ luật này quy định “… Điều tra viên tiến hành đối chất” Và “Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể tiến hành đối chất”
4 Mục đích của hoạt động đối chất
Hoạt động đối chất giúp Điều tra viên, Kiểm sát viên giải quyết mâu thuẫn trong lời khai, đảm bảo sự phù hợp với nhau, phù hợp với các chứng cứ khác, phản ánh đúng sự thật khách quan Bên cạnh đó, theo dõi được diễn biến tâm lý của những người tham gia đối chất và khi kết hợp với các chứng cứ khác
đã thu thập sẽ góp phần củng cố niềm tin của Điều tra viên, Kiểm sát viên khi tiến hành tố tụng Ngoài ra, giúp Điều tra viên, Kiểm sát viên có thể đưa ra giả thuyết điều tra, định hướng điều tra để làm rõ sự thật khách quan của vụ việc mang tính hình sự hay vụ án hình sự
II Chiến thuật đối chất
Giống như chiến thuật thực hiện các biện pháp điều tra tố tụng khác, chiến thuật đối chất được thể hiện qua ba giai đoạn: chuẩn bị; tiến hành; kết thúc
1 Chuẩn bị đối chất
Trang 3Trong bất kì mọi lĩnh vực của cuộc sống, trong tố tụng hình sự nói chung
và đặc biệt là hoạt động đối chất nói riêng thì việc chuẩn bị là một khâu không thể thiếu và đóng vai trò vô cùng quan trọng Trước khi tiến hành đối chất, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên và Kiểm tra viên phải nghiên cứu đầy đủ
hồ sơ vụ án, đặc điểm nhân thân và quan hệ giữa những người tham gia đối chất
để làm rõ được những vấn đề như: Mâu thuẫn trong lời khai của những người sẽ tham gia đối chất, đặc điểm nhân thân của họ, những lời khai bị nghi là gian dối
và tài liệu có liên quan…
Phải dò xét lại lời khai của những người sẽ tham gia để xác định lại mâu thuẫn trong lời khai của họ và nguyên nhân của những mâu thuẫn đó, sử dụng mọi biện pháp nghiệp vụ cũng như phương tiện cần thiết để giải quyết mâu thuẫn đó và chỉ khi không giải quyết được thì sẽ tiến hành đối chất
Lập kế hoạch đối chất chính là khâu mang yếu tố quyết định của cả hoạt động đối chất, nội dụng của kế hoạch phải xác định được được mục đích của đối chất như tìm ra những mâu thuẫn cần giải quyết và những lời khai trái sự thật nào cần làm sáng tỏ Phải xác định cụ thể những nội dung cần giải quyết và trình
tự thực hiện nội dung đó
Trong bản kế hoạch cần dự kiến những biện pháp, cách thức xử lý những tình huống xấu có thể xảy ra và lựa chọn được thời gian, địa điểm thích hợp đê tiến hành đối chất; chuẩn bị những tài liệu chứng cứ cần thiết để phục vụ việc đối chất và những yếu tố có thể ảnh hưởng đến cuộc đối chất (quá trình hỏi ucng, lấy lời khai trước đó; yếu tố bất ngờ đảm bảo cho hoạt động đối chất có hiệu quả, nếu không sẽ phản tác dụng; mối quan hệ tâm lý của những người tham gia đối chất; tính thuyết phục của lời khai đúng đối với lời khai gian dối;
…)
2 Tiến hành đối chất
Trước khi tiến hành đối chất, bố trí những người tham gia đối chất vào phòng đối chất Nên cho người có lời khai gian dối vào trước sau đó mới đến
Trang 4người có lời khai đúng vào sau, cả hai người đều quay mặt về phía người chủ trì tiến hành đối chất Đồng thời kiểm tra căn cước lai lịch của những người tham gia đối chất Giải thích quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm về việc khai báo đối với những người tham gia đối chất
Khi tiến hành đối chất cần có ít nhất hai cán bộ tham gia trong đó có một người trực tiếp tiến hành đối chất còn người kia theo dõi những biểu hiện của những người tham gia đối chất Yêu cầu từng người khai báo về những vấn đề, những tình tiết có mâu thuẫn, cần tranh luận Thường nên hỏi những người có lời khai đúng trước Trong một số trường hợp có thể hỏi sau để đánh mạnh vào thái độ của người khai báo không trung thực Sau mỗi lần hỏi người này xong, nghe câu trả lời mới chuyển sang hỏi người kia cũng với câu hỏi đó và nghe trả lời và cứ thế lần lượt từ vấn đề này sang vấn đề khác có mâu thuẫn cần giải quyết Trong suốt quá trình cần giám sát theo dõi các biểu hiện cử chỉ thái độ của những người tham gia đối chất
Trường hợp lười khai mâu thuẫn giữa những người tham gia đối chất là
do nhầm lẫn thì báo trước cho hai người tham gia đối chất biết về nội dung, thời gian, địa điểm tiến hành đối chất Cần tạo và duy trì sự tiếp xúc tâm lý thuận lợi giữa Điều tra viên và những người tham gia đối chất cũng như là giữa những người tham gia dối chất với nhau, khi cần thiết có thể để họ thảo luận những vấn
đề còn mâu thuẫn Đưa ra những câu hỏi kích thích trí nhớ Trường hợp mâu thuẫn lời khai là do một trong hai người tham gia đối chất khai báo gian dối thì cần chuẩn bị cụ thể, chi tiết cuộc đối chất Lập kể hoạch để dự kiến các tình huống phức tạp và đưa ra phương án xử lý Bên cạnh đó cần tạo điều kiện cho người khai đúng sự thật khai báo vạch trần lời khai gian dối của người còn lại Một điểm cần chú ý là không báo trước cho người có lời khai gian dối biết về cuộc đối chất để tạo yếu tố bất ngờ về mặt tâm lý, làm người có lời khai gian dối không có thời gian để chuẩn bị đối phó Trường hợp cả hai người tham gia đối chất đều khai đúng về một số chi tiết, còn một số khác khai mâu thuẫn, sai sự thật thì cần thiết lập, duy trì sự tiếp xúc tâm lý thuận lợi giữa Điều tra viên và
Trang 5nhũng người tham gia đối chất Lựa chọn áp dụng thủ thuật, tác động về xúc cảm phù hợp để kích thích người có lời khai gian dối hối lỗi, thành khẩn khai báo
3 Kết thúc đối chất
Việc đối chất phải được lập thành biên bản để ghi nhận kết quả theo quy định tại Điều 133, 178 Bộ luật tố tụng hình sự Trong quá trình đối chất có thể
áp dụng những phương tiện sao chép hỗ trợ như ghi âm lời khai, quay video Trong quá trình lập biên bản cũng cần phải theo dõi chặt chẽ những người tham gia đối chất, không để họ nói chuyện ngoài tầm kiểm soát và giám sát của người chủ trì
III Đánh giá và sử dụng kết quả đối chất
Để đảm bảo hoạt động đối chất có hiệu quả trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm, sau khi tiến hành đối chất, Điều tra viên và Kiểm sát viên phải đánh giá kết quả thu được và sử dụng nó để chứng minh tội phạm hoặc vào các mục đích khác trong những trường hợp cụ thể
1 Đánh giá kết quả đối chất
Theo quy định tại Điều 108 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì:
“1 Mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án Việc xác định những chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết vụ án hình sự
2 Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được về vụ án”
Có thể thấy, những quy định tại Chương VI: Chứng minh và chứng cứ của
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã thiết lập một quá trình chứng minh trong giải quyết, làm sáng tỏ bất kì vụ án hình sự Trong đó, đánh giá chứng cứ là một giai đoạn quan trọng, làm cơ sở cho việc xác định một chứng cứ vừa thu thập
Trang 6được có đầy đủ ba thuộc tính của chứng cứ và có giá trị chứng minh trong vụ án
đó hay không Hay nói cách khác đánh giá chứng cứ chính là tiền đề cho việc xem xét có hoặc không sử dụng chứng cứ đó vào giải quyết vụ án Những tình tiết được ghi trong biên bản về hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử được lập theo quy định của Bộ luật này
có thể được coi là chứng cứ
Đối với hoạt động đối chất, kết quả của hoạt động này được vật chất hóa trên biên bản đối chất bởi các cơ quan tiến hành tố tụng được lưu giữ trong hồ
sơ vụ án Điều 102 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định Những tình tiết được ghi trong biên bản về hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử được lập theo quy định của Bộ luật này có thể được coi là chứng cứ Theo đó, biên bản đối chất được coi là chứng cứ theo quy định này khi chúng được thiết lập theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm với nội dung mang tính khách quan và liên quan với các nguồn chứng cứ khác
có trong hồ sơ Do vậy, hoạt động đánh giá kết quả đối chất của chủ thể tiến hành tố tụng là việc chủ thể tiến hành đánh giá riêng lẻ đối với kết quả đối chất xem kết biên bản đối chất có đầy đủ ba thuộc tính của cứ hay không và đánh giá toàn diện xem kết quả đối chất có phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ hay không Cụ thể:
Đánh giá riêng đối với kết quả đối chất là việc kiểm tra, xem xét lại tính khách quan, tính hợp pháp và tính liên quan của việc đối chất Theo đó:
Kiểm tra về tính khách quan của việc đối chất Kết quả đối chất muốn trở thành chứng cứ trong vụ án hình sự, trước hết nó phải đáp ứng tính khách quan, bởi theo lý luận về nhận thức thì người ta chỉ nhận thức đúng bản chất của sự vật, xự việc khi nó được phản ánh lại một cách khách quan Tính khách quan của việc đối chất thể hiện ở chỗ đối chất phải được tiến hành trên thực tế, biên bản đối chất phản ánh thành phần những người biết thông tin của vụ án được Điều 189 liệt kê có thể tham gia vào cuộc đối chất, đồng thời phản ánh diễn biến quá trình đối chất, tại đó Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên đã đặt những câu hỏi
Trang 7gì và lời khai của những người tham gia đối chất cho từng câu hỏi Những gì được ghi nhận tại biên bản này phải đúng với sự thật khách quan đã diễn ra nó chứ không phải do tưởng tượng hay do con người áp đặt ý chí vào nó Để đánh giá đúng đắn được tính khách quan của việc đối chất, phải xem xét biên bản đối chất đã ghi nhận đúng đắn, đầy đủ thành phần, diễn biến của quá trình đối chất hay không, đồng thời trong quá trình đối chất, người tham gia đối chất phải trung thực với lời khai của mình, không bị cưỡng ép, đe dọa, sợ hãi – điều này đặt ra yêu cầu chủ thể điều hành cuộc đối chất phải quan sát thái độ, biểu hiện cảm xúc của các bên khi tham gia đối chất để có thể đưa ra kết luận đúng đắn với tính khách quan của đối chất có như vậy thì sau khi xác định được tính khách quan của chứng cứ, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tố tụng mới có thể loại bỏ được những cái không có thật, không sử dụng để giải quyết vụ án bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, đúng đắn
Kiểm tra về tính liên quan của kết quả đối chất Thuộc tính này nói lên mối liên hệ giữa kết quả đối chất với việc giải quyết vụ án hình sự, hay nói cách khách kết quả đối chất được sử dụng làm chứng cứ phải có liên quan đến, làm căn cứ để giải quyết mâu thuẫn trong lời khai – điều kiện tiên quyết để tiến hành đối chất, góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án Đánh giá về thuộc tính này của kết quả đối chất là kiểm tra xem người tham gia thành phần có phù hợp, liên quan đến mục đích làm sáng tỏ mâu thuẫn trong lời khai trước đó hay không, đồng thời kiểm tra kiểm tra các câu hỏi và trả lời của biên bản đối chất xem nội dung đã giải quyết các mâu thuẫn chưa? Những người tham gia đối chất
đã trả lời về những tình tiết cần làm sáng tỏ như thế nào, họ đã trình bày và giải thích về những mâu thuẫn giữa lời khai của họ với lời khai của những người khác, giữa lời khai hiện nay và trước đây như thế nào? Qua trả lời của những người tham gia đối chất thì đã giải quyết được mâu thuẫn chưa, nội dung nào chưa được giải quyết? Những nội dung nào đã được giải quyết hoặc chưa được giải quyết đều phải được kiểm tra, đánh giá Xác định tính liên quan của kết quả
Trang 8đối chất cho phép cơ quan tiến hành tố tụng loại bỏ những thông tin không liên quan – vì chúng không có giá trị chứng minh và giữ lại những thông tin liên quan để làm cơ sở giải quyết vụ án hình sự
Kiểm tra tính hợp pháp của kết quả đối chất là kiểm tra xem hoạt động đối chất có được tiến hành theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hay không, đặc biệt kiểm tra biên bản đối chất được lập theo đúng quy định của Bộ luật này hay không Cụ thể, trong quá trình đánh giá kết quả đối chất, chúng ta phải kiểm tra những người được đối chất đó là ai (bị can, người bị hại, người làm chứng…); trước khi tiến hành đối chất, chủ thể điều hành đã giải thích cho
họ biết về trách nhiệm từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố tình khai báo gian dối chưa? Chủ thể điều hành đã hỏi họ về mối quan hệ giữa những người tham gia đối chất với nhau chưa? Chủ thể điều hành đã đọc lại biên bản đối chất cho những người có mặt nghe chưa? Việc ký vào biên bản như thế nào, có ai sửa chữa, ghi thêm nội dung nào vào biên bản không? Riêng khi kiểm tra về hình thức, phải xem xét biên bản đối chất có được chủ thể tiến hành đối chất thực hiện đúng theo quy định tại Điều 178 BLTTHS năm 2015 không và có đầy đủ chữ ký của những người tham gia đối chất không?
Sau khi đánh giá riêng đối với kết quả đối chất, rút ra nhận định kết quả đối chất là có đẩy đủ 3 thuộc tính của chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì phải tiếp tục tiến hành đánh giá toàn diện đối với các chứng cứ
đã thu thập được Đặt kết quả đối chất trong tổng thể các chứng cứ đã thu thập
để thấy sự mâu thuẫn hay phù hợp Bởi chỉ sử dụng kết quả đối chất là chứng cứ của vụ việc khi các lời khai của mỗi người đưa ra đối chất được các tài liệu chứng cứ khác chứng minh Chính vì vậy mà trên thực tế khi đánh giá kết quả đối chất, sẽ có 2 trường hợp xảy ra như sau:
Trường hợp 1: một hoặc cả hai bên đổi lời khai, đưa ra lời khai mới, mở
ra hướng xác minh mới, giúp cho cơ quan có thẩm quyền hoạch định phương pháp xác minh phù hợp Người có thẩm quyền phải xem xét nội dung lời khai mới để xử lý cho phù hợp, trường hợp cần thiết có thể xác minh lời khai mới đó
Trang 9bằng các biện pháp điều tra hoặc bằng các biện pháp nghiệp vụ, phục vụ cho việc thu thêm tài liệu, chứng cứ mới Những chứng cứ mới thu thập được trong trường hợp này có khả năng loại bỏ 1 phần hoặc toàn bộ mâu thuẫn trong lời khai trước đó của các bên tham gia đối chất
Trường hợp 2: những người đối chất vẫn giữ nguyên lời khai, mâu thuẫn
không được loại bỏ thì thông qua diễn biến toàn bộ cuộc đối chất để tìm hiểu những căn cứ mà mỗi bên đưa ra nhằm bảo vệ lời khai của mình, qua biểu hiện tâm lý mỗi người bộc lộ trong đối chất để nhận định thái độ của từng người Trường hợp này không thể vội đánh giá là đối chất thành công hay thất bại, người tiến hành tố tụng bên cạnh việc quan sát, ghi nhận thái độ của những người tham gia đối chất, nghiên cứu lại biên bản đối chất để xác định nguyên nhân không thay đổi khai báo, từ đó có những biện pháp điều tra tiếp theo phù hợp hoặc ra những quyết định tố tụng cần thiết
Tóm lại, đánh giá kết quả đối chất trong vụ án hình sự, là hoạt động tư duy
của chủ thể tiến hành tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các chủ thể khác có liên quan tiến hành xem xét, kiểm tra kết quả đối chất vừa tiến hành, xem xét giá trị chứng minh của biên bản đối chất có đáp ứng đầy đủ 3 thuộc tính của chứng cứ và xem xét khả năng sử dụng trong việc giải quyết mâu thuẫn lời khai, góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án
2 Sử dụng kết quả đối chất
Kết quả đối chất được thể hiện trong biên bản đối chất do Điều tra viên, Kiểm sát viên lập trong giai đoạn điều tra, truy tố Biên bản đối chất là một nguồn chứng cứ theo Điểm đ Khoản 1 Điều 87 BLTTHS 2015, theo đó biên bản đối chất là biên bản trong hoạt động điều tra, truy tố Vì vậy, kết quả đối chất được sử dụng như một chứng cứ khi đảm bảo được ba thuộc tính của chứng cứ,
đó là tính liên quan, tính hợp pháp và tính khách quan
Tuy nhiên, kết quả đối chất không được sử dụng độc lập trực tiếp giải quyết vụ án mà phải được liên hệ với các chứng cứ, tài liệu khác thông qua việc
Trang 10đối chiếu, so sánh đặt kết quả đối chất vào trong mối tương quan trong hệ thống chứng cứ, tài liệu đã thu thập được Khi đó, có thể xảy ra hai trường hợp cơ bản
Thứ nhất, nếu kết quả đối chất phù hợp với nội dung tài liệu và chứng cứ
khác đã thu thập được Khi đó, kết quả đối chất được sử dụng để củng cố phương hướng giải quyết vụ án của Cơ quan tra trong kết luận điều tra, là cơ sở quan trọng trong bản cáo trạng của Viện kiểm sát để tiến hành buộc tội trước Tòa án, cũng như là một trong những chứng cứ quan trọng để Tòa án xét xử
Thứ hai, nếu kết quả đối chất mâu thuẫn với những chứng cứ, tài liệu
khác Trong trường hợp này phải suy xét lại quá trình đối chất xem có khả năng người tham gia đối chất có bị mua chuộc, uy hiếp từ phía bên kia không, tìm ra nguyên nhân của sự mâu thuẫn và sự mâu thuẫn là toàn bộ hay chỉ mâu thuẫn với một số chứng cứ, tài liệu Bởi lẽ, kết quả đối chất không được sử dụng là chứng cứ duy nhất để giải quyết vụ án, tuy nhiên cũng không bác đi hoàn toàn kết quả đối chất, mà kết quả đó sẽ được sử dụng để vạch ra những hướng đi cụ thể hơn cho quá trình điều tra, chẳng hạn như kết quả đối chất giữa A và B (là hai người tình nghi phạm tội trong một vụ án giết người) cho thấy A là người phạm tội, nhưng những chứng cứ khác có xu hướng cho thấy người phạm tội là
B, đồng thời cho thấy một số tình tiết mâu thuẫn giữa kết quả đối chất với chứng
cứ đã thu thập, như vết đâm trên thi thể nạn nhân cho thấy người thực hiện phải
là người thuận tay trái, trong khi đó A là người thuận tay phải, B mới là người thuận tay trái Trong trường hợp này, không thể sử dụng kết quả đối chất là A phạm tội là chứng cứ để buộc tội A nhưng có thể dựa vào kết quả đối chất đó để vạch ra hướng điều tra cụ thể hơn với A và B, chẳng hạn với A có thể điều tra theo hướng tại sao A lại không bảo vệ được quan điểm của mình, A có bị mua chuộc hay uy hiếp gì từ phía B không,… đối với B có thể lợi dụng sơ hở trong lời khai, hành động (như tình tiết thuận tay trái) và cố gắng tìm ra được bằng chứng cho thấy B đã mua chuộc, uy hiếp,… đối với A
Bên cạnh đó, đối với kết quả đối chất không giải quyết được mâu thuẫn trong lời khai như mục đích ban đầu đặt ra với hoạt động đối chất, kết quả đó vẫn