MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNHTÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1 .Bản chất của tài chính 1.1.1.Khái quát sự ra đời và phát triển của tài chính Tài chính ra đờ
Trang 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 Bản chất của tài chính
1.1.1.Khái quát sự ra đời và phát triển của tài chính
Tài chính ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của nhà nước và nền sản xuất hàng hoá Khi nhà nước ra đời, để duy trì sự hoạt động của mình nhà nước đã dùng quyền lực chính trị dể quy định sự đóng góp của cải của các đơn vị kinh tế và cá nhân cho nhà nước Như vậy sự ra đời của nhà nước đã làm nảy sinh trong xã hội những quan hệ kinh tế mới mà trước đó chưa có Những quan hệ kinh tế này lúc đầu được biểu hiện dưới hình thái hiện vật đó chính là hình thái phôi thai của tài chính Sự ra đời của nền sản xuất hàng hoá và sự phát triển của hình thái giá trị dẫn tới sự xuất hiện của tièn tệ Nhà nước huyđộng sự đóng góp của cải vật chất cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ và các chức năng của nhà nước không chỉ bằng hiện vật mà còn bằng tiền Cùng với sự phát triển của nhà nước và nền sản xuất hàng hoá, tài chính cũng đã phát triển theo quá trình từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, từ quan hệ phân phối hiện vật tới quan hệ phân phối giá trị Hiện nay cộng cụ tài chính có vị trí và chức năng vô cùng quan trọng trong quản lý kinh tế.Ba vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? bán cho ai? Trong mọi nền kinh tế chỉ có thể được giải quyết triệt để thông qua việc lựa chọn có tính toán và sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả tài chính
1.1.2.Khái niệm chung về tài chính
Tài chính ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của nhà nước và nền sản xuất hàng hoá Khi nhà nước ra đời, để duy trì sự hoạt động của mình nhà nước đã dùng quyền lực chính trị dể quy định sự đóng góp của cải của các đơn vị kinh tế và cá nhân cho nhà nước Như vậy sự ra đời của nhà nước đã làm nảy sinh trong xã hội những quan hệ kinh tế mới mà trước đó chưa có Những quan hệ kinh tế này lúc đầu được biểu hiện dưới hình thái hiện vật đó chính là hình thái phôi thai của tài chính Sự ra đời của nền sản xuất hàng hoá và sự phát triển của hình thái giá trị dẫn tới sự xuất hiện của tiền tệ Nhà nước huyđộng sự
Trang 2đóng góp của cải vật chất cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ và các chức năng của nhà nước không chỉ bằng hiện vật mà còn bằng tiền Cùng với sự phát triển của nhà nước và nền sản xuất hàng hoá, tài chính cũng đã phát triển theo quá trình từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, từ quan hệ phân phối hiện vật tới quan hệ phân phối giá trị Hiện nay cộng cụ tài chính có vị trí và chức năng vô cùng quan trọng trong quản lý kinh tế.Ba vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? bán cho ai? Trong mọi nền kinh tế chỉ có thể được giải quyết triệt để thông qua việc lựa chọn có tính toán và sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả tài chính
Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận Nói cách khác, hoạt động tài chính là những quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy động phân phối, sử dụng
và quản lý vốn trong quá trình kinh doanh
Hoạt động tài chính ở doanh nghiệp phải hướng tới các mục tiêu sau:
- Hoạt động tài chính phải giải quyết tốt các mối quan hệ kinh tế thể hiện qua việc thanh toán với các đơn vị có liên quan như ngân hàng, các đơn vị kinh tế khác Mối quan hệ này được cụ thể hoá bằng các chỉ tiêu đánh giá về mặt lượng, mặt chất và thời gian
- Hoạt động tài chính phải đảm bảo nguyên tắc hiệu quả Nguyên tắc này đòi hỏi phải tối đa hoá việc sử dụng các nguốn vốn, nhưng vẫn đảm bả quá trình sản xuất kinh doanh được hoạt động bình thường và mang lại hiệu quả
- Hoạt động tài chính được thực hiện trên cơ sở tôn trọng pháp luật, chấp hành và tuân thủ các chế độ về tài chính tín dụng, nghĩa vụ với Nhà nước, kỷ luật với các đơn vị, tổ chức kinh tế có liên quan
Trang 31.2 Chức năng của tài chính
1.2.1.Chức năng phân phối.
Phân phối là sự phân chia sản phẩm , xác lập các quan hệ tỷ lệ giữa các bộ phận khác nhau của nền tái sản xuất , phân phối xác định tỷ lệ sản phẩm dành cho tiêu dùng và cho tiết kiệm
Vậy phân phối của tài chính là sự phân chia tổng sản phẩm quốc dân (GNP) theo những tỷ lệ và xu hướng nhất định cho tiết kiệm và tiêu dùng nhằm tích tụ, tập trung vốn để đầu tư phát triển kinh tế và thoả mãn các nhu cầu chung của nhà nước, của xã hội và cá nhân
Hình 2: Sơ đồ phân phối tổng sản phẩm quốc dân
Đặc trưng của tài chính là hiệu quả kinh tế, động lực của nó nằm ngay trong quá trình phân phối GNP được phân phối bao nhiêu cho tiêu dùng, bao nhiêu cho tiết kiệm? phần cho tiêu dùng thì bao nhiêuđể dùng cho tiêu dùng chung? bao nhiêu để dùng cho tiêu dùng cá nhân?để đảm bảo mục tiêu công bằng, cân đối và hợp lý đó là yêu cầu đặt ra đòi hỏi được giải quyết trong các hoạt động tài chính
Chủ thể phân phối có thể là nhà nước, các doanh nghiệp , các tổ chức xã hội , các hộ gia đình hay cá nhân dân cư
Tổng sản phẩm quốc
dân
dùng
Quỹ tích luỹ
Tiêu dùng của nhà nước
Tiêu dùng của cá nhân đầu tư tái sản xuất và
tăng trưởng kinh tế
Trang 41.2.2 Chức năng giám đốc
Giám đốc tài chính là quá trình kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tài Giám đốc tài chính là giám đốc bằng tiền, thông qua các chỉ tiêu giá trị nhưng không phải mọi chỉ tiêu giá trị đều có sự giám đốc của tàI chính , giám đốc tài chính là giám đốc bằng tiền qua các hệ tiền tệ ,gắn liền với việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ Giám đốc tài chính mang tính chất tổng hợp, toàn diện, tự thân và diễn ra thường xuyên, liên tục trong mọi hoạt động tài chính
Hoạt động tài chính diễn ra trên mọi lĩnh vực của quá trình tái sản xuất xã hội trên tầm vĩ mô và vi mô
Nội dung của giám đốc tài chính là giám đốc sự vận động và chu chuyển của nguồn vốn tiền tệ với hiệu quả sử dụng vốn, giám đốc việc lập và chấp hành các chỉ tiêu kế hoạch, các định mức kinh tế tài chính, giám đốc quá trình hình thànhvà sử dụng các quỹ tiền tệ, quấ trình hoạch toán kinh tế và giám đốc chấp hành các đạo luật về tài chính, các chính sách chế độ tài chính
Chủ thể của giám đốc tài chính chính là chủ thể phân phối (là nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các hộ gia đình hay các cá nhân dân cư) Bởi vì,
để cho quá trình phân phối đạt tới tối đa tính mục đích, tính hợp lý hiệu quả, bản thân các chủ thể phân phối phải kiểm tra các quá trình phân phối đó
1.2.3.Vai trò vị trí của báo cáo tài chính đối với công tác quản lý doanh nghiệp
Hệ thống báo cáo tài chính có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với công tác quản lý doanh nghiệp.Điều đó được thể hiện ở những vấn đề sau:
Báo cáo tài chính là những báo cáo được trình bày hết sức tổng quát,phản ánh một cách tổng hợp nhất về tình hình tài sản ,các khoản nợ nguồn hình thành tài sản ,tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp
Báo cáo tài chính nhằm cung cấp những thông tin cần thiết nhất phục vụ chủ doanh nghiệp và các đối tượng quan tâm khác như :Các nhà đầu tư ,hội đồng quản trị doanh nghiệp ,người cho vay ,các cơ quan quản lý cấp trên và toàn bộ cán
bộ công nhân viên của doanh nghiệp
Trang 5Báo cáo tài chính cung cấp những thông tin kinh tế ,tài chính chủ yếu để đánh giá tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ,thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã qua, giúp cho viêc kiểm tra giám sát tình hình sử dụng vốn và khả năng huy động nguồn vốn vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Các chỉ tiêu,số liệu trên các báo cáo tài chính là những cơ sở quan trọng
để tính ra các chỉ tiêu kinh tế khác nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng vốn hiệu quả của các quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Những thông tin của báo cáo tài chính là những căn cứ quan trọng trong việc phân tích nghiên cứu phát hiện những khả năng tiềm tàng ,là những că cứ để
ra những quết định về quản ly ,điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc đàu
tư vào doanh nghiệp của chủ sở hữu ,các nhà đầu tư ,các chủ nợ hiện tại và tương lai của doanh nghiệp
Bâo cáo tài chính còn là că cứ quan trọng để xây dựng các kế hoạch kinh
tế kỹ thuật tài chính của doanh nghiệp ,là những căn cứ khoa học để đề ra hệ thống các biện pháp xác thực nhăm nâng cao hiêu quả sủ dụng vốn ,nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ,tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Xuất phát từ vai trò vị trí của báo cáo tài chính nhà nước xác định chủ doanh nghiệp và kế toán trưởng là người chịu trách nhiệm về tính đúng đắn trung thực của báo tài chính Do vậy viêc tuân thủ chế độ báo cáo tài chính là yêu cầu cơ bản trong công tác chỉ đạo tổ chức hạch toán kế toán ở doanh nghiệp Việc lập và nộp báo cáođầy đủ đúng thời hạn có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc cung cấp thông tin phục vụ cho việc ra các quết định tài chính Hơn nữa,hệ thống báo cáo tài chínhchỉ có ý nghĩa trong kinh doanh khi nó đảm bảo đầy đủ ba yêu cầu : Trung thực ,Đầy đủ và Kịp thời
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp hay cụ thể hoá là quá trình phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp là quá trình kiểm tra đối chiếu, so sánh các số liệu, tài liệu và tình hình tài chính hiện hành và trong quá khứ nhằm mục đích đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như rủi ro trong tương lai Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất là về tình hình tài sản, vốn và công nợ cũng
Trang 6như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Do đó, việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ cung cấp thông tin cho người sử dụng từ các góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, vừa tổng hợp khái quát, lại vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính của doanh nghiệp để nhận biết phán đoán và đưa ra quyết định tài chính, quyết định đầu tư và quyết định tài trợ phù hợp Phân tích tình hình tài chính thông qua các báo cáo tài chính của doanh nghiệp là mối quan tâm của nhiều nhóm người Nhà quản lý, các nhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các khách hàng, các nhà cho vay tín dụng, các cơ quan chính phủ và người lao động Mỗi một nhóm người này có nhu cầu thông tin khác nhau
1.3 Ý nghĩa nội dung tài liệu và phương pháp phân tích tình hình tài chính
1.3.1 ý nghĩa và mục đích của phân tích tài chính
Hoạt động tài chính là một trong những là một trong những nội dung cơ bản thuộc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ
Phân tích tình hình tài chính là quá trình xem xét , kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính hiện hành với quá khứ Thông qua việc phân tích tình hình tài chính, người ta sử dụng thộng tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng những rủi ro trong tương laivà triển vọng của doanh nghiệp.Việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như ban giám đốc, các nhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các nhà cho vay tín dụng, các nhân viên ngân hàng , các nhà quản lý, các nhà bảo hiểm…kể cả
cơ quan chính phủ và người lao động
Đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ ngoàI ra các nhà quản trị doanh nghiệp còn quan tâm đến nhiều mục tiêu khác nhau : tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lượng sản phẩm, cung cấp nhiều sản phẩm, hàng hoá, dịch
vụ với chi phí thấp, đóng góp phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường
Đối với chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của họ chủ yếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp , số lượng vốn của chủ sở hữu
Trang 7Đối với các nhà cung cấp vật tư, hàng hoá dịch vụ , họ phải quyết định có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng hay khôngvà họ cần biết khả năng thanh toán của khách hàng hiện tại và thời gian sắp tới
Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm của họ hướng vào các yếu tố như sự rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn Vì vậy,họ cần những thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh
và các tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp Ngoài ra, còn nhiều người khác quan tâm đến thông tin tài chính của doanh nghiệp đó là cơ quan tài chính, thuế , thống kê, chủ quản, các nhà phân tích tài chính, những người lao động …vì họ cần những thông tin cơ bản liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm, đến khách hàng hiện tại và tương lai của họ
Như vậy, mục đích tối cao và quan trọngnhất của phân tích tình hình tài chính là giúp người ra quyết định lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu đánh giá chính xác thực trặng tiềm năng của doanh nghiệp và đánh giá chính xác những điểm mạnh và điểm yếu của tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.3.2 Nội dung và phưong pháp phân tích tình hình tài chính
Để tiến hành hoạt động kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phảI có một lượng vốn nhất định bao gồm vốn kinh doanh ,quỹ doanh nghiệp ,vốn đầu tư xây dựng cơ bản ,vốn vay và các loại vốn khác Doanh nghiệp có nhiệm vụ tổ chức huy đông các loại vốn cần thiết cho nhu cầu kinh doanh Đồng thời tiến hành phân phối quản lý và sử dụng có hiệu quả trên cơ sở chấp hành các chế độ chính sách quản lý kinh tế tài chính và kỷ luật thanh toán của nhà nước Việc thường xuyên tiến hành phân tích tàI chính sẽ giúp cho người sử dụng thông tin nắm được thực trạng hoạt động tàI chính xác định rõ nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tình hình tàI chính và hoạt động sản xuất kinh doanh Trên cơ sở đó đề xuất các quyết định cần thiết để nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh doanh và nâng cao hiêu quả kinh doanh
Nội dung chủ yếu phân tích tình hình tài chính gồm:
Đánh giá khái quát tình hình tài chính
Trang 8Phân tích tình hình và khả năng thanh toán
Phân tích tình hình kết cấu tài sản lưu động
Phân tích tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản cố định
Phân tích khả năng sinh lợi của doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính DUPONT
Để tiến hành phân tích tình hình tài chính, người phân tích phải sử dụng rất nhiều tài liệu khác nhau trong đó chủ yếu là báo cáo tài chính Báo cáo tài chính rất hữu ích đối với việc quản trị doanh nghiệp và là nguồn thông tin tài chính chủ yếu đối với những người ngoài doanh nghiệp Báo cáo chủ yếu là bảng cân đối kế toán
và báo cáo kết quả kinh doanh
Phương pháp phân tích tài chính
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và các biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, và các mối quan hệ bên trong và bên ngoài , các luồng dịch chuyểnvà biến động tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp
Về lý thuyết có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp nhưng trên thực tế người ta thường dùng phương pháp so sánh và phân tích tỷ lệ
Phương pháp so sánh:
Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện có thể so sánh được của các chỉ tiêu tài chính (thống nhất về không gian và thời gian , nội dung, tính chất và đơn vị tính toán…) và theo mục đích phân tích mà xác định gốc
so sánh Gốc so sánh được xác định về mặt thời gian hoặc không gian, kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch , giá trị so sánh có thẻ được lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân
Nội dung so sánh bao gồm:
So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ hướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp , thấy được tình hình tài chính được cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc trong kỳ tới
Trang 9So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của doanh nghiệp
So sánh giữa số thực hiện kỳ này của doanh nghiệp với mức trung bình nghành để đánh giá tìnhhình tài chính của doanh nghiệp mình là tốt hay xấu, được hay chưa được so với các doanh nghiệp cùng nghành
So sánh theo “chiều dọc”để thấy được tỷ trọng của từng chỉ tiếu so với tổng thể , so sánh theo “chiều ngang”của nhiều kỳ đẻ thấy được sự biến đổi cả về
số lượng tương đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp
Phương pháp phân tích tỷ lệ :
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính sự biến đổi các tỷ lệ , cố nhiên là sự biến động các tỷ lệ tài chính Về nguyên tắc , phương pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác định các ngưỡng, các định mức để nhận xét đánh giá tình hình tài chính trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp , các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng , phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp đó là những nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán , nhóm tỷ
lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn , nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh
Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ , từng bộ phận hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau , tuỳ theo góc độ phân tích , người phân tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau đẻ phục vụ mục tiêu phân tích của mình
1.3.3 Tài liệu dùng làm căn cứ để phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
Phân tích tình hình tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng làm
rõ mục tiêu của dự đoán tài chính trong đó chủ yếu thong tin từ các báo cáo tài chính
Trang 10- Bảng cân đối kế toán: Mẫu số B 01-DN
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn
bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, theo 2 cách phân loại là kết cấu vốn kinh doanh và nguồn hình thành vốn kinh doanh
Số liệu trên bảng Cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản, và nguồn hình thành tài sản
đó Căn cứ vào bảng cân đối kế toán có thể nhận xét đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp
Bảng cân đối kế toán thường có kết cấu hai phần:
+ Phần tài sản: Phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản và hình thức tồn tại trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Tài sản được chia thành hai phần: tài sản lưu động
và đầu tư ngắn hạn, tài sản cố định và đầu tư dài hạn
+ Phần nguồn vốn: Phản ánh nguồn hình thành tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo Các chỉ tiêu nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với tài sản đang quản lý và sử dụng tại doanh nghiệp Nguồn vốn được chia thành: Nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu
Mỗi phần của Bảng cân đối kế toán đều được phản ánh theo ba cột: Mã số,
số đầu năm, số cuối kỳ (quý, năm)
Nội dung trong Bảng cân đối kế toán phải thoả mãn phương trình cơ bản: Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn
Ngoài hai phần tài sản và nguồn vốn, cấu tạo Bảng cân đối kế toán còn có phần tài sản ngoài bảng
+ Phần tài sản ngoài bảng: Phản ánh những tài sản không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp đang quản lý hoặc sử dụng và một số chỉ tiêu bổ sung không thể phản ánh trong Bảng cân đối kế toán
Cơ sở số liệu để lập Bảng cân đối kế toán là các số kế toán tổng hợp và chi tiết các tài khoản loại: 0,1 , 2, 3, 4 và Bảng cân đối kế toán kỳ trước