1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh gia đối thoại trong tố tụng hành chính theo luật TTHC 2015

10 596 6

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 23,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCA MỞ ĐẦU1B NỘI DUNG2I.Về nguyên tắc đối thoại2II. Những vụ án hành chính không tiến hành đối thoại được2III. Về trình tự, thủ tục, thành phần tiến hành đối thoại3IV. Xử lý kết quả đối thoại7C.KẾT LUẬN8

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Do tính đặc thù của lĩnh vực hành chính với quan hệ một bên là cơ quan hành chính Nhà nước thi hành quyền lực hành chính công và một bên là cá nhân, cơ quan, tổ chức chịu sự điều hành quản lý, nên Luật tố tụng hành chính không quy định nguyên tắc hoà giải như khi giải quyết các vụ việc dân sự Khi giải quyết vụ

án hành chính Tòa án thực hiện thủ tục đối thoại để tạo điều kiện cho các đương sự (người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan) gặp gỡ trao đổi trực tiếp với nhau, để hiểu biết nhau hơn, làm rõ được những nguyên nhân của những khác biệt trong nhận thức, những sai sót, hạn chế trong công tác quản lý Nhà nước(nếu có) Cũng thông qua đây người khởi kiện có thể hiểu rõ hơn về những quy định pháp luật liên quan đến việc khởi kiện, từ đó các bên có thể đi đến những quan điểm đồng nhất, làm giảm hoặc giải quyết được mâu thuẫn, xung đột,

có thể tự giải quyết với nhau, người khởi kiện có thể rút một phần hoặc toàn bộ nội dung đơn kiện, người bị kiện có thể sửa đổi hoặc huỷ bỏ quyết định hành chính, hành vi hành chính là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.Qua đó giúp quá trình giải quyết vụ án hành chính được nhanh chóng, tiết kiệm được thời gian, chi phí và công sức, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử Để làm rõ hơn về những điều này tôi xin chọn đề tài " đánh gia đối thoại trong tố tụng hành chính" làm bài tiểu luận kết thúc môn

Trang 2

B NỘI DUNG

I.Về nguyên tắc đối thoại

Tại khoản 2 Điều 134 Luật tố tụng hành chính quy định việc đối thoại phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

+ Bảo đảm công khai, dân chủ, tôn trọng ý kiến của đương sự Việc đối thoại có thể tiến hành tại Toà án hoặc tại địa điểm khác do Toà án và các đương sự thống nhất, song phải diễn ra thực sự công khai, dân chủ, có sự tham gia của các bên đương sự và những người có liên quan Các chủ thể tham gia phải thực sự bình đẳng với nhau trong việc đưa ra các quan điểm, đánh giá, đề nghị trong quá trình đối thoại

+ Không được ép buộc các đương sự thực hiện việc giải quyết vụ án hành chính trái với ý chí của họ Do đó, các bên cần quan tâm đến yêu cầu, lợi ích chính đáng, hợp pháp để có quyết định phù hợp Các bên đối thoại cần đánh giá một cách trung thực, chính xác về tình tiết của vụ án; thực hiện nguyên tắc này tạo điều kiện để các bên đưa ra những quan điểm, đề nghị thiện chí trong quá trình đối thoại

+ Nội dung đối thoại, kết quả đối thoại thành giữa các đương sự không trái pháp luật, trái đạo đức xã hội Các bên đối thoại cần dựa trên các quy định của pháp luật

để đánh giá khách quan về yêu cầu của mỗi bên, về tính hợp pháp của đối tượng khởi kiện Mặt khác, nguyên tắc này đòi hỏi các bên đương sự tham gia đối thoại ngoài việc tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của mình còn phải tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích của Nhà nước Mọi thoả thuận thông qua đối thoại có nội dung trái pháp luật và đạo đức xã hội đều không được thừa nhận

II Những vụ án hành chính không tiến hành đối thoại được

Luật tố tụng hành chính năm 2015 (Điều 135) quy định ba trường hợp không tiến hành đối thoại: “Người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt Đương

Trang 3

sự không thể tham gia đối thoại được vì có lý do chính đáng Các bên đương sự thống nhất đề nghị không tiến hành đối thoại”

Về nguyên tắc, Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định đối thoại là một thủ tục bắt buộc mà Toà án phải tiến hành trong quá trình giải quyết vụ án Tuy nhiên, tuỳ vào từng trường hợp, xuất phát từ ý chí của các đương sự, những nguyên nhân khách quan dẫn đến vụ án không tiến hành đối thoại được Trong những trường hợp trên, Toà án phải lập biên bản về việc không tiến hành đối thoại được để lưu

hồ sơ làm căn cứ tiến hành giải quyết vụ án

III Về trình tự, thủ tục, thành phần tiến hành đối thoại

Theo quy định tại Điều 136, Điều 137 Luật tố tụng hành chính năm 2015 để thủ tục đối thoại thành công cần có vai trò tổ chức của Toà án; Thẩm phán phải thông báo cho các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm, nội dung đối thoại Phiên đối thoại được tiến hành đồng thời với phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ giữa các đương sự

Điều 12 Luật Tố tụng hành chính năm 2010 đã quy định về thủ tục đối thoại:

"Trong quá trình giải quyếtvụ án hành chính, Tòa án tạo điều kiện để các đương sự đối thoại về việc giải quyết vụ án” Nhưng theo như quy định trên thì đối thoại không phải là thủ tục bắt buộc nên thực tiễn việc thực hiện thủ tục đối thoại gặp nhiều khó khăn, vướng mắc và có cách hiểu, cách áp dụng khác nhau

Để khắc phục những khó khăn, vướng mắc trên thì Luật tố tụng hành chính năm

2015 đã quy định đối thoại là thủ tục bắt buộc quy định cụ thể tại Điều 20 "Tòa án

có trách nhiệm tiến hành đối thoại và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự đối thoại với nhau về việc giải quyết các vụ án theo quy định của Luật này” Đồng thời Luật tố tụng hành chính năm 2015 cũng đã bổ sung mới các quy định về nguyên tắc đối thoại; về những vụ án không tiến hành đối thoại được; về thông báo phiên

Trang 4

họp đối thoại; thành phần, thủ tục đối thoại; biên bản đối thoại và xử lý kết quả đối thoại(quy định tại các điều từ Điều 134 đến Điều 140)

Với quy định mới và cụ thể hơn về đối thoại trong Luật tố tụng hành chính năm

2015 sẽ tạo cơ chế hòa giải giữa các bên, kết quả đối thoại được coi là một trong các căn cứ để giải quyết vụ án, hạn chế việc phải mở phiên tòa đồng thời đảo đảm tính hiệu quả của cơ chế đối thoại trong thực tiễn khi giải quyết các vụ án hành chính

Tính hiệu quả của cơ chế đối thoại trong thực tiễn khi giải quyết các vụ án hành chính:

Xuất phát từ mối quan hệ hành chính không ngang bằng giữa một bên chỉ đạo, điều hành và bên kia là chấp hành, nhưng khi ra tòa, thông qua thủ tục đối thoại đã tạo điều kiện bình đẳng để các bên đương sự gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với nhau

Thực tế cho thấy, trong nhiều vụ án hành chính, đương sự khiếu kiện gay gắt, đã thực hiện quyền khiếu nại đến các cơ quan hành chính nhưng không đồng ý nên khởi kiện Khoản 3 Điều 60 Luật Tố tụng hành chính quy định: “ trường hợp người bị kiện là cơ quan, tổ chức hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức thì người

bị kiện chỉ được ủy quyền cho cấp phó của mình đại diện Người được ủy quyền phải tham gia vào quá trình giải quyết toàn bộ vụ án, thực hiện đầy đủ các quyền

và nghĩa vụ của người bị kiện theo quy định”

Với quy định này, luật đã cụ thể hóa người đại diện theo ủy quyền trong trường hợp người dân kiện cơ quan, tổ chức; đề cao vai trò người đứng đầu, đảm bảo được quyền lợi của các bên liên quan trong vụ án hành chính Điều này cũng sẽ tạo thuận lợi cho người khởi kiện Vì người đứng đầu cơ quan, tổ chức khi ký ban hành một văn bản, quyết định nhưng chính văn bản, quyết định đó bị khởi kiện thì khi ra tòa, nếu người có thẩm quyền ký văn bản, quyết định trực tiếp đứng ra giải quyết tại tòa sẽ có toàn quyền quyết định các nội dung trong văn bản, quyết định

đã bị khởi kiện

Trang 5

Ví dụ cụ thể vụ án hành chính ở tỉnh Hậu Giang : ông Lê Văn Thành, ở ấp 4, xã Vị Bình, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, khởi kiện Quyết định số 2602 ngày 13/8/2013 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Vị Thủy về việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Giàu với ông Thành và Quyết định số

242 ngày 27/2/2014 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh về giải quyết khiếu nại lần hai Tòa án mở phiên đối thoại, tại buổi đối thoại, bà Lê Thị Phượng (người được ông Thành ủy quyền) yêu cầu giải quyết hủy các quyết định giải quyết khiếu nại giữa bà Giàu với ông Thành và công nhận cho ông Thành đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên 5.000m2 Vì nguồn gốc đất là của ông Thành, khoảng năm 2002, ông Thành cho con trai là Lê Thành Thi canh tác một phần để sinh sống Năm 2008, ông Thi mất, sau đó ông Thành làm thủ tục xin được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà Giàu (vợ ông Thi) ngăn cản Quyết định số 2602 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Vị Thủy giải quyết công nhận phần đất trên cho bà Giàu, ông Thành không đồng ý khiếu nại tiếp theo thì Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành quyết định giải quyết khiếu nại lần hai, công nhận cho bà Giàu trên 3.000m2 Nay ông Thành không đồng ý với quyết định giải quyết của Uỷ ban nhân dân, vì nguồn gốc đất là của ông, ông muốn đứng tên để sau này chia cho cháu chứ không để cho bà Giàu đứng tên Bà Giàu cũng thừa nhận nguồn gốc đất của ông Thành, nay ông Thi mất, bà muốn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để có phần đất cho con, chứ bà không yêu cầu quyền lợi riêng cho bà Sau khi người khởi kiện đưa ra yêu cầu, thẩm phán phân tích các căn cứ pháp luật, ông Trương Cảnh Tuyên, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh (người được Chủ tịch

Uỷ ban nhân dân tỉnh ủy quyền), tham dự phiên đối thoại quyết định Uỷ ban nhân dân tỉnh sẽ rút lại quyết định giải quyết khiếu nại lần hai Vì quyết định giải quyết lần hai trên tinh thần thỏa thuận của gia đình giữa bên ông Thành và bà Giàu tại buổi gặp gỡ, đối thoại với Sở Tài nguyên và Môi trường ngày 26-12-2013 Do đó,

Uỷ ban nhân dân tỉnh công nhận sự thống nhất của các bên Nếu tại phiên đối thoại

Trang 6

hôm nay, bà Phượng (người đại diện của ông Thành) không thống nhất với thỏa thuận trên thì Uỷ ban nhân dân ban hành văn bản hủy quyết định đã giải quyết Người đại diện cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Vị Thủy cũng thống nhất rút lại quyết định giải quyết tranh chấp đất giữa ông Thành với bà Giàu

Trường hợp của bà Trần Thị Dư, ở ấp Tân Trị 1, xã Tân Phú, huyện Long Mỹ, khởi kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Ông Võ Thành Tuấn (người đại diện các hàng thừa kế của bà Dư) cho rằng, gia đình có phần đất bị ảnh hưởng bởi dự án xây dựng công trình đường ôtô về trung tâm xã Tân Phú, huyện Long Mỹ Nhà nước đã thu hồi đất của gia đình để thực hiện công trình từ năm 2009 nhưng đến nay chưa được Uỷ ban nhân dân bồi thường, hỗ trợ theo quy định Việc kéo dài thời gian bồi thường, hỗ trợ làm thiệt thòi đến quyền lợi của gia đình Do đó, gia đình khởi kiện đến tòa án về hành

vi chậm thực hiện bồi thường, hỗ trợ các chính sách kèm theo khi Nhà nước thu hồi đất Ông Nguyễn Văn Tuấn, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh (người được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ủy quyền), tham gia buổi đối thoại vụ án hành chính tại tòa án, cho biết: “Sau buổi đối thoại, trong vòng một tuần, Uỷ ban nhân dân tỉnh sẽ có văn bản chỉ đạo Uỷ ban nhân dân huyện Long Mỹ thực hiện quy trình, thủ tục phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho hộ bà Dư”

Qua hai vụ án trên cho thấy, trong vụ án hành chính, người khởi kiện quyết định hành chính hay hành vi hành chính, khi đối thoại, bên bị kiện thấy được trong quá trình thực hiện chưa đúng cần sửa chữa, khắc phục nhưng người tham dự phiên đối thoại là người có thẩm quyền quyết định, sau buổi đối thoại, cơ quan ban hành văn bản xử lý sau đối thoại, người khởi kiện rút đơn khởi kiện thì tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án

Việc chấm dứt giải quyết vụ án hành chính qua đối thoại tạo điều kiện cho các bên không phải đi lại nhiều lần tốn kém; cách giải quyết này cũng nhẹ nhàng hơn khi các bên cùng đối diện thỏa thuận vấn đề mà còn ý kiến khác nhau…

Trang 7

IV Xử lý kết quả đối thoại

Đây là một nội dung bổ sung mới quan trọng trong Luật tố tụng hành chính năm

2015 nhằm đảm bảo có hiệu quả, hiệu lực của thủ tục đối thoại Kết quả đối thoại

có thể theo nhiều chiều hướng khác nhau, điều đó sẽ ảnh hưởng đến hướng giải quyết vụ án của Toà án Tại Điều 140 Luật tố tụng hành chính quy định:

1 Trong trường hợp thông qua đối thoại các đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm, yêu cầu của mình thì Thẩm phán tiến hành các thủ tục để mở phiên toà xét xử

2 Trường hợp qua đối thoại mà người khởi kiện tự nguyện rút đơn khởi kiện thì Thẩm phán lập biên bản và ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu của người khởi kiện

3 Trường hợp qua đối thoại mà người khởi kiện cam kết sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, chấm dứt quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện thì Toà án lập biên bản Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày lập biên bản, người bị kiện phải nộp cho Toà án quyết định hành chính mới hoặc thông báo về việc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện phải gửi cho Toà án văn bản rút đơn khởi kiện Hết thời hạn này mà một trong các đương sự không thực hiện cam kết của mình thì Thẩm phán tiến hành các thủ tục để mở phiên toà xét xử vụ án

Trường hợp nhận được quyết định hành chính mới hoặc văn bản rút đơn khởi kiện thì Toà án thông báo cho đương sự khác biết Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án, nếu các đương sự không có ý kiến phản đối thì Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành và đình chỉ giải quyết

vụ án Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; trường hợp có căn cứ cho rằng nội dung các bên đã thống nhất và cam kết là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe doạ hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì quyết định của Toà án có thể bị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm"

Trang 8

C.KẾT LUẬN

Với những quy định mới và cụ thể hơn về thủ tục đối thoại trong Luật tố tụng hành chính năm 2015, việc Toà án khuyến khích và tạo mọi điều kiện để các đương sự thoả thuận với nhau trong việc giải quyết vụ án trên cơ sở quy định của pháp luật Đối thoại trong vụ án hành chính còn có ý nghĩa rất quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho Toà án trong quá trình tiến hành các thủ tục đối thoại giúp quá trình giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác; tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác giải quyết xét xử các vụ án hành chính

Trang 9

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 2

I.Về nguyên tắc đối thoại 2

II Những vụ án hành chính không tiến hành đối thoại được 2

III Về trình tự, thủ tục, thành phần tiến hành đối thoại 3

IV Xử lý kết quả đối thoại 7

C.KẾT LUẬN 8

Trang 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Giáo trình Luật tố tụng Hành Chính ( chương 2) - Trường Đại học Kiểm Sát Hà Nội

2 Luật tố tụng hành chính năm 2010

3 Luật tố tụng hành chính năm 2015

4 http://toaanhanam.gov.vn/bai-viet-chuyen-mon/quy-dinh-thu-tuc-doi-thoai-trong-luat-to-tung-hanh-chinh-57388.html

Ngày đăng: 19/03/2019, 19:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w