chính môi trường trái đất là nơi: Cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử trái đất, lịch sử tiến hoá của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hoá của loài người. Cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tín chất tín hiệu và báo động sớm các hiểm hoạ đối với con người và sinh vật sống trên trái đất như phản ứng sinh lý của cơ thể sống trước khi xảy ra các tai biếnchính môi trường trái đất là nơi: Cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử trái đất, lịch sử tiến hoá của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hoá của loài người. Cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tín chất tín hiệu và báo động sớm các hiểm hoạ đối với con người và sinh vật sống trên trái đất như phản ứng sinh lý của cơ thể sống trước khi xảy ra các tai biến
Trang 1CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA TÀI NGUYÊN & MÔI TRƯỜNG
1 Vai trò của môi trường và tài nguyên với con người
1.1.Môi trường là không gian sống của con người và thế giới sinh vật
Để tồn tại, con người đều cần một không gian nhất định để phục vụ cho các hoạt độngsống như: nhà ở, nơi để sản xuất Như vậy chức năng này đòi hỏi môi trường phải cómột phạm vi không gian thích hợp cho mỗi con người Không gian này lại đòihỏi phảiđạt đủ những tiêu chuẩn nhất định về các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học, cảnh quan và
xã hộiYêu cầu về không gian sống của con người thay đổi tuỳ theo trình độ khoa học vàcông nghệ Tuy nhiên, trong việc sử dụng không gian sống và quan hệ với thế giới tựnhiên, có 2 tính chất mà con người cần chú ý là tính chất tự cân bằng (homestasis), nghĩa
là khả năng của các hệ sinh thái có thể gánh chịu trong điều kiện khó khăn nhất và tínhbền vững của hệ sinh thái
1.2 Bảo vệ con người và sinh vật khỏi những tác động từ bên ngoài.
Các thành phần trong môi trường còn có vai trò trong việc bảo vệ cho đời sống của conngười và sinh vật tránh khỏi những tác động từ bên ngoài như: tầng Ozon trong khíquyển có nhiệm vụ hấp thụ và phản xạ trở lại các tia cực tím từ năng lượng mặt trời
1.3: Là nơi lưu trữ những tiến hóa, biến động lịch sử của mọi sinh vật
Môi trường trái đất được xem là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người Bởi vìchính môi trường trái đất là nơi:
- Cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử trái đất, lịch sử tiến hoá của vật chất và sinh vật,lịch sử xuất hiện và phát triển văn hoá của loài người
- Cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tín chất tín hiệu và báo động sớm cáchiểm hoạ đối với con người và sinh vật sống trên trái đất như phản ứng sinh lý của cơ thểsống trước khi xảy ra các tai biến tự nhiên và các hiện tượng tai biến tự nhiên, đặc biệtnhư bão, động đất, núi lửa
Trang 2- Cung cấp và lưu giữ cho con người các nguồn gen, các loài động thực vật, các hệ sinhthái tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp, cảnh quan có giá trị thẩm mỹ để thưởng ngoạn, tôngiáo và văn hoá khác.
1.4 Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người.
Trong lịch sử phát triển, loài người đã trải qua nhiều giai đoạn Bắt đầu từ khi con ngườibiết canh tác cách đây khoảng 14-15 nghìn năm, vào thời kỳ đồ đá giữa cho đến khi phátminh ra máy hơi nước vào thế kỷ thứ XVII, đánh dấu sự khởi đầu của công cuộc cáchmạng khoa học kỹ thuật trong mọi lĩnh vực
Nhu cầu của con người về các nguồn tài nguyên không ngừng tăng lên về cả số lượng,chất lượng và mức độ phức tạp theo trình độ phát triển của xã hội Chức năng này củamôi trường còn gọi là nhóm chức năng sản xuất tự nhiên gồm:
- Rừng tự nhiên: có chức năng cung cấp nước, bảo tồn tính đa dạng sinh học và độ phìnhiêu của đất, nguồn gỗ củi, dược liệu và cải thiện điều kiện sinh thái
- Các thuỷ vực: có chức năng cung cấp nước, dinh dưỡng, nơi vui chơi giải trí và cácnguồn thuỷ hải sản
- Động - thực vật: cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguồn gen quý hiếm
- Không khí, nhiệt độ, năng lượng mặt trời, nước, gió: có chức năng duy trì các hoạtđộng trao đổi chất
- Các loại quặng, dầu mỏ: cung cấp năng lượng và nguyên liệu cho các hoạt động sảnxuất
1.5 Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra
Theo lẻ thường tình, thì trong quá trình sống, con người luôn đào thải ra các chất thải vàomôi trường Tại đây các chất thải dưới tác động của vi sinh vật và các yếu tố môi trườngkhác sẽ bị phân huỷ, biến đổi từ phức tạp thành đơn giản và tham gia vào hàng loạt cácquá trình sinh địa hoá phức tạp
Trang 3Trong thời kỳ sơ khai, khi dân số của nhân loại còn ít, chủ yếu do các quá trình phân huỷ
tự nhiên làm cho chất thải sau một thời gian biến đổi nhất định lại trở lại trạng tháinguyên liệu của tự nhiên Sự gia tăng dân số thế giới nhanh chóng, quá trình công nghiệphoá, đô thị hoá làm số lượng chất thải tănglên không ngừng dẫn đến chức năng này nhiềunơi, nhiều chổ trở nên quá tải, gây ô nhiễm môi trường
Khả năng tiếp nhận và phân huỷ chất thải trong một khu vực nhất định gọi là khả năng đệm (buffer capacity) của khu vực đó Khi lượng chất thải lớn hơn khả năng đệm, hoặcthành phần chất thải có nhiều chất độc, vi sinh vật gặp nhiều khó khăn trong quá trìnhphân huỷ thì chất lượng môi trường sẽ giảm và môi trường có thể bị ô nhiễm Chức năngnày có thể phân loại chi tiết như sau:
- Chức năng biến đổi lý - hoá học (phân huỷ hoá học nhờ ánh sáng,
Trang 4Hình 1.5: Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra
Nguồn:
http://www.blogsinhhoc.com/2013/01/vai-tro-cua-moi-truong-oi-voi-con-nguoi.html
2 Vai trò của môi trường với sự phát triển kinh tế
Muốn phát triển bền vững thì trong phát triển phải tính đến yếu tố môi trường Môi
trường tự nhiên và sản xuất xã hội quan hệ khăng khít, chặt chẽ, tác động lẫn nhau trongthế cân đối thống nhất: Môi trường tự nhiên (bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên) cungcấp nguyên liệu và không gian cho sản xuất xã hội Sự giàu nghèo của mỗi nước phụthuộc khá nhiều vào nguồn tài nguyên: Rất nhiều quốc gia phát triển chỉ trên cơ sở khaithác tài nguyên để xuất khẩu đổi lấy ngoại tệ, thiết bị công nghệ hiện đại,… Có thể nói,tài nguyên nói riêng và môi trường tự nhiên nói chung (trong đó có cả tài nguyên) có vaitrò quyết định đối với sự phát triển bền vững về kinh tế – xã hội (KT-XH) ở mỗi quốcgia, vùng lãnh thổ, địa phương
Hình 2: Vai trò của môi trường với sự phát triển kinh tế 2.2 Môi trường không những chỉ cung cấp “đầu vào” mà còn chứa đựng “đầu ra” cho các quá trình sản xuất và đời sống.
Hoạt động sản xuất là một quá trình bắt đầu từ việc sử dụng nguyên, nhiên liệu, vật tư,thiết bị máy móc, đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật khác, sức lao động của con người để tạo
ra sản phẩm hàng hóa Những dạng vật chất trên không phải gì khác, mà chính là các yếu
tố môi trường
Trang 5Các hoạt động sống cũng vậy, con người ta cũng cần có không khí để thở, cần có nhà để
ở, cần có phương tiện để đi lại, cần có chỗ vui chơi giải trí, học tập nâng cao hiểu biết,…Những cái đó không gì khác là các yếu tố môi trường
Như vậy chính các yếu tố môi trường (yếu tố vật chất kể trên – kể cả sức lao động) là
“đầu vào” của quá trình sản xuất và các hoạt động sống của con người Hay nói cáchkhác: Môi trường là “đầu vào” của sản xuất và đời sống Tuy nhiên, cũng phải nói rằngmôi trường tự nhiên cũng có thể là nơi gây ra nhiều thảm họa cho con người (thiên tai),
và các thảm họa này sẽ tăng lên nếu con người gia tăng các hoạt động mang tính tàn phámôi trường, gây mất cân bằng tự nhiên
Ngược lại môi trường tự nhiên cũng lại là nơi chứa đựng, đồng hóa “đầu ra” các chất thảicủa các quá trình hoạt động sản xuất và đời sống Quá trình sản xuất thải ra môi trườngrất nhiều chất thải (cả khí thải, nước thải, chất thải rắn) Trong các chất thải này có thể córất nhiều loại độc hại làm ô nhiễm, suy thoái, hoặc gây ra các sự cố về môi trường Quátrình sinh hoạt, tiêu dùng của xã hội loài người cũng thải ra môi trường rất nhiều chấtthải Những chất thải này nếu không được xử lý tốt cũng sẽ gây ô nhiễm môi trườngnghiêm trọng
1.2.2.Môi trường liên quan đến tính ổn định và bền vững của sự phát triển KT-XH.
Phát triển KT-XH là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của conngười qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượngvăn hóa Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân cũng như của cả loài người trongquá trình sống Giữa môi trường và sự phát triển có mối quan hệ chặt chẽ: Môi trường làđịa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổicủa môi trường
Trong hệ thống KT-XH, hàng hóa được di chuyển từ sản xuất đến lưu thông, phân phối
và tiêu dùng cùng với dòng luân chuyển của nguyên liệu, năng lượng, sản phẩm, chấtthải Các thành phần đó luôn luôn tương tác với các thành phần tự nhiên và xã hội của hệthống môi trường đang tồn tại trong địa bàn đó
Trang 6Tác động của con người đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi trường
tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho quá trình cải tạo đó, nhưng có thể gây ra ônhiễm môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo
Mặt khác, môi trường tự nhiên đồng thời cũng tác động đến sự phát triển KT-XH thôngqua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên – đối tượng của sự phát triển KT-XH hoặc gây
ra các thảm họa, thiên tai đối với các hoạt động KT-XH trong khu vực
Ở các quốc gia có trình độ phát triển kinh tế khác nhau có các xu hướng gây ô nhiễm môitruờng khác nhau Ví dụ:
– Ô nhiễm do dư thừa: 20% dân số thế giới ở các nước giàu hiện sử dụng 80% tài nguyên
và năng lương của loài người Sản xuất công nghiệp phát triển mạnh, hoạt động của quánhiều các phương tiện giao thông vận tải đã tạo ra một lượng lớn chất thải độc hại vàomôi trường (đặc biệt là khí thải) Hiện nay việc có được mua bán hay không quyền phátthải khí thải giữa các nước đang là đề tài tranh luận chưa ngã ngũ trong các hội nghịthượng đỉnh về môi trường, các nước giàu vẫn chưa thực sự tự giác chia sẻ tài lực với cácnước nghèo để giải quyết những vấn đề có liên quan tới môi trường
– Ô nhiễm do nghèo đói: Mặc dù chiếm tới 80% dân số thế giới, song chỉ sử dụng 20%tài nguyên và năng lượng của thế giới, nhưng những người nghèo khổ ở các nước nghèochỉ có con đường duy nhất là khai thác tài nguyên thiên nhiên (rừng, khoáng sản, đất đai,
…) mà không có khả năng hoàn phục Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM) về môi trườnghọp vào tháng 1/2002 tại Trung Quốc đã cho rằng nghèo đói là thách thức lớn nhất đốivới công tác bảo vệ môi trường (BVMT) hiện nay Do vậy, để giải quyết vấn đề môitrường, trước hết các nước giàu phải có trách nhiệm giúp đỡ các nước nghèo giải quyếtnạn nghèo đói
Trang 7Hình 1.2.2: Môi trường liên quan đến tính ổn định và bền vững của sự phát triển KT-XH 1.2.3 Môi trường có liên quan tới tương lai của đất nước, dân tộc
BVMT chính là để giúp cho sự phát triển kinh tế cũng như xã hội được bền vững KT-XHphát triển giúp chúng ta có đủ điều kiện để đảm bảo an ninh quốc phòng, giữ vững độclập chủ quyền của dân tộc Điều đó lại tạo điều kiện ổn định chính trị xã hội để KT-XHphát triển BVMT là việc làm không chỉ có ý nghĩa hiện tại, mà quan trọng hơn, cao cảhơn là nó có ý nghĩa cho tương lai Nếu một sự phát triển có mang lại những lợi ích kinh
tế trước mắt mà khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, hủy hoại môi trường, làm chocác thế hệ sau không còn điều kiện để phát triển mọi mặt (cả về kinh tế, xã hội, thể chất,trí tuệ con người…), thì sự phát triển đó phỏng có ích gì! Nếu hôm nay thế hệ chúng takhông quan tâm tới, không làm tốt công tác BVMT, làm cho môi trường bị hủy hoại thìtrong tương lai, con cháu chúng ta chắc chắn sẽ phải gánh chịu những hậu quả tồi tệ.Nhận thức rõ điều đó, trong bối cảnh chúng ta bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã
ra Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 về “Tăng cường công tác BVMT trong thời kỳcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Ngay những dòng đầu tiên, Chỉ thị đã nêu rõ:
“BVMT là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại; là nhiệm vụ có tính xã hộisâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xóa đói giảm nghèo ở mỗi nước, với cuộc đấu tranh
vì hòa bình và tiến bộ trên phạm vi toàn thế giới” Như vậy BVMT có ý nghĩa hết sức lớn
Trang 8lao đối với sự nghiệp phát triển của đất nước Mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh” không thể thực hiện được nếu chúng ta không làm tốt hơnnữa công tác BVMT.
http://kienviet.net/2012/03/29/moi-truong-voi-su-phat-trien-ben-vung/
CHƯƠNG II: HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN
2.1 Thực trạng ô nhiễm môi trường toàn cầu
Trên hành tinh Xanh của chúng ta, ở đâu ta cũng dễ dàng nhận thấy dấu hiệu của sự ônhiễm môi trường: từ những biến đổi của khí hậu khiến thời tiết trở nên khắc nghiệt bấtthường, những cơn mưa axit phá hủy các công trình kiến trúc có giá trị, gây tổn thương
hệ sinh thái, đến sự suy giảm tầng ôzôn khiến tăng cường bức xạ tia cực tớm… Chúng tađang phải đối mặt với 3 vấn đề phổ biến đó là sự nóng lên của Trái Đất, sự ô nhiễm biển
và đại dương cùng với sự hoang mạc hóa
2.1.1 Sự nóng lên của Trái Đất
Hình 2.1.1:Sự nóng lên của Trái Đất
Tính đến tháng 10, nhiệt độ trái đất ấm lênkhoảng 0,9 độ C kể từ năm 1880 Con số nàygồm cả nhiệt độ ở bề mặt đại dương Sự ấm lênđược cảm nhận rõ ở các vùng đất liền, Bắc Cực
và nhiều khu vực ở Nam Cực Con số 0,9 độ Cnghe có vẻ thấp, nhưng xét theo nhiệt độ trungbình của bề mặt một hành tinh, nó thực sự làmức cao
Điều này lý giải hiện tượng băng tan và mựcnước ở các đại dương ngày càng tăng nhanh.Mức nhiệt tích tụ trên trái đất do lượng phát thải
từ các hoạt động của con người tương đươnglượng nhiệt từ 400.000 quả bom nguyên tử ởHiroshima phát ra mỗi ngày trên khắp hànhtinh
Các nhà khoa học tin rằng trái đất bắt đầu nónglên kể từ năm 1950 do hiệu ứng nhà kính Nếu
sự phát thải không được kiểm soát, giới khoahọc tin rằng nhiệt độ trái đất có thể tăng quá 4,5
độ C Mức nhiệt này sẽ làm biến đổi hành tinhcủa chúng ta và suy yếu khả năng hỗ trợ của tráiđất cho một lượng dân số khổng lồ
Trang 9Hình 2.1.1:Sự nóng lên của Trái Đất
2.1.2 Sự ô nhiễm biển và đại dương
Hiện nay, trước sức ép của tốc độ gia tăng dân số ngày càng nhanh, nhu cầu phát triểnkinh tế ngày càng cao trong bối cảnh các nguồn tài nguyên đất liền ngày càng cạn kiệtcàng đẩy mạnh khuynh hướng tiến ra biển, khai thác biển, làm giàu từ biển, nhưngthường đi kèm với đó lại là các phương thức khai thác thiếu tính bền vững; các họat độngkhai thác chủ yếu chỉ tập trung vào các mục tiêu phát triển kinh tế để đạt được các mongmuốn tối đa, trong khi xem nhẹ công tác bảo vệ môi trường, hoặc không có hoặc thiếunhững qui hoạch, kế hoạch chi tiết, cụ thể, cùng với cơ chế quản lý lỏng lẻo của nhiềuquốc gia trên thế giới, đặc biệt trong bối cảnh tác động của biến đổi khí hậu với các biểuhiện chính là sự gia tăng mực nước biển và nhiệt độ của trái đất, Vấn đề khai thác tàinguyên và bảo vệ môi trường biển ở nhiều khu vực, quốc gia ngày càng đứng trước nhiềuthách thức, nhiều nguồn tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, môi trường biển nhiều nơi bị ônhiễm đến mức báo động
Kết quả nghiên cứu của Liên Hiệp Quốc, FAO và các tổ chức quốc tế khác đều chỉ rarằng, hiện khoảng hơn 80% lượng cá toàn cầu đã bị khai thác, trong đó có đến 25% lượng
cá toàn cầu bị khai thác quá mức (overexploited) hoặc bị khai cạn kiệt (depleted), trongkhi nhiều loài sinh vật biển khác đang đứng trước nguy cơ tuyệt diệt khi sản lượng đánhbắt giảm đến 90% trong những năm gần đây
Bên cạnh thực trạng nhiều nguồn tài nguyên khoáng sản biển, tài nguyên dầu khí vànhững nguồn tài nguyên biển không tái tạo khác đang bị khai thác quá mức, thiếu tính
Trang 10bền vững, nạn phá hủy rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn cũng ngày một tăng ởnhiều nơi trên thế giới Theo ước tính, cỏ biển đã mất 30 – 60% và rừng ngập mặn –chiếm 1/3 diện tích rừng thế giới – mất đến 70% và khoảng 11% các rạn san hô trên toàncầu đã bị phá hủy hoàn toàn trước năm 1998 Trong vòng 20 năm qua, các nước ĐôngNam Á đã mất đi 12% số rạn san hô, 48% số rạn san hô khác đang trong tình trạng suythoái nghiêm trọng Các rạn san hô thường là môi trường sống của khoàng 1/4 các loài
cá, đồng thời còn là nơi cư trú của các loài sinh vật biển khác Sự mất dần của các rạn san
hô và sẽ khiến lượng cá bị suy giảm nghiêm trọng, thậm chí còn dẫn đến sự tuyệt chủngcủa một số sinh vật biển do chúng không còn nơi để cư trú và sinh sản Điều này khôngchỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường mà còn gây phát sinh nhiều vấn đề kinh tế-
xã hội do sự thiếu hụt thực phẩm cung cấp cho những cư dân sống ở các đảo và các vùngven biển, kéo theo những cuộc di dân hàng loạt từ các vùng ven biển vào các vùng trungtâm…
Cùng với sự suy giảm, cạn kiệt nhiều nguồn lợi biển do khai thác, sử dụng không hợp lý
và thiếu tính bền vững, môi trường biển ở nhiều khu vực trên trái đất đang chịu nhiềuthách thức và các mối đe dọa trầm trọng khi dân cư ven biển ngày càng tăng, các họatđộng kinh tế ven biển ngày càng phát triển, nhiều cửa sông ven biển bị ô nhiễm do nướcthải từ các khu công nghiệp, khu đô thị thải ra cùng với nạn phá hủy rừng ngập mặn ngàycàng tăng, và sự gia tăng về tần suất và mức độ ảnh hưởng của thiên tai bão lũ do biếnđổi khí hậu …
Hình 2.1.2 Sự ô nhiễm biển và đại dương
Trang 112.1.3 Hoang mạc hóa
Sa mạc hoá đe doạ đẩy hàng triệu người ra khỏi nhà của họ vào những thập kỷ tới trongkhi các cơn bão bụi lớn ở lục địa này có thể gây hại cho con người tại lục địa khác.Thông tin trên được công bố hôm 16/6 trong một báo cáo quốc tế của 1.360 nhà khoa học
ở 95 quốc gia
Theo Zafar Adeel, PGĐ Viện nước của ĐH LHQ đồng thời là tác giả chính của báo cáo,
sa mạc hoá là một vấn đề toàn cầu, ảnh hưởng tới tất cả mọi nguời Có hai tỷ người đangsống tại các vùng đất khô, có nguy cơ bị sa mạc hoá Những vùng này trải dài từ Bắc Phitới những dải đất ở Trung Á Ngoài ra, các cơn bão có thể cuốn bụi từ sa mạc Sahara vàgây bệnh hô hấp cho những người dân ở tận Bắc Mỹ Chăn thả quá nhiều gia súc và canhtác quá nhiều cây trồng, bùng nổ dân số và tưới tiêu không hợp lý đang góp phần gây samạc hoá Ước tính 10-20% đất khô trên thế giới đã bị thoái hoá
Hình 2.1.3 Hoang mạc hóa
Ấm hóa toàn cầu, do khí thải từ xe cộ,nhà máy và nhà máy điện, chắc chắn sẽlàm cho những vấn đề nêu trên ngàycàng trầm trọng trong những thập kỷ tới
do gây ra nhiều lũ lụt hơn, hạn hán vàcác đợt nóng Sa mạc hoá ngày cũng làmcho hàng triệu người nghèo buộc phảitìm nơi ở và kế sinh nhai mới Báo cáo
có đoạn: ""Sa mạc hoá là sự thay đổisinh thái nguy hiểm nhất, tác động tới kếsinh nhai của người nghèo"" Sa mạchoá còn đồng nghĩa với sự gia tăng bệnhtật, đói nghèo và sản lượng lương thựcgiảm Tỷ lệ tử vong trung bình của trẻ
em tại vùng đất khô ở các quốc gia đangphát triển là 54/1.000 ca sinh trong năm2.000, gấp đôi so với các vùng nghèokhác và gấp 10 tỷ lệ ở các nước côngnghiệp Sự gia tăng các cơn bão bụi liênquan tới sa mạc hoá được coi là nguyênnhân gây bệnh: sốt, ho, đau mắt trongmùa khô Bụi từ sa mạc Gobi ở Mông
Cổ có thể ảnh hưởng tới người dân ởNhật Bản hoặc Hawaii Một số nhà khoahọc ước tính 1 tỷ tấn bụi có thể đượcmang từ vùng Sahara vào khí quyển mỗinăm
Trang 12Hình 2.1.3 Hoang mạc hóa
2.2 Thực trạng ô nhiễm môi trường tại Việt Nam.
Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thựchiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn
đề rất đáng lo ngại Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân
số gây áp lực ngày càng nặng nề dối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ
Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởinước thải, khí thải và chất thải rắn ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất côngnghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử lý chấtthải Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng
Hình 2.2 Thực trạng ô nhiễm môi trường
Ví dụ: ở ngành công nghiệp dệt may, ngành
công nghiệp giấy và bột giấy, nước thảithường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ sốnhu cầu ô xy sinh hoá (BOD), nhu cầu ô xyhoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép
Hàm lượng nước thải của các ngành này cóchứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2Svượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lầntiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễmnặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dâncư
Trang 13tại Việt Nam.
Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước bị nhiễm bẩnbởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m3/ngày từ các nhàmáy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra
từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạntổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sôngCầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH4 là 4mg/1, hàm lượngchất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu…
Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhuộm ở Bắc Ninhcho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồnnước và môi trường trong khu vực
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội và thành phố HồChí Minh Ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có hệ thống xử lý tập trung màtrực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương) Mặt khác, còn rất nhiều cơ sởsản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệthống xử lý nước thải; một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hếtđược… là những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước Hiện nay, mức độ ô nhiễmtrong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng
Tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, hiện nay ViệtNam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu,phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đấthoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vậtngày càng cao Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số vi khuẩnFeca coliform trung bình biến đổi từ 1.500-3.500MNP/100ml ở các vùng ven sông Tiền
và sông Hậu, tăng lên tới 3800-12.500MNP/100ML ở các kênh tưới tiêu
Trang 14Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nước
ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường nước và sức khoẻnhân dân
http://www.moitruongdeal.com/hien-trang-o-nhiem-moi-truong-nuoc-tai-viet-nam.html
NGUYÊN NHÂN 3.1 Nguyên nhân của sự ô nhiễm môi trường toàn cầu
Một bức tranh toàn cảnh truyền từ vệ tinh cho thấy rằng ô nhiễm môi trường đang diễn
ra ở khắp mọi nơi trên Trái Đất Do đâu mà hiện tượng này lại phổ biến đến vậy? Nhìnnhận theo quan điểm duy vật lịch sử, nguyên nhân của sự ô nhiễm môi trường toàn cầubao gồm nguyên nhân từ tồn tại xã hội và nguyên nhân từ kiến trúc thượng tầng
Hình 3.1 Nguyên nhân của sự ô nhiễm môi trường
Những hình ảnh được Đại sứquán Mỹ tại Trung Quốc chụp lạithủ đô Bắc Kinh và đăng tải lênTwitter cho thấy khói bụi tại đâykhiến không khí mờ ảo như thể…đang sống ở một hành tinh khác,thay vì ở trái đất
Trang 15nguồn thức ăn trong nơi cư trú của mình nên phải di chuyển đến nơi khác Đó là vấn đềmôi trường sớm nhất mà con người phải giải quyết.
Ngày nay vấn đề môi trường của con người khác với thời cổ đại ở chỗ nó đó trở thànhmột vấn đề toàn cầu Nhưng xem xét một cách khách quan, nguyên nhân gây ra ô nhiễmmôi trường ngày nay cũng giống như những thời kì trước, đó là do phương thức sản xuấtcủa cải vật chất của con người chưa khoa học nên đã tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ vào
tự nhiên
3.1.2 Lực lượng sản xuất:
Người lao động trên thế giới ngày càng có trình độ, kĩ năng làm việc tốt hơn trước kia.Các công cụ được làm ra ngày càng tinh xảo và thuận lợi hơn cho con người trong quátrình lao động Yếu tố công cụ lao động cũng được xem là yếu tố động nhất, cách mạngnhất trong lực lượng sản xuất
Nhưng trên thế giới ngày nay, ở những quốc gia nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, công
cụ sản xuất còn rất thô sơ, lạc hậu, việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, thuốcbảo vệ thực vật quá mức cho phép đã khiến ô nhiễm môi trường đất, nước, không khítrầm trọng
Tại các nước phát triển như Mĩ, Trung Quốc, Nhật Bản, công nghiệp được coi là ngànhxương sống trong phát triển kinh tế, công cụ lao động được đầu tư chủ yếu là những máymóc, trang thiết bị hiện đại nhưng đối lập với nó, vấn đề môi trường vẫn chưa được quantâm đúng mức: khí thải công nghiệp, nước thải công nghiệp chưa qua xử lí xả trực tiếpvào môi trường gây ra ô nhiễm không khí và ô nhiễm nguồn nước nặng nề
3.1.3 Quan hệ sản xuất
Nếu lực lượng sản xuất biểu thị mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong quá trìnhsản xuất thì quan hệ sản xuất biểu thị mối quan hệ giữa con người với con người trongquá trình sản xuất