chẩn đoán hệ thần kinh
Trang 14 Chẩn đoán hình ảnh hệ thần kinh
Contents
Chấn thương sọ não Thanh quản
Giải phẫu mạch máu não Tuyến nước bọt Tai biến mạch máu não Nền trước hộp sọ và hố chân
Phình và xung huyết dưới Xương thái dương màng nhện
Ổ mắt Bệnh tĩnh mạch máu não Các khoang mạc của cổ trên xương móng
Tụ máu nội sọ Hạch bạch huyết cổ Bệnh chất trắng Các khối u cột sống
Nhiễm độc/chuyển hóa
Trang 2Bờ đầy (mở vào ống tủy)
= đám rối màng mạch (nơi tiết ra dịch não tủy)
Mép dính gian đồi thị là một cấu trúc bao gồm chất trắng và chất xám, đi qua não thất ba để
nối các đồi thị hai bên bán cầu não lại với nhau
Não thất III (Phóng đại)
Trang 3Dịch não tủy (CSF)
Giải phẫu não thất
Hệ thống não thất của người bao gồm hai não thất bên, não thất III và não thất IV
• Lỗ gian não thất Monro kết nối các não thất bên với não thất III
• Cống não Sylvius nối não thất số III với não thất IV
• Não thất IV tiếp tục kéo dài xuống phía dưới trở thành ống tâm tủy Ngoài ra,não thất IV còn thoát lưu dịch não tủy vào khoang dưới nhện và các bể dịch não tủy nền thông qua ba lỗ :
Hai lỗ bên Luschka (Luschka ở hai bên)
Lỗ đơn Magendie (Lỗ giữa Magendiel)
Sinh lý tuần hoàn dịch não tủy
Dịch não tủy sinh ra bởi đám rối màng mạch Các đám rối này nằm trên các vị trí cố định rải rác khắp hệ thống thất não
Không có đám rối màng mạch tại cống não, sừng chẩm hay các sừng trán của các thất não bên.
• Thể tíchdịch não tủy trong thất não xấp xỉ 25 ml Thể tích trong khoang dưới màng nhện xấp xỉ 125ml, tổng cộng khoảng 150ml
• Lượng dịch não tủy được não sinh ra khoảng 500ml/ngày, nghĩa là trong 24 giờ dịch não tủy được đổi mới hoàn toàn từ 3 đến 4 lần
• Dịch não tủy được hấp thu chủ yếu tại các hạt màng nhện (là những mỏm của màng mềm lồi vào xoang tĩnh mạch màng cứng),và một phần nhỏ còn lại được hấp thụ bởi hệ thống bạch huyết và tĩnh mạch máu não
• Phù thủy tĩnh quan sát được trên phim dưới dạng dịch lỏng bao quanh bên ngoài não thất, thường được gọi
là “transependymal flow of CSF” mặc dù trên thực tế nó không giống như dòng chảy của dịch não tủy qua các tế bào biểu mô có lông lót trong màng não thất
Phần trung tâm và sừng thái dương của các thất não bên Đỉnh của thất não III
Đỉnh của thất não IV
Trang 4Thoát vị não
Thoát vị dưới liềm
Hồi đai trượt phía dưới liềm não
Chèn ép động mạch cảnh ACA
Thoát vị móc hồi hải mã (thoát vị xuyên lều)
Thùy thái dương trung gian trượt dưới lều não
Liệt dây thần kinh CNIII cùng phía
Chèn ép động mạch PCA
Xuất huyết dạng Duret
Chèn ép cuống tiểu não phía đối diện
Thoát vị hạnh nhân tiểu não
Hạnh nhân tiểu não lệch xuongs dưới qua lỗ chẩm lớn
Chèn ép tủy sống có thể gây tử vong
• Tổng thể tích hộp sọ là cố định, do đó tăng áp lực nội sọ có thể dẫn tới các thể thoát vị não “vượt qua vách ngăn màng cứng”
• Thoát vị não cũng có thể do những tổn thương lớn gây ra (chẳng hạn như các khối u não hay tụ máu) hoặc
có thể do phù não sau 1 cơn tai biến mạch máu não lớn Do thể tích của hố sau đặc biệt giới hạn nên nhồi máu tiểu não rất dễ dẫn tới thoát vị ở vị trí này
Thoát vị dưới liềm
• Thoát vị dưới liềm quan sát được khi hồi đai trượt xuống phía dưới liềm não
• Thoát vị dưới liềm có thể ép động mạch cảnh não trước (ACA)vào liềm não,gây ra nhồi máu
• Tràn dịch não thất có thể là hậu quả của tắc nghẽn lỗ gian não thất, gây ra não úng thủy không lưu thông (não úng thủy tắc nghẽn)
Thoát vị xuyên lều
Thoát vị xuyên lều sớm : Hình ảnh Axial FLAIR MRI cho thấy một khối máu tụ ở thùy thái dương phải (mũi tên đỏ), cùng với việc sừng thái dương biến mất trên phim Khối máu tụ chèn ép đẩy móc hồi hải mã tụt nhẹ xuống phía dưới
lỗ hở của lều tiểu não, cùng với hành não bị dẹt về phía bên phải (mũi tên màu vàng).
Trang 5• Thoát vị xuyên lều hướng xuống là kết quả của việc thùy thái dương bị đẩy từ hai bên não vào phía trong xuyên qua khuyết lều, gây ra chèn ép cuống não và các cấu trúc lân cận khác.
• Thoát vị xuyên lều hướng lên là thoát vị phần đỉnh của thùy nhộng trên tiểu não, thường do ảnh hưởng của các khối u ở hố sau Biến chứng chính của thoát vị xuyên lều hướng lên là tràn dịch não do tắc cống não
Thoát vị hạnh nhân tiểu não
• Hạnh nhân tiểu não bị đẩy xuống dưới xuyên qua lỗ chẩm lớn gây ra chèn ép lên hành não Nếu có chèn
ép lên trung tâm điều khiển hô hấp trên hành não thường sẽ gây ra tử vong
Tràn dịch não
• Tràn dịch não lưu thông là sự gia tăng kích thước thất não mà không có thương tổn tắc nghẽn.
Xuất huyết dưới nhện có thể gây tràn dịch không lưu thông do cản trở các nút nhện tái hồi lưu dịch não tủy Giãn não thất áp lực bình là một dạng tràn dịch não lưu thông được chẩn đoán bởi các dấu hiệu sau : áp lực
nội sọ bình thường kèm theo các hội chứng lâm sàng : mất trí, mất khả năng thăng bằng, mất khả năng điều khiển bài tiết NPH là một chẩn đoán quan trọng vì đây là một dạng mất trí có thể chữa trị và có nguyên nhân
rõ ràng Hình ảnh cho thấy sự phình rộng của các thất não bên và thất não III
• Tràn dịch não không lưu thônglà dạng tràn dịch não gây ra bởi một tổn thương gây tắc, ví dụ như u nang
keo não thất III hoặc khối u tại hố sau gây tắc nghẽn não thất IV
Phân biệt tổn thương nội trục và ngoại trục
• Một tổn thương nội trục là tổn thương xảy ra bên trong nhu mô não, bên trong màng mềm
• Một tổn thương ngoại trục là tổn thương xảy ra bên ngoài màng mềm Toàn bộ màng não và khoang nhện là không gian ngoại trục
• Các bể DNT cơ sở (hay còn gọi là các bể
dịch ngoại vi ) là những khoang chứa đầy
DNT bao quanh não giữa và cầu não
• Sự thu hẹp hoặc biến mất của các bể DNT
cơ sở có thể là dấu hiệu của thoát vị não
• Hình bên phải là lược đồ mô tả rất trực quan
các bể DNT Trên thực tế , không phải tất cả
các bể dịch não tủy đều có thể được mô tả trên
cùng một lát cắt bình diện ngang
Dây thần kinh số III cùng bên (dây thần kinh vận động mắt) có thể bị chèn ép , dẫn tới giãn đồng
tử và liệt vận nhãn (mắt bị sụp) Chèn ép động mạch cảnh sau (PCA) cùng phía có thể gây ra nhồi máu trên thùy thái dương giữa, thùy chẩm
Xuất huyết Duret ở cuống não trên có thể xảy ra do đứt các mạch máu vốn đã bị thủng do áp lực của lệch vị lên cuống não
Cuống tiểu não phía đối diện bị ép vào vết lõm Kernohan gây ra liệt nửa người đối diện với bên não bị thoát vị
Các bể dịch não tủy chính
Trang 6Các chuỗi xung MRI trong chẩn đoán hình ảnh thần kinh
• Như đã thảo luận trong chương nguyên lí chụp cộng hưởng từ,tính chất của các mô được định hướng trong
từ trường T1 và T2 phụ thuộc vào độ dài thời gian khôi phục/giãn theo trục dọc và độ dài thời gian khôi phục/giãn theo trục ngang của các hạt proton trong mô đó Bất kỳ tín hiệu bất thường nào của mô đều được ghi lại bằng cách điểu chỉnh (kéo dài hoặc rút ngắn) pha giãn trục ngang/trục dọc
Việc rút ngắn T1 sẽ tín hiệu tạo tín hiệu mạnh hơn (xuất hiện sáng hơn) trên phim chụp T1W, và kéo dài T1 sẽ làm giảm tín hiệu (tối hơn) Ngược lại, rút ngắn T2 sẽ làm giảm tín hiệu trên phim T2W và kéo dài t2 sẽ làm tăng tín hiệu
Một sai lầm kĩ thuật đó là chỉ dựa trên các tín hiệu bất thường như “T2 sáng/tối” hoặc “T1 sáng/tối” mà kết luận rằng
đó có thể là hình ảnh biểu thị cho những bất thường bệnh lý, mà không tính tới thời gian dãn của proton Thuật ngữ đúng nên là :“ Tổn thương sáng hơn trên phim T2” hoặc “ Tổn thương cho thấy tín hiệu T2 kéo dài”
Chuỗi xung spin-echo thường T1
• Phần lớn các tổn thương trên não giảm tín hiệu trên phim T1W do kéo dài thời gian dãn trục dọc của các mô bệnh lý Sự hiện diện của các vùng tăng tín hiệu trên phim T1W (do rút ngắn T1) là dấu hiệu quan trọng dẫn tới những chẩn đoán cụ thể dưới đây
• Tác nhân rút ngắn pha T1 (làm tăng tín hiệu) bao gồm:
Chuỗi xung thường spin-echo T2
Phần lớn các tổn thương tăng tín hiệu trên phim T2W Phân tử nước có pha giãn liên tục trên T2 rất dài (nước xuất hiện rất sáng trên phim T2W) Lưu ý : Phù não có thể là dấu hiệu của rất nhiều bệnh lí khác nhau và là nguyên nhân kéo dài pha T2
• Do phần lớn các tổn thương bệnh lý tăng tín hiệu trên phim T2W,có thể phát hiện các dấu hiệu gợi ý
về các chẩn đoán phân biệt khi tổn thương gây ra giảm tín hiệu trên T2W
• Tác nhân làm giảm tín hiệu trên pha T2 bao gồm
Chuỗi xung xóa tín hiệu các dịch (FLAIR)
• Chuỗi FLAIR rất quan trọng trong chẩn đoán hình ảnh thần kinh Hình thu được từ chuỗi xung FLAIR thuộc loại hình T2W nhưng đã xóa tín hiệu của nước dựa trên đặc điểm của hình T1
• Phim FLAIR thông thường nhìn giống như phim T1W do dịch não tủy đều tối trên cả 2 loại phim Tuy nhiên cường độ tín hiệu của chất xám và chất trắng trên 2 loại là khác nhau
T1: Chất trắng bình thường xuất hiện sáng hơn chất xám vì chất trắng được myelin hóa chất béo nên
có T1 ngắn hơn
FLAIR: Chất trắng xuất hiện tối hơn chất xám
Thông thường : Gadolinium, mô mỡ và các dịch protein
Một số giai đoạn thuận từ của máu (sản phẩm giáng hóa methemoglobin, cả nội và ngoại bào)
Melanin.
Khoáng chất (đồng, sắt, manganesium).
Slowly-flowing blood.
Calcium (hiếm; xảy ra khi lan toả, không ở trong xương) Thông thường calcium sẽ giảm tín hiệu.
Hầu hết các giai đoạn thuận từ của máu (trừ máu giàu oxy và methemoglobin ngoại bào) Vôi hóa
Tổn thương xơ hóa.
Khối u giàu tế bào Với tỉ lệ nhân tế bào/tế bào chất cao, tạo ra tổn thương có thành phần nước thấp (ví dụ : lymphoma
Trang 7Chuỗi xung phản ánh mật độ proton (PD)
• Chuỗi xung PD không được sử dụng nhiều trong các chẩn đoán hình ảnh thần kinh, tuy nhiên đây là chuỗi có chỉ số tín hiệu trên nhiễu cao nhất trong các chuỗi MRI
• Trình tự PD dùng để đánh giá chứng ngạnh kết từng đám (MS), đặc biệt hữu dụng giúp quan sát các mảng thoái hóa myelin trong hố sau
Chuỗi xung khuếch tán và hệ số khuếch tán biểu kiến
• Chuỗi xung khuếch tán dựa trên giả thuyết rằng chuyển động Brownian của các hạt proton trong nước
có thể ghi lại được.Tín hiệu sẽ bị mất khi chuyển động Brownian tăng lên.Nước tự do trong dịch não tủy trải qua quá trình khử tín hiệu mạnh nhất,trong khi nhiều bệnh lí (ví dụ : thiếu máu cấp tính) làm giảm độ khuếch tán và do đó mất tín hiệu ít hơn (tín hiệu khuếch tán hạn chế)
• Phim cộng hưởng từ khuếch tán gồm 2 phần riêng biệt – phim DWI và hệ số khuếch tán biểu kiến (ADC), được kết hợp cùng nhau để đánh giá đặc điểm khuếch tán của mô
• DWI là kỹ thuật đột phátrong việc đánh giá các tổn thương ở não, giúp cải thiện độ nhạy lên 95% và là
kĩ thuật đặc hiệu để phát hiện nhồi máu não ngay từ những phút đầu tiên kể từ khi các triệu chứng bắt đầu bùng phát Ở phim chụp nhồi máu não, các mô có độ khuếch tán hạn chế là hình ảnh của nhồi máu
• DWI vốn là chuỗi T2W biến đổi (thu được bằng kĩ thuật điểm xung đồng phẳng/echo-planar) Giảm độ
khuếch tán sẽ làm tăng tín hiệu (càng ít chuyển động Brownian → càng ít mất tín hiệu) và do đó các tổn thương sẽ trở nên rõ ràng hơn (tổn thương làm chậm dòng chảy của máu/dịch → giảm chuyển động Brownian của proton trong nước → giảm khuếch tán → tăng tín hiệu)
giảm khuếch tán làm giảm tín hiệu trên bản đồ ADC Các nghiên cứu chỉ ra rằng người đọc phim thường phát hiện dấu hiệu giảm khuếch tán kém nhạy hơn nếu chỉ sử dụng bản đồ ADC, do đó DWI là chuỗi xung chính được sử dụng để phát hiện các dấu hiệu khuếch tán bất thường
các tổn thương vốn dĩ đã tăng tín hiệu trên T2W, cũng có thể tăng tín hiệu trên DWI ngay cả khi mô tổn thương không khuếch tán hạn chế Đó chính là hiện tượng “T2 chiếu sáng qua” Do đó cần kết hợp với bản đồ ADC để đối chiếu các điểm tối tương ứng trước khi kết luận độ khuếch tán tại đó có giảm hay không
• Trong não, hình ảnh khuếch tán thu được trong 3 mặt phẳng chênh từ trực giao dùng để lượng giá tính dị hướng vốn có của vùng chất trắng
Tính dị hướng là xu hướng khuếch tán đẳng hướng của các phân tử nước trong vùng chất trắng
• Hệ số nhạy cảm khuyếch tán là một khái niệm quan trọng trong việc phát hiện các bất thường trong khuếch tán Chỉ số B-value càng cao, độ tương phản của hình ảnh sẽ càng tăng tạo thuận lợi cho việc phát hiện các vùng giảm khuếch tán Mặt trái của việc tăng giá trị B-value đó là việc giảm tỉ số CNR(công suất tín hiệu trên nhiễu), trừ khi tăng thời gian chụp theo tỉ lệ tương ứng để bổ sung thêm chi tiết
Các bản đồ ADC mô tả ở trên được tính toán dửa trên ít nhất 2 ảnh có hệ số b-value khác nhau
• Ngoài việc dùng để đánh giá nhồi máu não, người ta còn dùng chuỗi xung khuếch tán để thực hiện các chẩn đoán sau đây:
Tai biến mạch máu não cấp Nhiễm khuẩn tạo mủ.
Khối u di đông,ví dụ lymphoma và medulloblastoma (u nguyên bào tủy)
U nang bã nhờn
Viêm não cấp Herpes Bệnh Creutzfeldt–Jakob.
Trang 8Chuỗi xung tín hiệu dội ngược (GRE)
• Chuỗi xung tín hiệu dội ngược ghi nhận tín hiệu T2* Do các xung điện từ phân kì 180 độ bị loại bỏ, phim chụp GRE rất nhạy cảm với các đứt quãng tín hiệu do sự không đồng nhất trong từ trường gây ra
• Protein hemosiderin và canxi tạo ra sự không đồng nhất trong từ trường, do đó tạo ra nhiễu ảnh
“blooming artifacts” trên phim và do đó những vết thương dù nhỏ cũng thu được rõ nét trên phim
• Các chẩn đoán khác nhau về các nốt tối trên GRE bao gồm :
Cộng hưởng từ phổ
• Cộng hưởng từ phổ là kĩ thuật có thể đánh giá các chất hóa học trong từng đơn vị thể tích não cụ thể Trong nhiều trường hợp, MRS có thể giúp phân biệt giữa khối u tái phát và hoại tử khối u, hoặc giúp phân biệt giữa u nguyên bào thần kinh đệm với các loại u não thứ phát khác
U nguyên bào thần kinh đệm là khối u thâm nhiễm có dãy phổ chuyển dần từ bất thường sang bình thường Ngược lại các khối u di căn thường có dãy quang phổ với nhiều đứt quãng hơn
• Tỉ lệ các hợp chất nhất định sẽ thay đổi theo các giai đoạn của bệnh N-acetylaspatate (NAA) là một chỉ
số đánh giá sức sống của tế bào thần kinh, chỉ số này sẽ giảm trong hầu hết các trường hợp bất thường.Trong các khối u, NAA giảm và choline tăng, tuy nhiênkiểu hình này là không đặc hiệu Cretine cung cấp thông tin về mức dự trữ năng lượng của tế bào Đỉnh của ba hợp chất này thể hiện trên đồ thị theo thứ tự alphabe như sau : Chrolin, creatin, NAA.
Bệnh Canavan là một dạng rối loạn thoái hóa myelin, là một trong những rối loạn có chỉ số NAA tăng cao
• Hiện tượng đỉnh lactate (lactate double) có thể quan sát được ở khối u cấp cao, chỉ ra các trao đổi chất
kị khí xảy ra trong khối u.
• “Góc thợ săn” là cách một cách nhanh chóng để đánh giá 1 chùm quang phổ có gần với mức bình thường hay không Đường thẳng nối các đỉnh cao nhất với nhau thông thường có hình dạng như đường máy bay cất cánh.
Bên trái : Quang phổ bình thường Góc thợ săn hướng lên giống như đường cất cánh của máy bay
Bên phải : Quang phổ không bình thường do oligoastrocytoma, với Cholinh cao và NAA giảm Đường nối các đỉnh sẽ chúc xuống, là dấu hiệu chỉ ra sự bất thường
Cộng hưởng từ tưới máu não (perfusion)
Cộng hưởng từ Perfusion là kĩ thuật chụp hình cao cấp, tại đó não được chụp lặp đi lặp lại dưới sự tác động của thuốc đối quang từ gadolinium Nguyên lí của PMR dựa trên đặc tính gây nhiễu loạn từ trường của gadolinium, nhưng chỉ làm giảm cường độ tín hiệu trong một thời gian ngắn
Xuất huyết vi thể do cao huyết áp (các điểm tối tập trung ở hạch nền, đồi thị, tiểu não và cầu
não)
Bệnh mạch máu não dạng bột “amyloid angiopathy” (các điểm tối xuất hiện dưới vỏ chất trắng,
thường gặp nhất tại thùy đỉnh và thùy chẩm)
Các loại di dạng mạch dạng hang gia đình(dạng di truyền của dị dạng mạch máu thể hang).
Vết thương đứt sợi trục.
Các điểm di căn chảy máu
NAA
cho cr
Trang 9 Hình ảnh Perfusion MR là hình ảnh T2*W đồng phẳng (echo-planar), có thể thu được khá nhanh chóng.
Perfusion MR được dùng để đánh giá tai biến mạch máu và các khối u não
Các kiểu bắt thuốc cản quang (bắt cản quang) trong MRI não
Bắt cản quang hàng rào máu não
Vỡ hàng rào máu não (vi mô hoặc lan rộng) sẽ gây ra tăng sáng tại nhu mô sau khi tiêm thuốc đối quang
từ, thường là biến chứng thứ phát của nhiễm trùng, viêm não, ung thư, chấn thương hoặc các nguyên nhân liên quan đến mạch máu
Hàng rào máu não được hình thành do quá trình tạo liên kết giữa tế bào hình sao và các tế bào nội mô mao mạch não, giúp bảo vệ, hạn chế chặt chẽ sự tiếp xúc trực tiếp của mao mạch hệ thống với dịch tế bào nội mô trong não
Một số vùng của não không có hàng rào máu não, do đó bình thường cũng bắt cản quang :
Màng cứng cũng không có hàng rào máu não, tuy nhiên lại không bắt thuốc cản quang như thông thường Hiện tượng này sẽ được giải thích ở sau trong phần tăng quang màng cứng (pachymeningeal enhancement)
• Bắt cản quang mạch máu thường gây ra bởi tổn thương khu trú trong dòng chảy,thường là do biến chứng thứ phát của giãn mạch, sung huyết, tăng sinh mạch máu tân tạo và shunt động tĩnh mạch
Trên phim CT, hình ảnh sau tiêm thuốccản quang ở thì động mạch (chẳng hạn CT angiogram) cho thấy các vùng ngấm thuốc nội mạch.Ngấm thuốc màng cứng (bao gồm các nếp gấp màng cứng trên liềm não và lều não) được quan sát rõ nhất sau khi tiêm một vài phút
Trên phim MRI, các chuỗi xung tăng độ tương phản thông thường được thu lại trong thì nhu mô, vài phút sau khi tiêm chất đối quang từ Phần lớn các hình ảnh MRI mạch máu nội sọ được ghi lại bằng kĩ thuật chụp TOF mạch máu não không tiêm cản quang
•
Dấu hiệu ngấm thuốc nội mạch có thể là tổn thương ngoại trục hoặc nội trục Các cấu trúc ngoại trục ngấm cản quang khi có bệnh lý thường là màng não cứng (pachymeniges) và màng nhện (leptomeninges)
Bắt cản quang vùng quanh não thất (nội trục)
• Ngấm thuốc vùng bề mặt màng nội tủy có thể là dấu hiệu của khối u, nhiễm trùng hoặc các nguyên nhân liên quan đến bệnh hủy myelin (thoái hóa myelin)
Đám rối màng mạch
Tuyến yên và tuyến tùng
Củ phễu (điều khiển nhịp sinh học, nằm ở đáy vùng dưới đồi)
Vùng cảm nhận chất hóa học (gây nôn mửa, nằm ở vùng sàn não thất IV)
Lymphoma nguyên phát tại hệ thần kinh trung ương : là một khối tăng sinh ác tính tế bào B, gồm nhiều
triệu chúng đa dạng như :ngấm thuốc quang quanh não thất, xuất hiện một hạch độc lập hoặc nhiều hạch trong não
Lymphoma nguyên phát tại hệ TKTW tăng tín hiệu trên phim CT ,hệ số khuếch tán biểu kiến (ADC) thấp và có cường độ tín hiệu thấp trên phim T2W (MRI) do tăng sinh tế bào
Lymphoma nguyên phát tại não rất ít khi lan tỏa đến màng não Ngược lại lymphoma thứ phát di căn tới não thường có xu hướng lan tỏa đến màng não ( cả màng cứng và màng mềm)
Lymphoma nguyên phát tại não có xu hướng cho thấy hoại tử trung tâm ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch, nhưng thường tăng quang đồng nhất ở những bệnh nhân có hệ miễn dịch bình thường
• Viêm màng mềm do nhiễm trùng chủ yếu do virus cytomegalo gây ra.Đặc điểm của viêm màng não thất
do nhiễm trùng là một đường bắt thuốc cản quang mỏng dọc theo biên của não thất
• U nguyên bào thần kinh đệm cũng có thể gây ra ngấm thuốc khu vực quanh não thất.
• Chứng ngạnh kết từng đám : có thể ảnh hưởng tới bề mặt của màng nội tủy Mặc dù phần lớn các tổn thương do
hội chứng thoái hóa myelin không bắt thuốc cản quang, nhưng các mảng thoái hóa đang hoạt động có thể xuất hiện sáng trên phim
Trang 10Bắt cản quang dạng cuộn rãnh Gyriform (nội trục)
Bắt thuốc cuộn vỏ não trên chuỗi xung T1 sau tiêm thuốc cản quang : ( Hình bên trái) Phim T1W axial
sau cản quang xuất hiện một vùng ngấm thuốc tập trung dọc theo bề mặt của hồi não ở thùy trán Khu
vực này tăng tín hiệu trên trên bản đồ ADC (mũi tên trên hình phải) , đồng nghĩa với tăng độ khuếch
tán Không có dấu hiệu của hạch Kết luận : tai biến mạch máu não bán cấp muộn
• Bắt cản quang bề mặt vỏ nào có thể do các nguyên nhân sau : nhiễm trùng não, viêm não hoặc thiếu máu não cục bộ
Bắt cản quang dạng nốt nhỏ dưới vỏ não (Nội trục)
• Các nốt ngấm thuốc cản quang nhỏ phần lớn do các bệnh ung thư di căn lên não
• Các khối u di căn qua đường máu thường được tìm thấy tại ranh giới tiếp xúc giữa chất xám và chất trắng dưới vỏ não Các huyết khối của khối u bị chặn lại tại giao lộ giữa các mạch máu đơn giản trong nhu mô chất trắng với hệ thống mạch máu dày đặc của chất xám
• Phù não hầu như luôn xuất hiện ở các khối u di căn đến vùng ranh giới chất trắng – xám, trong khi đó một số di căn mặc dù chỉ ở xa vỏ não hơn một chút cũng sẽ không biểu hiện bất cứ một dấu hiệu phù nề nào,và chỉ có thể được phát hiện sau khi đã tiêm thuốc cản quang
• Trái với hình thức phát tán di căn thông qua động mạch (thường xảy ra dưới vỏ não), di căn thông qua tĩnh mạch thường phát tán các khối u đến vùng hố sau thông qua việcvận chuyển máu qua đám rối tĩnh mạch vùng dốc xương chẩm và xương bướm
Bắt cản quang dạng nhẫn (tổn thương nội trục)
• Viêm não Hepre là bệnh lý nhiễm trùng gây hoại tử nguy hiểm của nhu mô não do sự tái hoạt hóa HSV-1
tiểm ẩn ở người ở trong hạch thần kinh sinh ba Thùy thái dương trung gian và hồi đai thường bị ảnh hưởng trước tiên, hình ảnh bắt cẳn quang tại hồi này là hậu quả của sung tấy, xuất huyết não và vỡ hàng rào máu não Các vùng bị ảnh hưởng thường cho thấy tín hiệu giảm khuếch tán
• Viêm màng nãocũng có thể gây tăng quang hồi não đi kèm với hình ảnh tăng quang màng não mềm điển hình (sẽ thảo luận trong phần sau)
• Nhồi máu mão bán cấp xuất hiện trên phim là một vùng tăng quang hồi não kéo dài 6 ngày cho tới 6 tuần
sau khi cơn thiếu máu cục bộ khởi phát (initial ischemic event)
Trái ngược so với hình ảnh tăng quang hồi não trong nhồi máu não bán cấp, nhồi máu não cấp xuất hiện là một vùng tăng quang mạch máu do giãn mạch máu não bên và chảy máu não
• Hội chứng tổn thương não phía sau có khả năng hồi phục (PRES) Là hội chứng phù nề do giãn mạch
chất trắng gây ra, được kích hoạt bởi altered autoregulation , xuất hiện trên phim là hình ảnh tăng quang hồi não
Trang 11Bệnh nhân 1 : Phim T1W axial có cản
quang cho thấy tổn thương hình nhẫn
hai thùy ở bên phải vỏ não Nguyên
nhân do nhiễm ấu trùng sán lợn ở não
Bệnh nhân 2: phim T1W axial sau cản quang cho thấy tổn thương hình nhẫn bất thường che mất ngã ba não thất trái và lan rộng sang lồi thể chai (mũi tên) Đây
là hình ảnh của u nguyên bào thần kinh đệm
Bệnh nhân 3 : phim T1W axial sau cản quang cho thấy tổn thương hình nhẫn trên thùy đỉnh trái dính sang mép của liềm não, Đây là hỉnh ảnh của ung thư vú di căn.
• Ngấm thuốc hình nhẫn là biểu hiến thường gặp nhất của một loạt các bệnh lý khác nhau Hai nguyên nhân thường gặp nhất là các khối u cấp độ cao và áp-xe não
• Quy tắc MAGIC DR (metastasis, abscess, glioma, infarct, contusion, demyelination,andradiation: di
căn, áp xe,u thần kinh đệm, nhồi máu,đụng giập chấn thương,thoái hóa myelin và xạ trị) hữu ích cho việc ghi nhỡ các bệnh lý liên quan đến ngấm thuốc hình nhẫn.Thông thường,có thể thu hẹp phạm vi chẩn đoán dựa trên kiểu bắt thuốc (kiểu nhẫn) kết hợp với các chuỗi MRI bổ sung và tiền sử bệnh lý
• Di căn: Các di căn theo đường máu thường được phát hiện ở ranh giới chất xám-chất trắng Thường có nhiều
ổ di căn, nhưng các tổn thương nhỏ ít khi có ngấm thuốc hình nhẫn
• Áp-xe:Áp xe sinh mủ hình thành do một tổ nhiễm trùng biệt lập , có hoại tử sinh mủ ở trung tâm áp xe
Hình ảnh đặc trưng của áp-xe là một tổn thương giảm độ khuếch tán (sáng trên phim DWI và tối trên phim ADC), là do vùng hoại từ trung tâm của ap-xe chứa dịch nhớt , ngoài ra ap-xe còn xuất hiện dưới dạng một vành bánh xe, mịn, đều và giảm tín hiệu trên phim T2W
• U thần kinh dệm: Các khối u cấp cao như glioblastoma thương có thành dầy vàhình dạng bất thường
Chụp MRI quang phổ đa đơn vị thể tích cho thấy bờ ngoài bắt cản quang bất thường bên ngoài một khối
u ở trung tâm (trung tâm khối u không ngấm thuốc),bờ ngoài được hình thành từ các tế bào đệm thần kinh ác tính do xâm lấn từ khối u trung tâm Điều này trái với tổn thương hủy myelin,áp xe, hay ung thư
di căn, ở các bệnh này quang phổ bất thưởng ở trung tâm và trở lại bình thường ở lề của các tổn thương MRI tưới máu cho thấy lưu lượng tưới máu cao ở u thần kinh đệm cao cấp
• Nhồi máu: Nhồi máu bán cấp dưới vỏ não thường bắt cản quang dạng cuộn rãnh, tuy nhiên có thể thấy bắt
cản quang hình nhẫn ở nhồi máu bán cấp vùng hạch nền Không giống với nhiễm trùng và khối u, nhồi máu bán cấp không gây ra hiệu ứng khối choán chỗ
• Đụng giập não:Chảy máu nội nhu mô trong giai đoạn bán cấp và mãn tính (cả 2 trường hợp : do chấn
thương hoặc không do chấn thương) đều cho thấy ngấm thuốc hình nhẫn
• Thoái hóa myelin :Hình ảnh điển hỉnh của bệnh hủy myelin là các vòng ngấm thuốc hình nhẫn nhưng
không có hiệu ứng khối u choán chỗ Các vòng cản quang thường không khép kín hoặc có hình chữ C
Bệnh đa xơ cứng (Multiple sclerosis) là bệnh thoái hóa myelin phổ biến nhất Dấu hiệu bắt cản quang cho thấy bệnh đang hoạt động
Hình ảnh thông thương của hủy myelin và các vòng bắt cản quang không hoàn chỉnh, ngoại trừ hủy myelin giả u có hình dạng giống với một khối u cấp độ cao
• Hoại tử do phóng xạcó thể trông giống như một khối u ác tính Trên phim xạ hình tưới máu, lưu lượng máu đến
não thấp ở bệnh hoại tử do phóng xa, nhưng thường cao ở các khối u độ ác tính cao
Trang 12Bắt cản quang ở màng não cứng (Ngoại trục)
Ngấm thuốc màng cứng lan tỏa: Phim T1W axial (ảnh trái) và coronal (ành phải) cho thấy màng cứng bắt cản quang lan tỏa Đây là hình ảnh của giảm áp nội sọ
• Từ pachymeninges trong tiếng anh đề cập đến màng cứng(pachy nghĩa là dày – được người Anh ví von với hình ảnh một con voi có lớp da rất dày, ám chỉ những người da mặt dày @@!), do phần này là phần phủ ngoài cùng của não, dày và dai giống như da
• Ngoài việc bao phủ bề mặt của não, màng cứng còn tạo thành các nếp gấp của não, bao gồm liềm não, lều não, và xoang hang
• Màng cứng không có hàng rào máu não Mặc dù các phân tử thuốc tăng độ tương phản thường khuếch tán vào màng cứng trong CT/MRI nhưng ngấm thuốc trên màng cứng không bao giờ thấy trên phim CT
và chỉ nhìn thấy trên MRI trong các tình huống sau :
Không thể quan sát màng cứng bắt cản quang trên CT vì cả xương sọ và vùng màng cứng ngấn thuốc tiếp giáp với nó đều xuất hiện trắng trên hình ảnh
Cũng không thể quan sát màng cứng khỏe mạnh ngấm thuốc trên MRI do đặc tính của MRI chỉ cho thấy tăng cản quang khi có mặt cả proton của nước và gadolinium Ở các mô màng cứng khỏe mạng, tuy gadolinium khuếch tán vào trong màng cứng nhưng lại có rất ít proton của nước Nhưng các bệnh lý màng cứng thường gây ra phù
nề do đó cung cấp đủ nước khiến gadolinium có thể nhìn thấy được Do đó, màng cứng bắt cản quang trên MRI thường là dấu hiệu của phù nề màng cứng hơn là vỡ hàng rào máu não
• Giảm áp nội sọ:Giảm áp lực dịch não nội sọ kéo dài có thể dẫn đến phù vận mạch ở màng cứng
Giảm áp nội sọ có biểu hiện lâm sàng là đau đầu theo tư thê, tăng nặng khi đứng thẳng
Giảm áp nội sọ có thể do nguyên nhân tự phát hoặc là bệnh thứ phát do dịch não tủy rò rỉ sau phẫu thuật hoặc rò cột sống thắt lưng
Phim chụp hình ảnh giảm áp nội sọ cho thấy đường ngấm thuốc dày, thẳng của màng màng cứng, phì đại tuyến yên, và "võng" hạnh nhân tiểu não Có thể có xuất huyết dưới màng cứng do tác dụng co kéo ảnh hưởng tới các tĩnh mạch não
• Hậu phẫu:Ngấm thuốc màng cứng có thể nhìn thấy sau phẫu thuật.
• Sau chọc dò tủy sống:Màng cứng bắt cản quang lan tỏa thỉnh thoảng được thấu sau khi chọc dò tủy sống (<5%
các trường hợp)
• Khối u màng não : Chẳng hạn như u màng não, có thể tạo ra một ổ bắt thuốc ở trên màng cứng, được gọi là dấu
hiệu “đuôi màng cứng” (dural tail), do gây ra các thay đổi hoạt động trao đổi chất trong màng cứng Các khối u
di căn đến màng cứng (phổ biến nhất là ung thư vú ở nữ và ung thư tuyến tiền liệt ở nam) thường gây ra bắt thuốc hình thù bất quy tắc
• Các bệnh tao u hạt, bao gồm bệnh sarcoidosis, lao,và nhiễm nấm có thể gây bắt cản quang ở màng cứng, thường là ở
màng não của nền sọ
Trang 13• Màng não mềm (lepto trong Leptomenigeal nghĩa là mỏng) bao gồm màng mềm và màng nhện
màng mềm và khoang nhện vốn bám theo các rãnh của não
• Khoang dưới nhện tăng tín hiệu trên phim FLAIR có phạm vi chẩn đoán trùng với của bắt cản quang trên màng mềm Tăng tín hiệu trên phim FLAIR của màng nhện có thể do các nguyên nhân sau :
Viêm màng não và ung thư biểu mô màng mềm đều tăng tín hiệu FLAIR ở khoang dưới nhện và ngấm thuốc cản quang ở màng não mềm
Xuất huyết dưới nhện làm tăng tín hiệu FLAIR ở khoang dưới nhện, nhưng không ngấm thuốc cản quang ở màng não mềm Nhiễu Blooming artifact trên GRE hoặc SWI gây ra do các sản phẩm giáng hóa của máu sẽ giúp phân biệt xuất huyết dưới nhện và ung thư biểu mô
Khi bệnh nhân thở oxy hoặc sử dụng liệu pháp gây mê, tín hiệu FLAIR ở khoang dưới nhện tăng nhưng
có dấu hiệu bắt thuốc cản quang.
• Viêm màng não (do vi khuẩn, virus, hoặc nấm) là các chẩn đoán phân biệt chính cần nghĩ tới khi có bắt cản quang ở màng não mềm
Màng não mềm ngấm thuốc trong viêm màng não là do vỡ hàng rào máu não do viêm hoặc nhiễm trùng
Tăng quang (bắt thuốc) đều, dạng đường thẳng gợi ý về viêm màng não do vi khuẩn hoặc virus
Tăng quang dày hơn, dạng nốt gợi ý về viêm màng não do nấm
• Ung thư biểu mô màng não mềm, còn gọi là viêm màng não do ung thư, là sự xâm nhập của khối u vào khoang dưới nhện do các khối u não nguyên phát hay di căn gây ra
Các khối u hệ thần kinh trung ương có thể gây ra ung thư biểu mô màng não mềm bao gồm: u
nguyên bào tủy, oligodendroglioma, khối u đám rối màng mạch, ung thư hạch, ependymoma,
glioblastoma, và germinoma Mnemonic: MOCLEGG hoặc GEMCLOG
Các khối u di căn gây ra ung thư biểu mô màng não bao gồm ung thư hạch và ung thư vú
• Viêm não do virus có thể khiến các dây thần kinh nội sọ bắt cản quang ở khoang dưới màng nhện
• Tín hiệu dòng chảy chậm có thể khá giống với tín hiệu tăng cản quang ở màng mềm khi nhìn thoáng qua, nhưng khi kiểm tra cẩn thận sẽ thấy rõ sự khác biệt Tín hiệu dòng chảy chậm xuất hiện dưới dạng các ổ tăng tín hiệu FLAIR rải rác khắp hệ thống mạch máu do máu vốn có tín hiệu cao, do đó có thể nhìn thấy ở tất cả các phim của toàn bộ các loạt xung thu được (khác với tăng cản quang ở màng mềm chỉ nhìn thấy trên 1 số lát cắt) Dòng chảy chậm ở các mạch máu ngoại vi trong bệnh moyamoya gây ra dấu hiệu “dây thường xuân”
Trang 14220
Trang 15Khối u não
Các bước tiếp cận, đánh giá tổn thương não khu trú.
Xác định những biến chứng liên quan đến khối u trên não ?
Có 3 biến chứng chính do các khối u não gây ra, đó là : xuất huyết não, tràn dịch não và lệch vị CT scan
là phương pháp hình ảnh tốt để đánh giá các biến chứng này
Xuất huyết não: Các khối u thần kinh nguyên phát hoặc thứ phát thường phát triển các mạch máu tân tạo
và các mạch máu này dễ bị vỡ (xuất huyết) hơn các mạch máu thông thương
Khối u nguyên phát gây xuất huyết thường gặp nhất trên não là u nguyên bào thần kinh đệm
Cáckhối u di căn lên nãogây xuất huyết não bao gồm ung thư tế bào hắc tố (melanoma), ung thư thận, ung thư tuyến giáp và ung thư nhau thai (choriocarcinoma) Ngoài ra, ung thưvú và ung thư phổi có tần suất gâyxuất huyết ít hơn, tuy nhiên hai dạng ung thư này lại rất phổ biến nêncũng cần cân nhắc đến hai bệnh này khi bệnh nhân có các khối u xuất huyết não
• Tràn dịch não: Một khối u có thể gây ra tràn dịch não do ngăn cản sự lưu thông của dịch não tủy
Các khối u hố sau làm tăng nguy cơ tràn dịch não do chèn ép não thất IV
Lệch vị : Tổng hợp các ảnh hưởng của khối u lên nhu mô não bao gồm sự chèn ép các hạch và phù vận
mạch liên quan tới khối u có thể kết hợp gây ra lệch vị não
Xác định khối u nội trục hay khối u ngoại trục ?
Sau khi đánh giá tình trạng của các biến chứng trên, bước tiếp theo cần làm là phân loại tổn thương là nội trục hay ngoại trục Đôi khi rất khó để có thể để có thể phân biệt được chính xác
• Mặc dù các di căn có thể ở nội trục hoặc ngoại trục, các phạm vi chẩn đoán cho mỗi phân vùng là hoàn toàn khác nhau (mỗi dạng khối u có xu hướng xảy ra trên 1 phân vùng nhất định)
• Để nhận biết một khối u có phải u ngoại trục hay khôngcần lưu ý các đặc điểm sau: có dịch não tủy ở giữa ngăn cách khối u và não,chất xám bị uốn cong, có một lớp chất xám nằm giữa khối u và chất trắng
Khối u ngoại trục : Phim axial T2W (ảnh trái) cho thấy hình ảnh của một khối u dạng nang không đồng nhất tiếp giáp với thùy trán Một kẽ dịch não tủy (mũi tên vàng) ngăn cách khối u với nhu mô não, quan sát được đường uốn chất xám bao quang khối u (mũi tên xanh) → vị trí của khối u là ngoại trục Trên phim coronal T1W (ảnh phải) quan sát được lớp chất xám nằm giữa khối u và chất trắng (múi tên đỏ) Khối u ngấm thuốc đồng nhất và xâm nhập vào xương hộp sọ.Đây là khối u màng não tủy
Trang 16• Để nhận biết một khối u nội trục : cần lưu ý khối u nội trục không có lớp chất xám ngăn cách giữa chất trắng với khối u.
Khối u nội trục : Phim axial T2W cho thấy 1 khối u nang lớn với các thành phần ngấm thuốc ở mép.Khối
u nằm trên thùy trán/thái dương và làm biến mất não thất phải, đẩy đường giữa lệch sang trái Khối u tiếp xúc trực tiếp vớichất trắng (mũi tên vàng) mà không có phần chất xám ngăn cách ở giữa Phim axial T1W sau phản quang (hình phải) một lần nữa cho thấy khối u tiếp giáp trực tiếp với chất trắng → vị trí nội trục Đây là hình ảnh u sao bào vàng đa hình (pleomorphic xanthoastrocytoma)
• Phù nề chất trắng không phải là dấu hiệu đặc hiệu cho chẩn đoán khối u nội trục Trên thực tế, u màng não (khối tân sinh màng cứng ngoại trục) cũng có thể gây ra phù chất trắng
• Bắt cản quang màng não thường quan sát được ở các khối u ngoại trục , tuy nhiên cũng có thể quan sát được ở một vài khối u nội trục
Xác định vị trí cụ thể khối u nằm ở đâu?
• Dựa trên vị trí của khối u các bác sĩ có thể thu hẹp phạm vi chẩn đoán Ví dụ : khối u trên thùy thái dương,
hố sau, tuyến tùng, vị trí trên hố yên có thể là gợi ý để đưa racác chẩn đoán cụ thể
Xác định tổn thương có ngấm thuốc cản quang hay không?
• Các khối u não thứ phát (di căn lên não) luôn bắt thuốc cản quang do tạo các mạch máu tân sinh, các mạch máu tân tạo này không có hàng rào máu não giữa lòng mạch và nhu mô não
• Các khối u thần kinh nguyên phát có thể hình thành các mạch máu não gần giống với các mạch máu bình thường (có hàng rào máu não hoàn chỉnh)
• Mức độ ngấm thuốc không liên quan đến phân độ mô học của khối u Thậm chí một số khối u não lớn,cấp cao cũng chỉ bắt thuốc cản quang nhẹ Ngược lại, các u hình sao bào lông lành tính tuổi vị thành niên xuất hiện trên phim dưới dạng các nốt ngấm thuốc mạnh, thường liên kết với một u nang lân cận
Xác định số lượng tổn thương
• Nếu có nhiều hơn một tổn thương, cần nghĩ tới ung thư đã di căn
Xác định các đặc điểm tín hiệu cá biệt của tổn thương.
• Như đã mô tả trong phần trước, hầu hết các tổn thương não tăng tín hiệu trên phim T2W và giảm tín hiệu trên phim T1W Các tín hiệu MRI sẽ trở thành thông tin hữu ích nhất nếu như tổn thương đi ngược lại quy tắc trên : giảm tín hiệu trên phim T2W hoặc tăng tín hiệu trên phim TW1
Trang 17• Các khối u giảm tín hiệu trên phim T2W bao gồm :
• Một số khối u thần kinh có cấu trúc thể nang sẽ đồng cường độ tín hiệu trong mọi trường hợp
Chú ý : Nang kén thường ở ngoại vi của các khối u cấp thấp Ngược lại hoại tử trong nhân của khối u cấp cao giống như tín hiệu của dịch não tủy, chúng thường được bao quanh bởi các khối u đã bắt thuốc
Tế bào thần kinh đệm
Tổng quan về tế bào thần kinh đệm
• Glioma (u thần kinh đệm) là một khối u hệ thần kinh
trung ương nguyên phát xuất phát từ tế bào thần kinh
đệm, Tế bào thần kinh đệm bao gồm tế bào hình sao, tế
bào ít nhánh,tế bào màng ống nội tủy và các tế bào đám
rối mạch mạc
• Do các tế bào thần kinh đệm không chỉ phân bố ở não
do đó u thần kinh đệmkhông chỉ xuất hiện ở não
Người ta dùng thuật ngữ Gloma để chỉ các khối u xuất
phát từ một trong những tế bào thần kinh đệm vừa nêu
• Tế bào ít nhánh cũng phân bố khắp não bộ và tủy sống.
Tế bào màng ống nội tủy
• Chức năng của tế bào màng ống nội tủy là tuần hoàn dịch não tủy với với các lông mao rung của chúng
• Tế bào màng ống nội tủy nằm ở các não thất và bể dịch não tủy trung tâm của tủy sống
Tế bào đám rối mạch mạc
• Chức năng của các tế bào đám rối mạch mạc là sản xuất dịch não tủy Tế bào đám rối mạng mạch thực chất
là do các tế bào màng ống nội tủy biến đổi thành
• Tế bào đám rối mạng mạch phân bố ở trong các thất não, trong sừng thái dương và sừng trung tâm mỗi thất bên, đỉnh của não thất III và đỉnh của não thất IV
Ung thư tế bào sắc tố di căn (melanin cũng tăng tín hiệu trên phim T1W) Các khối u tạo mỡ, chẳng hạn như u nang bì hoặc u quái
Các ung thư di căn qua đường máu (bao gồm ung thư thận, tuyến giáp, ung thư biểu mô rau, ung thư tế bào hắc tố)
Các u nhầy di căn, chẳng hạn như 1 số loại ung thư đường tiêu hóa.Chú ý rằng cácu nhầydi căn lên não thể hiện cường độ tín hiệu trên phim T2W rất khác nhau, phụ thuộc vào hàm lượng nước trong niêm dịch (nhầy) Các dịch ngậm nước này là nguyên nhân gây tăng tín hiệu trên phim T2W
Các khối u tăng sinh, Gồm lymphoma, u nguyên bào tủy, u tế bào mầm, và một vài dạng u nguyên bào thần
Trang 18U sao bào não độ I
U sao bào lông thể thiếu niên (JPA)
U sao bào lông (JPA) : Phim sagittal T1W sau
cản quang cho thấy một khốilớn dạng nang ở
vùng hố sau có các thành phần đặc bắt thuốc
không đồng nhất ở phía trên (mũi tên) Não thất
IV biến mất hoàn toàn, cuống não cũng bị biến
dạng , kèm theo tràn dịch não nghiêm trọng
U sao bào lông ở một bệnh nhân khác : phim axial T1W sau cản quang cho thấy một tổn thương dạng nang ở thùy trán phải bắt thuốc mạnh với một nốt đặc bắt cản quang (mũi tên) Hình dạng củakhối u bình thường(dạng trong nang có nốt) nhưng vị trí của khối u (trên lều) là tương đối bất thường
• U nang sao bào lông thể thiếu niên (juvenile pilocytic) là khối u lành tính độ I thường thấy ở hố sau ở trẻ
em theo phân độ của tổ chức y tế thế giơi (WHO)
• Hình ảnh cho thấy 1 khối u nang giới hạn rõ ràng, kèm theo 1 nốt ngấm thuốc cản quang với phù nề nhẹ xung quanh Khi xuất hiện ở hố sau, JPA có thể gây chèn ép não thất IV
• JPA còn có thể xuất hiện dọc theo đường dẫn thần kinh thị giác, khoảng trên 1/3 các khối u sao bào lông trên đường dẫn thần kinh thị liên quan tới u thần kinh sợi loại 1 (NF1) Các khối u JPA hố sau không có mối liên quan nào với NF1
U sao bào (u sao bào sợi)
• U sao bào sợi là cáckhối u xâm lấn hệ thần kinh bao gồmu sao bào độ thấp, u sao bào mất biệt hóa, và u nguyên bào đệm đa dạng (GBM)
• U tế bào hình sao có thể xảy ra trên cả não và tủy sống
U tế bào sao độ thấp (Low-grade astrocytoma)
Ung thư tế bào sao độ thấp : Phim axial FLAIR cho thấy vùng giảm T2 kéo dài trung bình và hơi dầy trên một hồi đơn
lẻ ở thùy trán trái (mũi tên)
• U sao bào độ thấp là khối u độ 2 theo phân loại của WHO, thường thấy dưới dạng khối tăng tín hiệu trên phim T2W, nhưng không bắt cản quang Các hình ảnh ghi lại được của khối u có thể mờ nhạt
Trang 19U sao bào giảm biệt hóa (Anaplastic astrocytoma)
U sao bào giảm biệt hóa : Phim axial FLAIR
cho thấy khối tín hiệu T2 kéo dài ở vùng chất
trắng của thùy chẩm trái và vỏ não (mũi tên),
không có vùng bắt cản quang Đây là hình ảnh
không đặc hiệu do có thể là hình ảnh của u sao
bào độ thấp
U sao bảo giảm biệt hóa trên bệnh nhân khác : Phim axial T1W sau tiêm cản quang cho thấy một khối bắt cản quang ở thùy thái dương phải (mũi tên) Hình ảnh trên cũng không đặc hiệu do có thể là là hình ảnh của glioblastoma hoặc cácloại ung thư di căn khác.
• U sao bào giảm biệt hóa là khối u độ 3 theo phân độ của WHO Biểu hiện của chúng rất đa dạng : từ những vùng vỏ não dày hóa (giống như u sao bào não độ thấp) cho tới dạng khối u bắt thuốc mạnh bất thường có hình dạng giống như glioblastoma Tiến triển tự nhiên của bệnh cuối cùng sẽ phát triển thành u nguyên bào đệm đa dạng (glioblastoma)
U nguyên bào đệm đa dạng (GBM)
• U nguyên bào thần kinh đệm đa dạng là khối u rất ác tính bậc 4
ở người trưởng thành (theo bảng phân độ của tổ chức WHO)
Đây là khối u ác tính nguyên phát phổ biến nhất ở hệ thần kinh
trung ương GBM có hình thù biến đổi đa dạng nhưng thường
xuất hiện dưới dạng khối u vùng chất trắng, bắt thuốc không
đồng nhất và các vùng lân cận có tín hiệu T2 kéo dài nhưng
không ngấm thuốc
Phần lớn vùng tín hiệu T2 kéo dài lân cận khối u được cho là thế
hiện sự xâm lấn của khối u
• GBM là dạng ung thư xâm lấn phát tán qua các bó chất trắng,
qua dịch não tủy và màng lót ống nội tủy
Di căn dưới màng ống nội tủy là quá trình phát tán tế bảo ung thư
GBM qua thành của màng não thất (thành phía dưới các tế bào ống
nội tủy) được mô tả trong trường hợp bên phải
• Khối u GBM phát triển xuyên qua đường giữa, thông qua thể
chai, gọi là “butterfly glioma” Các chẩn đoán phân biệt đối với
một khối u xâm lấn qua thể chai là : u nguyên bào đệm thần kinh
đa dạng, lymphoma hoặc bệnh thoái hóa myelin
Khối u GBM di căn qua thể chai : Phim T1W sau tiêm cản quang cho thấy 1 vùng bắt thuốc mạnh bất thường, xuất phát ở thùy chẩm trái, sau đó xâm lấn sang vùng nhu mô quanh não thất trên cả hai thùy trán , thông qua bề mặt của hồi đai ( mũi tên)
Trang 20Các loại u thần kinh đệm khác
U thần kinh đệm não lan tỏa (Gliomatosis cerebri)
• U thần kinh đệm não là khối u tế bào sao bậc trung
(bậc II hoặc bậc III) xâm nhập và lan tỏa trên tất
cảcác thùy não
• Các dấu hiệu của u thần kinh đệm não là : lan tỏa
trên ít nhất 2 thùy cũng với sự xâm nhập vỏ não
trên các cấu trúc khác như hạch nền, thể chai,
cuống não hoặc tiểu não
• U thần kinh đệm não có tiên lượng xấu và có thể
tiến triển thành GBM
• Hình ảnh thường gặp của u thần kinh đệm não là
một khối tín hiệu T2 khuếch tán kéo dài, trải rộng
khắp các khu vực bị ảnh hưởng
Khối tín hiệu T2 kéo dài khuếch tán có thể thấy trong rất nhiều trường hợp, thường gặp trên các bệnh nhân suy giảm miễn dịch, ví dụ : lymphoma, bệnh não chất trắng đa ổ tiến triển(thoái hóa myelin do virus JC) và các biến chứng thần kinh của AIDS
• U thần kinh đệm não lan tỏa thường gây ra
hiệu ứng khối u choán chỗ nhưng không
bắt thuốc cản quang.
U thần kinh đệm ít nhánh
• U thần kinh đệm ít nhánh là khối u bậc II theo tổ
chức WHO, phát triển chậm và xuất phát từ vùng
vỏ não
• Thường gặp trên các bệnh nhân trẻ cho tới trung
tuổi có biểu hiện co giật
• U thần kinh đệm ít nhánh thường có xu hướng
vôi hóa (xấp xỉ 75% vôi hóa) Các biến thể của
chúng như : u đệm thần kinh hỗn hợp
(oligoastrocytoma) và u đệm thần kinh hỗn hợp
giảm biệt hóa (anaplastic oligodendroglioma) có
mức ác tính cao hơn rất nhiều
U thần kinh đệm hỗn hợp là khối u hỗn hợp trong đó có cả thành phần tế bào hình sao
Tiên lượng của u thần kinh đệm hỗn hợp thường tốt hơn so với khối u GBM nguyên phát, mặc dù nó có thể thoái triển thànhmột khối u GBM
U đệm thần kinh hỗn hợp giảm biệt hóa thường không thể phân biệt được với GBM trên hình ảnh và có tiên lượng xấu
U thần kinh đệm não lan tỏa : Phima axial FLAIR cho thấy khối tín hiệu T2 khuếch tán kéo dài trên chất trắng
ở thùy thái dương trung gian phải (vùng hồi hải mã) , và thùy trán (mũi tên) Cóhiệu ứng khối u choán chỗ trung bình và lệch sang phải
U thần kinh đệm ít nhánh: Phim CT không cản quang cho thấy vùng khối u giảm tỉ trọng ở thùy trán trái kèm theo vôi hóa Không có phù nề xung quanh chứng tỏ đây là một khối u phát triển chậm
Trang 21U màng não thất (u tế bào ống nội tủy)
U màng não thất : Ảnh T1W trước cản quang (hình trái) và hình sagittal T1W sau cản quang cho thấy một khối u chia thùy ngấm thuốc mạnh, có đồng cường độ tín hiệu , xuất phát từ não thất IV (mũi tên) Có thắt nút cuống não và não úng thủy do tắc nghẽn ở não thất III
• U màng não thất là khối u xuất phát từ các tế bào màng ống nội tủy, có xu hướng phát triển tại vùng hố sau
ở trẻ em và trong tủy sống ở người trưởng thành
• Các khối u màng não thất trong hố sau ở trẻ em được gọi là khối u “kem đánh răng” vì nó có xu hướng lấp đầy não thất IV, sau đó bị nénrồi di chuyển qua các cống Magendie và Luschka để xâm nhập bể dịch não tủy nền (giống như hình ảnh khi bóp tuýp thuốc đánh răng) Trong khi đó, u nguyên bào tủy (là khối u não hay gặp nhất ở trẻ em), cũng bắt đầu từ hố sau, nhưng lại ít khi bị nén qua các cống não.
• U tế bào ống nội tủy cột sống ở người lớn có thể xuất hiện ở bất kì vị trí nào trong tủy sống Một chẩn đoán phân biệt khác của các khối u trong tủy sống là u sao bào,thường xảy ra ở người trẻ tuổi Không thể phân biệt u tế bào ống nội tủy và u sao bào trên phim MRI
U nguyên phát thần kinh không liên quan đến tế bào thần kinh đệm
Bệnh Lhermitte–Duclos
• Bệnh Lhermitte–Duclos, hay còn gọi là u hạch thần kinh tiểu não không biệt hóa, là khối u tiểu não độ I theo thang chia độ của WHO,là thể hỗn hợp của u mô thừa (Hamartoma) và u tân sản (neoplasm)
• Bệnh Lhermitte–Duclosđược cho rằng có mối liên hệ với hội chứng Cowden ( hội chứng đa polyp mô đệm
và làm tăng nguy cơ mắc một số bệnh ung thư khác)
• Các hình ảnh MRI cho thấy tổn thương có các đường vạch dạng vân hổ trên các bán cầu tiểu não,khối u hiếm khi bắt thuốc cản quang
Ung thư biểu mô phôi
• Khối u ung thư biểu mô phôi là khối u độ 4, tiến triển ác tính ở trẻ nhỏ, thường được gọi là u ngoại bì thần kinh nguyên thủy (PNET) Khối u PNET nội sọ thường xuất hiện ở hố sau nhưng thỉnh thoảng cũng có thể nằm ở trên lều tiểu não
U quái hình que không điển hình (ATRT)
• U quái hình que không điển (Atypical teratoid/rhabdoid tumor) hình xếp độ 4, là khối u ác tính xuất hiện tương tự như u nguyên bào tủy, nhưng xảy ra trên các bệnh nhân trẻ hơn một chút Thường khởi phát ở hố sau ATRT có mối quan hệ chặt chẽ với khối u ác tính thận dạng vân (rhadoid)
Trang 22U nguyên bào tủy
Phim axial CT không cản quang cho thấy khối tăng
tỉ trọng ở đường giữa hố sau (mũi tên) Não thất IV gần như biến mất kéo theo tràn dịch não
Phim MRI T1W sau cản quang cho thấy khối u ngấm thuốc mạnh (mũi tên) đã xâm lấn hoàn toàn não thất IV Xuất hiện các khối u đãdi căn tới màng não mềm,ngấm thuốc, nằm ở ống tai trong của cả 2 bên cầu não (mũi tên xanh)
Phim sagittal không cản quang cho thấy phía trước khối u đã choán chỗ hoàn toàn não thất IV (mũi tên đỏ), phía sau bao gồm các thành phần kén (mũi tên xanh)
Bản đồ ADC cho thấy một vùng tối không đồng nhất trong lõi của khối u, tương tự một vùng tăng sinh
• U nguyên bào tủy (Medulloblastoma) là khối u độ IV có nguồn gốc là các tế bào nhỏ sắc tố xanh.U nguyên bào tủy là một trong những khối u phổ biến nhấtở trẻ em
• Vị trí khởi phát u nguyên bào tủy thường gặp nhất là đường giữa nằm trên thùy nhộng tiểu não Khối u này giảm tỉ trọng nhẹ trên phim CT do mật độ hồng cầu đặc của nó, kèm theogiảmtín hiệu trên phim T2W và giá trị
hệ số khuếch tán biểu kiến ADC thấp Khối u bắt thuốc mạnh và không đồng nhất do xuất huyết trong và vôi hóa
Giá trị ADC thấp là một dấu hiệu hữu ích để phân biệt u nguyên bào tủy với u màng não thất và u sao bào lông, cũng là hai loại ung thư phổ biến xuất hiện trong hố sau ở trẻ nhỏ
• Các ung thư di căn lên màng mềm chiếm trên 33% các trường hợp “Phủ đường” (Zuckerguss) là kiểu tín hiệu bắt cản quang giống tinh thể đá trên bề mặt của não Trong trường hợp này cần xem xét hình ảnh của toàn bộ não và tủy sống trước khi tiến hành phẫu thuật
• Khi u nguyên bào tủy xảy ra trên người lớn trẻ tuổi (ngược lại với trẻ em) vị trí khởi phát khối u thường là
vị trí lệch giữa trong hố sau, từ các bán cầu tiểu não
Trang 23Khối u dạng nang chứa nốt bắt cản quang
• Một vài khối u lỏng cấp thấp có dạng nang, sau tiêm thuốc cản quang quan sát thấy một nốt ngấm thuốc ở rìa nang
U sao bào lông thể thiếu niên (đã đề cập ở trước trong phần u sao bào não)
U nguyên bào mạch máu não (Hemangioblastoma)
U nguyên bào mạch máu não : Phim axial T2W (ảnh trái) cho thấy một khối tổn thương dạng nang (múi tên) ở trên bán cầu tiểu não phải kèm theo phù nề xung quanh Quan sát được thành phần dạng nốt trên phim FLAIR (mũi tên ảnh phải)
• U nguyên bào mạch máu não là khối u giàu mạch máu độ I, có liên quan đến hội chứng von Hippel - Lindau (VHL) Đây là hội chứng thường xảy ra trên tiểu não, hành não và tủy sống
VHL Các bệnh nhân cùng lúc mắc cả 2 bệnh trên có tiên lượng xấu hơn
• Hình ảnh thường thấy của u nguyên bào mạch máu não là khối tổn thương dạng nang với các nốt bắt cản quang ở rìa nang Các mạch máu tân tạo thường được quan sát thấy dưới dạng các vùng tín hiệu trống dòng chảy có cấu trúc dạng ống U nguyên bào mạch máu não cũng có thể ở dạng đặc hoặc bị xuất huyết (hiếm khi xảy ra hơn)
• Nếu xuất hiện ở tủy sống, u nguyên bào mạch máu não thường gây ra bệnh rỗng tủy sống
U sao bào vàng đa hình (PXA - Pleomorphic xanthoastrocytoma)
U sao bào vàng đa hình : Phim T2W (ảnh trái) và phim T1W sau cản quang cho thấy một khối u có cấu trúc nang là chính, lớn,nằm trên thùy thái dương phải Khối u
có các nốt bắt cản quang theo chiều ngang Vùng màng cứng nằm phía trên dày hóa và ngấm thuốc mạnh (mũi tên vàng) Có một vùng phù nề nhẹ xung quanh khối u do kích thước quá lớn của nó
• U sao bào vàng đa hình (PXA) là biến thể của khối u tế bào hình sao cấp thấp (độ 2 theo thăng phân độ của WHO)
• PXA là dạng ung thư hiếm gặp ở trẻ em và trẻ vị thành niên, thường xảy ra trên bệnh nhân có tiền sử động kinh mãn tính
• Vị trí hay gặp nhất của u PXA là thùy thái dương Hình ảnh của chúng là các khối u nang có vị trị tương đối nông, gần vỏ não trên lều, chứa một nốt ngấm thuốc cản quang ở thành nang Vùng màng cứng phía trên có thể bị dầy lên và bắt thuốc mạnh
• Chẩn đoán phân biệt chính của u sao bào vành đa hình, trên cả lâm sàng và hình ảnh là u thần kinh đệm
Trang 24U tế bào thần kinh (neuralcytoma)
Các u hạch thần kinh đệm : Phim Axial FLAIR cho thấy các tổn thương dạng nang trên thùy thái dương trái liên kết với một nốt lớn có cấu trúc đặc (mũi tên) Có phù nề nhẹ xung quanh kết hợp với hiệu ứng khối u choán chỗ đẩy đường giữa não lệch sang phải
• Ung thư hạch thần kinh đệm là khối u đệm thần kinh hiếm gặp, phát triển chậm, thường bắt gặp trên trẻ vị thành niên hoặc người trẻ tuổi có tiền sử động kinh thùy thái dương dai dẳng
• Một đặc trưng của u hạch thần kinh đêm là thường xuất hiện ở thùy thái dương, dạng u nang có nốt bắt cản quang màng cứng , thường có vôi hóa
Các khối u trong não thất
U tế bào thần kinh trung tâm
U tế bào thần kinh trung tâm : Phim T1W sau cản quang và phim T2W cho thấy 1 khối chia thùy ở thân các não thất bên (mũi tên), dính vào vách trong suốt trên não thất III Khối u có bắt thuốc và một ổ biến đổi dạng nang (có dạng là một khối giảm tín hiệu trung tâm trên phim T2W)
• U tế bào thần kinh trung tâm (central neurocytoma) là khối u độ thấp có nguồn gốc từ tế bào neurons thần kinh, xảy ra ở người trẻ trưởng thành, từ tuổi thiếu niên cho đến trung niên Tiên lượng rất tốt
• Đặc điểm các khối u này là chia thùy, dính vào vách trong suốt trên não thất III, với vô số các nang bên trong khối u Thường có vôi hóa
Trang 25Khối u nhú/ u biểu mô đám rồi màng mạch
(Choroid plexus papilloma/carcinoma)
ra trong não thất U đám rối màng mạch là
khối tăng sản cấp thấp khởi phát từ các tế bào
đám rối màng mạch Đây là khối u phổ biến
nhất trong não của trẻ <1, nhưng cũng có thể
xảy ra ở người lớn
• Hình ảnh trên phim T2W là một khối u chia
thùy không đồng nhất hoặc là một khối tăng
tín hiệu bắt thuốc mạnh trên T1W
• U nhú đám rối màng mạch và ung thư biểu mô đám rối màng mạch (bậc 3) thường khó phân biệt trên hình ảnh
U màng não trong não thất (Intraventricular meningiomas)
U màng não tủy trong não thất : Phim Coronal T1W (ảnh trái) và phim axial T2W cho thấy khối giảm tín hiệu ở T1, khối tăng tín hiệu nhẹ ở T2 (mũi tên) ở ngã ba não thất của thất trái
Case courtesy Mary Beth Cunnane, MD, Massachusetts Eye and Ear Infirmary.
• U màng não trong não thất là khối u đặc, thường ở vùng tam giác não thất bên Có xu hướng xảy ra ở bệnh nhân lớn tuổi, có đặc điểm như u màng não tủy
• U màng não trong não thất thường có sự hiện diện của tăng sinh tế bào và bắt thuốc đồng nhất, giúp phân biệt chúng với các loại khối u não thất khác.
Trang 26U tế bào sao nền não thất tế bào khổng lồ (SEGA)
• U tế bào sao nền não thất thể tế bào khổng lồ (Subependymal giant cell astrocytoma) là khối u độ I thuộc dòng u sao bào có liên quan đến bệnh xơ cứng củ Các đặc điểm hình ảnh khác của u xơ cứng củ bao gồm: các nốt ở nền não thất và u mô thừa (hamartomas) (vỏ não và dưới vỏ não)
• Hìn ảnh điển hình của SEGA là một khối có bắt thuốc trên não thất bên gần với lỗ Monro
U nền não thất (Subependymoma)
Phim axial CT không cản quang cho thấy vùng giảm
tỷ trọng tập trung tại khu vực thùy nhộng tiểu não/
não thất IV (mũi tên)
Phim Axial FLAIR cho thấy khối u dưới não thất 4 (mũi tên) tăng tín hiệu FLAIR nhẹ
Phim MRI sagittal T1W cho thấy khối đồng tín hiệu ở phía não thất IV (mũi tên) Kích thước não thất IV bình thường
Phim axial T1W sau cản quang cho thấy tổn thương không bắt thuốc cản quang Các tổn thương này có thể dễ dàng bị bỏ sót trên phim T1 có hoặc không có cản quang
• U tuyến nền não thất là khối u bậc thấp, không bắt thuốc Hiện chưa rõ nguồn gốc của khối u, người
ta cho rằng đó có thể là từ các tế bào sao lớp dưới màng não thất, tế bào ống nội tủy hoặc các tế bào tiền thân thông thường
• Thường xảy ra trên bệnh nhân trung niên hoặc người lớn tuổi Thường được tìm thấy ngẫu nhiên
• Vị trí phổ biến nhất là bờ đầy của thất não IV (phía dưới thất IV) hoặc lỗ Monro ở các thất bên Khối u hiếm khi bắt thuốc (gây ra bắt cản quang)
• Mặc dù tên gọi khá giống nhau, u nền não thất không liên quan tới u bào sao nền não thất tế bào không
lồ (liên quan đến xơ cứng củ), và không liên quan đến u màng não thất
Trang 27Lymphoma hệ thần kinh trung ương
Lymphoma nguyên phát hệ thần kinh trung ương (PCNSL): Tổng quan
hệ TKTW mà không tìm thấy bằng chứng về lymphoma hệ thống, phổ biến nhất là lympho tế bào B lớn lan tỏa Các tế bào bạch huyết mầm ác tính không trưởng thành tích tụ xung quanh các mạch máu não nhỏ quanh não thất Chú ý rằng não không chứa mô lympho
PCNSL sẽ tạm thời thoái lui khi kết hợp hóa-xạ trị, nhưng có xu hướng tái phát ác tính hơn
Hình dạng của PCNSL phụ thuộc vào tình trạng miễn dịch của bệnh nhân Nếu không xét đến tình trạng miễn dịch, dấu vết then chốt đưa tới chẩn đoán là khối tăng sinh tế bào mạnh ở quanh não thất (tăng tỷ trọng ở CT, giảm tín hiệu trên T2W và giảm khuếch tán biểu kiến)
Lymphoma nguyên phát TKTW: bệnh nhân có hệ miễn dịch bình thường.
Phim axial FLAIR cho thấy một khối u không đồng nhất (mũi tên) ở bên trái hạch nền, kèm theo phù vận mạch
Bản đồ ADC cho thấy trung tâm của khối u bị tối (mũi tên), gợi ý về sự giảm khuếch tán do tăng sinh tế bào
Phim T1W trước cản quang cho thấy khối u đồng tín hiệu trên T1
Phim T1W sau cản quang : khối u bắt thuốc mạnh
và đồng nhất Không có hoại tử bên trong nào đáng kể
Trang 28• Ở bệnh nhân có hệ miễn dịch bình thường, PCNSL thường có hình ảnh là một khối u trong não thất ngấm thuốc mạnh, thường lấn qua thể chai rồi dính vào cả 2 bán cầu não Thùy trán và hạch nền cũng thường bị ảnh hưởng.
• Đối với một khối u xâm lấn thể chai, các chẩn đoán có thể nghĩ tới là : lymphoma, U nguyên bào đệm thần kinh, bệnh thoái hóa myelin (đọc lại phần GBM)
• Khối u PCNSL trên bệnh nhân bình thường thường bắt thuốc đồng đều, không có các điểm hoại tử Điều này trái với trường hợp của các bệnh nhân suy giảm miễn dịch, thường có hoại tử khối u
Lymphoma nguyên phát hệ TKTW : bệnh nhân suy giảm miễn dịch
• Ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch, PCNSL thường có hình ảnh là một tổn thương ngấm thuốc
dạng nhẫn quanh não thất ở hạch nền Bắt cản quang dạng nhẫn là do hoại tử lõi khối u Hai khả
năng đầu tiên cần nghĩ tới khi thấy khối u bắt cản quang dạng nhẫn ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch đó là lymphoma và nhiễm toxoplasmosis
• Các xét nghiệm để phân biệt lymphoma và toxoplasmosis là
Lymphoma thứ phát hệ TKTW
• Trên bệnh nhân có lymphoma thứ phát hệ TKTW,ngoài tiểu não người ta còn phát hiện thêm nhiểu hạch lympho ở những vị trí khác Vị trí di căn hay gặp nhất là màng não và có thể gây ra di căn màng não tủy mềm (hay viêm màng não do tế bào di căn) hoặc chèn ép màng cứng ống tủy
• Ít gặp hơn, lymphoma thứ phát hệ TKTW có thể xuất hiện dưới dạng một khối u nhu mô não
Các bệnh ung thư di căn não
Dùng liệu pháp kháng toxoplasmosis và theo dõi trong khoảng thời gian ngắn.
Xạ hình với 201 TI: CNS lymphoma ngấm TaLi mạnh còn toxoplasmosis thì không PET: Trong khi lymphoma TKTW có xu hướng là khối u bậc cao và trao đổi chất mạnh (ngấm
FGD) thì Toxoplasmosis không hấp thụ đường 18F-floudeoxyglucose (FGD)
Chụp cộng hưởng từ khuếch tán: Lymphoma TKTW làm tăng thể tích máu ở vùng tiểu não
trong khi toxoplasmosis làm giảm thể tích mạch máu não Lưu ý rằng 2 bệnh này không phân biệt được dựa vào dấu hiệu bắt cản quang vì cả 2 đều có biểu hiện ngấm thuốc, do bắt cản quang nội trục là phương pháp đo lường sự rò rỉ của mao mạch, chứ không đo độ khuếch tán
Trang 29Các khối u màng trên cứng
U màng não
• U màng não là khối u ngoại trục phổ biến nhất Chúng xuất phát từ tế bào biểu mô màng não,
có tên gọi là tế bào vi nhung mao U màng não thường xảy ra ở người già, nữ mắc nhiều hơn nam và phần lớn không có triệu chứng rõ ràng.
• Phần lớn các khối u là lành tính, nhưng 1-2% là u giảm biệt hóa hoặc u ác tính Cả khối u màng não lành tính hoặc ác tính đều có thể di căn, mặc dù điều này hiếm khi xảy ra.
• Đa u màng não được xem như u sợi thần kinh type 2 hoặc là do hậu quả của xạ trị.
• U màng não có thể xảy ra ở bất kì vị trí nào trên trục thần kinh, nhưng thường gặp nhất là vị trí trên lều và cạnh đường giữa.
• U màng não cũng có thể xuất hiện trong não thất (ở ngã ba não thất bên) hoặc ở trong xương Các khối u màng não trong xương có hành vi tương tự như loạn sản xơ xương.
• Ở phim CT không cản quang, u màng não tăng tỉ trọng trong não, khoảng 25% trường hợp có vôi hóa.
• Trên phim MRI, hình ảnh thu được có thể là dấu hiệu đồng cường độ tín hiệu, hoặc tăng tín hiệu nhẹ trên phim T1W, và khối u có cường độ tín hiệu khá biến thiên trên T2W Khối u thường có đáy dính vào màng cứng trên diện rộng
• U màng não ngấm thuốc cản quang mạnh Vệt bắt cản quang “màng cứng hình đuôi” nằm ở ranh giới màng cứng- màng nhện, nhiều khả năng là do chất vận mạch do khối u tiết ra chứ không phải là do khối u đã di căn tới màng cứng.
• Mặc dù phần lớn u màng não ở vị trí ngoại trục nhưng chúng vẫn có thể gây ra phù não chất trắng trong nội trục, do các nhân tố rối loạn vận mạch và tăng sinh mạch cấp máu cho khối u từ màng mềm Có một mối tương quan kì lạ giữa kích thước khối u và cấp độ phù não, phù não nghiêm trọng có thể xảy ra do ảnh hưởng của một khối u rất bé.
Ung thư di căn đến màng cứng
U di căn màng cứng : Phim Axial FLAIR (ảnh trái) cho thấy một khối u ở phía trước,bên phải (mũi tên vàng) kèm theo phù vận mạch thùy trán phải Chỉ dựa vào hình này thì khó có thể phân biệt tổn thương
là nội trục hay ngoại trục Phim axial T1W sau cản quang cho thấy khối u “có nền” là màng cứng và gây ra các tín hiệu bắt cản quang ở ranh giới màng cứng (mũi tên đỏ) Đây là hình ảnh của ung thư vú di căn
• Các khối u phổ biến thường di căn tới màng cứng : ung thư vú (hay gặp nhất), lymphoma, ung thư
Trang 30Các khối u vùng hố sau: Sơ đồ chẩn đoán
Khối u hố sau ở trẻ em
(Khối u não phổ biến nhất ở trẻ em)
Tăng tỉ trọng trên CT? ADC thấp trên MRI?
U nang có các nốt bắt cản quang ở vách?
U nguyên bào tủy
U sao bào lông thể thiếu niên
Khối u trong não thất?
Bị đẩy qua các lỗ của não thất IV?
U màng não thất
Khối u nang với các nốt bắt cản quang ở rìa
và trống dòng chảy? Tiền sử Hippel-Lindau?
U nguyên bào mạch máu não
Độ tuổi trẻ hơn u nguyên bào tủy,với hình ảnh khối u ác tính, không đống nhất tương tự?Các khối u ở thận?
U quái hình que không điển hình
Khối u hố sau ở người lớn
Tiền sử với các bệnh ưng thư khác?
Bắt thuốc kèm theo phù não?Nhiều tổn thương?
Di căn
Khối u nang với các nốt bắt cản quang ở rìa
và trống dòng chảy? Tiền sử Hippel-Lindau?
Hầu như không bắt thuốc?
U sao bào
Người lớn trẻ tuôit? Vị trí thùy bên?
U nguyên bào tủy
Trang 31Dốc nền lỗ chẩm
Cầu não
Xương đá
Tiểu não
Khối u góc cầu tiểu não (CPA)
Tổng quan và cấu tạo mạch máu góc cầu tiểu não.
Dây thần kinh mặt (VII)
Dây thần kinh tiền đình (VIII)
Động mạch hạch nền AICA
Bể dịch não tủy góc cầu tiểu não
Nhung tiểu não
Ngách bên lão thất 4 (Lusckha) Não thất
Góc cầu tiểu não (CPA) là vùng nối giữa cầu não,tiểu não với mặt dưới của xương đá Cấu trúc của góc cầu tiểu não khá quan trọng vì bao gồm dây thần nội sọ kinh số 5 (thần kinh sinh ba), số 7 (thần kinh tiền đình -ốc tai), số 8(thần kinh tiền đình -ốc tai), cùng với các động mạch phía trước và ở dưới tiểu não
Hầu hết các tổn thương trên góc cầu tiểu não là ngoại trục và nằm trong bể DNT góc cầu tiểu não, một số ngoại lệ nằm ở lỗ ống tai trong (IAC),xương thái dương Các tổn thương nội trục ở cầu não hoặc tiểu não
là rất hiếm Khối u góc cầu tiểu não phổ biến ở người lớn
U tế bào Schwann (Schwannoma)
U tế bào Shwann tiền đình : Phim Axial T2 (ảnh trái) và phim T1W sau cản quang cho thấy 1 khối u ngấm thuốc không đồng nhất ở bên trái của góc cầu tiểu não, hình dạng giống 1 cái kem ốc quế lõm vào ngã ba cầu não - tiểu não (mũi tên vàng) và chìa ra lỗ ống tai trong (mũi tên đỏ) Lỗ ống tai hơi bị nới rộng (mũi tên xanh)
• U tế bào Schwann trên góc cầu tiểu não, hay còn gọi là u schwannoma tiền đình là khối u phổ biến nhất xảy
ra ở góc cầu tiểu não, chiếm hơn 75% các trường hợp các khổi u tại CPA
• Shawannoma tiền đình tăng tín hiệu trên phim T2W và ngấm thuốc mạnh Đặc điểm hình kem ốc quế miêu
tả : phần ốc quế chìa qua (và làm rộng) lỗ ống tai, còn phần kem là hậu quả của hiệu ứng khối u choán chỗ trên ngã ba cầu – tiểu não Schwannoma có thể trở thành u nang , đặc biệt là khi phát triển lớn
• U schwannomas trên các dây thần kinh nội sọ khác như dây thần kinh mặt hay dây thần kinh chia ba ít xảy
ra hơn Schwannomas có thể mở rộng sang khoang Meckel
Trang 32U màng não góc cầu tiểu não
U màng não trước cầu não/ bên trái góc cầu tiểu não : Phim Axial T2W (ảnh trên,bên trái) cho thấy khối u trước cầu não, tăng tín hiệu, có bờ rõ ràng (mũi tên vàng)
Phim axial T1W trước cản quang (ảnh dưới bên trái)
và sau cản quang (ảnh dưới bên phải) cho thấy khối u ngấm thuốc mạnh và mở rộng từ bể DNT trước cầu não tới bên trái góc cầu tiểu não và bên trái ống tai trong (mũi tên đỏ), tiếp tục chèn sang bên trái ống Dorello (mũi tên xanh là cây) và gần như làm liệt dây thần kinh số VI Cầu não bị dẹt do khối u chèn ép Các động mạch ở đáy bị khối u bao quanh gần như 180⁰ và
bị thu hẹp đáng kể (mũi tên xanh lam)
• Mặc dù u màng não là khối u ngoại trục phổ biến nhất ở người lớn, nhưng nó chỉ đứng thứ 2 về
độ phổ biến trong góc cầu tiều não, ước chừng 10-15% tất cả các khối u xuất hiện trong góc cầu tiểu não
• Đặc điểm của u màng não góc cầu tiểu não là một đoạn màng cứng bắt cản quang ngắn và có thể tăng sinh xương vùng kế cận Khoảng 20% trường hợp có vôi hóa Điều này ngược với u schwann – ít khi vôi hóa
• Trái với Schwanoma, u màng não góc cầu tiểu não không làm rộng lỗ tai trong
U nang màng nhện
• U nang màng nhện là một tổn thương lành tính chứa đầy dịch não tủy và thường do bẩm sinh Mặc dù phần lớn các u nang màng nhện ở vùng trên lều, tuy nhiên góc cầu tiểu não vẫn là vùng hay gặp u nang màng nhện nhất trong vùng dưới lều
• Các u nang màng nhện sẽ tuân theo tín hiệu của dịch não tủy đối với mọi chuỗi xung, kể cả chuỗi khử tín hiệu dịch não tủy tên phim FLAIR Khác với u nang thượng bì, u nang màng nhện không
có khuếch tán hạn chế.
Phình mạch máu não
• Phình mạch máu góc cầu tiểu não ( xuất phát từ động mạch tiểu não dưới sau, động mạch tiểu não dưới trước, động mạch đốt sống, hoặc động mạch nền) ,xuất hiện dưới dạng tổn thương ngấm thuốc mạnh, dễ nhận biết ở vị trí CPA và có thể bị nhầm lẫn với schwannoma hoặc u màng não trên phim CT có cản quang
• Trên phim MRI, dấu hiệu để nhận biết bệnh căn nguyên mạch máu có thể là dòng chảy hoặc các nhịp đập bất thường Nghĩ tới MRA hoăc CTA
Trang 33U nang thượng bì.
U nang thượng bì : Phim axial T2W (ành trên bên trái) cho thấy 1 khối u chia thùy ( mũi tên) ở bên trái góc cầu tiểu não Khối u đồng cường độ tín hiệu với dịch não tủy
Bản đồ ADC (ảnh trên bên phải) và phim DWI cho thấy khôi u tối trên ADC và sáng trên DWI, đồng nghĩa với giảm độ khuếch tán
• U nang thượng bì là tổn thương bẩm sinh có nguồn gốc từ biểu mô ngoại bì phôi.
• U nang thượng bì to lên dần dần thông qua sự bong vảy của lớp màng biểu mô sừng hóa ở bờ ngoài nang Khối u thường lách vào giữa các tổ chức não, bao bọc xung quang dây thần kinh và mạch máu Đặc biểm bệnh học của khối u là hình ảnh bề mặt giống như một cây súp lơ.
Trên phim CT, u nang thượng bì thể hiện hình ảnh giống u nang màng nhện và xuất hiện giống như một cấu trúc nang nước Trên phim MRI u nang thượng bì có tín hiệu tương tự như dịch não tủy trên ảnh T1W
và T2W Khác với u nang màng nhện, u nang thượng bì không suppresss trên phim FLAIR
• dụng chuỗi xung khuếch tán cho thấy tín hiệu rất sáng trên phim khuếch tán hiệu chỉnh ( là tổ hợp chuỗi xung khuếch tán giới hạn và T2 sáng qua) Chụp phim DWI sau phẫu thuật là cần thiết để phát hiện các tế bào u nang còn sót, các tế bào này sẽ sáng trên phim DWI.
• Các tế bào u nang thượng bì hiếm khi tăng tín hiệu trên phim T1W không cản quang, còn được gọi là “ thượng bì trắng”
Các khối tăng sinh nội trục
Các khối u nội trục hố sau có thể xâm nhập các bên của góc cầu tiểu não
Các u thần kinh đệm lồi ra ngoài than cuống não và các khối u di căn cũng có thể xâm nhập CPA
U nguyên bão thần kinh đệm có xu hướng xảy ra trên đường giữa đối với trẻ em, ở các tiểu cầu bên của tiểu não đối với trẻ lớn hoặc người lớn trẻ tuổi
U màng não thất có thể xâm lấn sang góc cầu tiểu não do bị dồn nén và đẩy qua lỗ bên của não thất 4 (lỗ Luschka)
U nguyên bào mạch máu não thường được tìm thấy trên bán cầu tiểu não như một khối u dạng lỏng với nhiều nang và nốt bắt cản quang Thường có tín hiệu dòng chảy mạnh (dòng nuôi dưỡng khối u)
Một biểu hiện khác của VHL nội sọ trên hình ảnh là khối u túi chứa chất nội dịch, xảy ra dọc theo đường sau của xương đá.
Trang 34Dây thần kinh thị giác
Động mạch cảnh xoang hang
Tuyến yên
Giao thoa thị giác
Dây thần kinh vận nhãn chung (số III)
Tất cả các cơ hốc mắt trừ cơ SO & LR
Dây thần kinh ròng rọc (số IV)
Cơ chéo trên (SO)
xoang hang
xoang xương bướm
Dây thần kinh vận nhãn ngoài (số VI)
Mũi hầuDây thần kinh hàm dưới chỉ là một phần của dây thần kinh sinh ba và không đi qua xoang hang
DTK hàm dưới ở phía dưới xoang hang, xuất phát từ phía dưới hang Mackel qua lỗ hở bầu dục
Dây thần kinh vận nhãn ngoài (VI) đi vào từ góc xương đá của xương thái dương, xuyên qua ống Dorello
và là dây thần kinh duy nhất đi qua medial venus sinusoids
Nhánh giữa dây thần kinh sinh 3 là dây thần kinh duy nhất đi qua xoang hang mà không thoát ra từ khe ở mắt trên Thay vào đó, nó thoát ra từ lỗ tròn to
• Tuyến yên được hình thành từ túi Rathke của lá phôi thai ngoài (là phần lõm vào từ phía dưới của biểu mô yết hầu trong thời kì mang thai) Tuyến yên nằm trong hố yên của xương bướm ở mặt dưới của não và được nối với vùng dưới đồi thị bởi cuống hạ não Tuyến yên gồm 2 phần là thùy trước và thùy sau
Trong quá trình hình thành tuyến yên, túi Rathke khép lại để hình thành để hình thành 1 bọng khép kín Đôi khi, quá trình khép kín không hoàn chỉnh để lại những khe kẽ Những khe kẽ này có thể là nguyên nhân gây ra u sọ hầu hoặc u nang khe Rathke
• Thùy trước của tuyến yên sản xuất và giải phóng các hormones nội tiết, bao gồm hóc môn tăng trưởng, ACTH, prolactin, TSH, FSH và LH
• Thùy sau tuyến yên được hình thành từ ngoại bì thần kinh của sàn não và kết nối với vùng dưới đồi qua các tế bào sợi trục thần kinh , qua đó hóc môn vasopressin và oxytocin được vận chuyển đến các vùng khác của cơ thể
• Bình thường tuyến yên có hình thái rất đa dạng, phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính, tình trạng mang thai Tuyến có thể lồi trên ở trẻ dậy thì hoặc ở phụ nữ mang thai Thùy sau yên khi ở trạng thái bình thường cũng gây tăng tín hiệu trên phim T1W.Hiện tượng này gọi là “ điểm sáng yên sau”, dễ quan sát nhất trên phim sagittal
• Hội chứng hố yên rỗng là một biến thể bình thường Các khoang của hố yên rỗng chứa đầy dịch não tủy còn tuyến yên co lại và phẳng dẹt ở sàn hố yên
Hố yên rỗng còn là một dấu hiệu trong tập hợp các dấu hiệu chỉ ra u giả trong não U giả trong não thường được thấy dưới dạng khối tăng tín hiệu tự phát nội sọ, có biểu hiện : áp lực dịch não tủy tăng cao, thay đổi thị lực và đau đầu Bệnh thường gặp ở phụ nữ da đen béo phì Hình anh quan sát được bao gồm tuyến yên rỗng, ống Meckel nở rộng, giao thoa thị giác lồi vào cức sau nhãn cầu Kích cỡ của các não thất bình thường hoặc hơi giảm Các xoang sigma và xoang ngang bị thu hẹp
Các bước đánh giá một khối u tuyến yên
• Khi đánh giá một khối u vùng hố yên, bước đầu tiên cần làm là xác định vị trí khối u nằm trong hay vùng liền
kề bên ngoài tuyến yên?
• Phạm vi chẩn đoán của các khối u trong tuyến yên thường khá hẹp và bao gồm các loại sau : u tuyến (adenoma : là khối u nội tuyến yên phổ biến nhất), u nang khe Rathke và viêm tự miễn dịch (viêm tuyến yên) U sọ hầu hiếm khi xảy ra trong hố yên, và gần như không bao giờ xảy ra ở tuyến yên
Trang 35Khối u tuyến yên
U tuyến yên thể nhỏ
• Khối u tuyến yên thể nhỏ là khối u tuyến lành tính kích thước <10 mm Các khối u này thường được phát hiện sớm là vì sự tăng tiết hormone gây ra các bất thường trên cơ thể chứ không phải là do hiệu ứng của khối u
• Phần lớn các khối u tuyến yên thể nhỏ có dấu hiệu giảm tín hiệu căn cứ theo đặc điểm của tuyến yên Tuy nhiên các u tuyến tiết ra ACTH có dấu hiệu tăng tín hiệu
U tuyến yên thể lớn
U tuyến yên thể lớn : Phim FLAIR (ảnh trái ) và phing sagittal T1W sau cản quang cho thấy tuyến yên
đã bị một khối u bắt cản quang (mũi tên vàng) choán chỗ hoàn toàn Giao thoa thần kinh thị giác bị đẩy lên phía trên (mũi tên đỏ)
• U tuyến yên thể lớn được định nghĩa là u tuyến có kích thước >10mm Bệnh nhân thường có biểu hiện của hiệu ứng khối u choán chỗ hơn là những rối loạn nội tiết do khối u gây ra(VD: chèn ép thần kinh thị giác)
• Xương hố yên thường bị phình rộng U tuyến yên thể lớn thường bao quanh các động mạch cảnh nhưng không thu hẹp chúng Ngược lại, u màng não và các ung thư di căn thường gây ra hẹp động mạch cảnh U tuyến yên thể lớn có thể chảy máu sau điều trị, tạo ra những hình ảnh MRI phức tạp
Nếu có chảy máu bên trong khối u thì chắc chắn đó là đột quỵ não thùy Triệu chứng của đột quỵ não thùy bao gồm : đau đầu nặng và rối loạn nội tiết do máu tràn sang các vùng khác của tuyến yên
Viêm tuyến yên lympho bào
• Viêm tuyến yên lympho bào là một rối loạn viêm tự miễn thường thấy ở phụ nữ mới sinh, có thể ảnh hưởng tới tuyến yên và phễu não Biểu hiện gồm đái tháo nhạt, đau đầu, chứng song thị, và rối loạn nội tiết
như hình ảnh của u tuyến yên thể lớn
• Viêm tuyến yên lympho bào đáp ứng trị liệu với steroid
Viêm tuyến yên Granulomatous
• Viêm tuyến yên Granuloatous xảy ra trên cuống và tuyến yên là biến chứng kéo theo của bệnh sarcoidosis, u hạt Wegener, lao và hội chứng mô bào (LCH) Hội chứng mô bào tuyến yên chỉ xảy
ra ở trẻ em, cho hình ảnh giống hệt viêm tuyến yên lymphobào.
U nang rãnh Rathke
• U nang rãnh Rathke có thể chỉ phát triển giới hạn trong tuyến yên, nhưng người ta thường thấy nó nằm ngoài tuyến yên.
Trang 36Khối u hố trên yên
• Phạm vị chẩn đoán đối với các tổn thương vùng ngoại yên rất rộng Tuy nhiên khi kết hợp các hình ảnh lại với nhau, cộng thêm các dấu hiệu về tuổi bệnh nhân, biểu hiện lâm sàng có thể thu hẹp phạm vi nghi ngờ xuống còn 1 vài căn bệnh cụ thể
• Tổn thương hố trên yên thường gặp nhất ở trẻ em là u sọ hầu, trong khi đó đối với người lớn, tổn thương thường gặp nhất là u tuyến yên thể lớn tiến triển lấn lên hố trên yên.
• Sau đây là danh sách các khối u ngoại tuyến yên, danh sách này không dựa trên mức độ phổ biến của khối u :
U sọ hầu
U sọ hầu
U sọ hầu : phim CT không cản quang (ảnh trái) cho thấy khối giảm tỉ trọng hố trên yên(mũi tên), có vôi hóa lớn Bể dịch não tủy trên yên bị thu hẹp Phim MRI FLAIR (ảnh giữa) cho thấy khối u trên hố yên nguyên phát dạng đặc, đồng cường độ tín hiệu) Phim T1W sau cản quang cho thấy khối u ngấm thuốc mạnh, không đồng nhất Có một lõi dạng nang nhỏ ở phía trước (mũi tên đỏ)
• U sọ hầu là khối u phổ biến nhất vùng trên hố yên ở trẻ em, xuất phát từ các tế bào biểu mô vảy còn sót lại của túi Rathke, các tế bào này sản xuất ra keratin
• U sọ hầu xảy ra trên hai đối tượng bệnh nhân theo độ tuổi Phần lớn các trường hợp là trẻ em, nhưng cũng có thể xảy ra trên bệnh nhân ở cuối độ tuổi trung niên
• Phần lớn khối u nằm trên cả hố yên và hố trên yên Mặc dù u sọ hầu chỉ nằm trên hố yên là rất hiếm,(trong trường hợp đó) nó hầu như luôn luôn tách biệt với tuyến yên
• U sọ hầu có khả năng tạo men (răng) và luôn có vôi hóa.Chất lỏng trong u nang (hay còn gọi là dầu máy) quan sát được khi giải phẫu tổng thể là hỗn hợp của các tế bảo biểu mô vảy đã bong tróc, keratin và cholesterol
• Phim MRI cho thấy 1 khối u nang phức tạp chứa protein và máu (tăng tín hiệu trên ảnh T1W)
• Các thành phần đặc và bờ ngoài nang ngấm thuốc mạnh
• Trái với nang kẽ Rathke, u sọ hầu hầu như luôn ngấm thuốc cản quang,có vôi hóa, và luôn luôn tách biệt với tuyến yên
Trang 37U nang rãnh Rathke
U nang rãnh Rathke : Phim Axial FLAIR (ảnh trái) và coronal T1W sau cản quang cho thấy khối u quanh vùng yên tăng tìn hiệu trên FLAIR (mũi tên vàng), giảm tín hiệu trên T1 Khối u ngấm thuốc yếu tại vùng giáp ngoại vi xung quanh tuyến Tuyến yên bị lệch vị lên trên và giao thoa thần kinh thị giác bị lệch về phía trước (mũi tên đỏ)
• Giống như u sọ hầu, u nang kẽ Rathke cũng hình thành từ phần sót lại của túi phôi ngoài Rathke Tuy nhiên khác với u sọ hầu, u nang kẽ Rathke cấu thành từ biểu mô trụ hoặc biểu mô khối giản đơn
• Trong khi u sọ hầu là tổn thương hố trên yên thường gặp ở trẻ em thì u nang kẽ Rathke lại hay gặp nhất ở người lớn trung niên, nữ nhiều gấp đôi nam
• Theo báo cáo, tỉ lệ mắc u nang kẽ Rathke rất cao (lên tới 22%), tuy nhiên bệnh không có biểu hiện lâm sàng rõ rệt và thường được phát hiện tình cờ
• Hình ảnh của u nang trên phim phụ thuộc vào thành phần protein của nó Dịch nội nang đồng cường độ tín hiệu với dịch não tủy nếu thàng phần protein thấp, và tăng cường độ tín hiệu trên T1W nếu thành phần protein cao Hàm lượng protein cao có thể gây ra xóa tín hiệu mỡ không hoàn toàn của dịch nội u trên phim FLAIR
• Dấu hiệu hình vuốt (claw sign) là bằng chứng cho thấy các mô tuyến yên bị bao bọc hoàn toàn quanh u nang
• Thường thì có thể phân biệt u sọ hầu với u nang kẽ Rathke Khác với u sọ hầu, u nang kẽ Rathke không bắt thuốc (mặc dù bờ ngoài nang vẫn thường bắt cản quang như đã nói) và không vôi hóa U nang kẽ Rathke đôi khi dính vào tuyến yên, nhưng u sọ hầu gần như gần như không bao giờ
U màng não
• U màng não là khối u hố trên yên phổ biến thứ 2 ở người lớn Hay gặp nhất ở phụ nữ trung niên, biểu hiện lâm sàng bao gồm : mất thị lực do ảnh hưởng dây dẫn thần kinh thị giác Có một vài nếp gấp màng cứng tại vùng tại đó u màng não có thể khỏi phát, bao gồm : củ yên, mỏm yên bướm,mặt phẳng xương bướm
và các cánh xương bướm
• Hình ảnh cho thấy đồng cường độ tín hiệu trên phim T1W, tín hiệu biến thiên ở phim T2W kèm theo bắt thuốc cản quang mạnh và đồng nhất Thường có bắt cản quang màng cứng hình đuôi U màng não gây ra tăng sinh xương do các yếu tố vận mạch
• Một hình ảnh quan trọng để nhận biết u màng não hố trên yên là chúng có xu hướng bao bọc và làm hẹp động mạch cảnh xoang hang và động mạch cảnh trong
• Trái với các dạng u tuyến yên,ở u màng não, hố yên không có gì bất thường, và tuyến yên không dính với các khối u khác
Trang 38U sao bào (U thần kinh đệm thị giác)
U thần kinh đệm thị giác : Phim Sagittal T1 (ảnh trái) và phim axial T1W cho thấy một khốI u hố trên yên giảm tín hiệu nhẹ ở vùng cận chất xám (mũi tên vàng), và phần khuếch tán mở rộng của vùng đệm giao thoa thần kinh thị giác (mũi tên đỏ) KhốI u bắt thuốc mạnh và khá đồng nhất
• Khối u sao bào xâm lấn đường dẫn thần kinh thị giác (dây thần kinh thị, giao thoa thần kinh thị giác và dải thị giác) là khối u phổ biến hố trên yên phổ biến thứ hai ở trẻ em (u sọ hầu xếp thứ nhất) Một số ít bệnh nhân có u thần kinh đệm thị giác mắc đồng thời cả u sợi thần kinh type 1 U sao bào dây thần kinh ở trẻ em là u ác tính độ thấp, ngược lại ở ngườI lớn đây lại là khối u rất ác tính
• Khối u đồng cường độ tín hiệu trên phim T1W, tăng tín hiệu trên phim T2W và thường bắt cản quang
U nang bì và u nang biểu bì
• U nang bì và u nang biểu bì là các khối u lành tính bẩm sinh, chứa các cấu trúc thể nang
• U nang biểu bì hay gặp nhất ở bệnh nhân trung niên, trong góc cầu tiểu não, nhưng cũng có thể thấy ở hố trên yên (tần suất ít hơn) U nang biểu bì tuân theo tín hiệu của dịch não tủy trên phim T1W và T2W Khác với u nang màng nhện, u nang biểu bì tăng tín hiệu trên chuỗi xung FLAIR, sử dụng chuỗi xung khuếch tán cho thấy vùng khuếch tán giới hạn
• withrupture U nang bì hay gặp nhất trên vùng hố sau của bênh nhân nam trẻ tuổi, nhưng thỉnh thoảng cũng xảy ra trên vùng hố trên yên Khối u bao gồm các chất béo nội nang, gây ra viêm màng não do hóa chất hoặc viêm não thất
Phì đại mạch máu não
• Phình động mạch cảnh trong hình túi có hình ảnh rất giống các khối u hố trên yên
• Mặc dù phình mạch máu não xảy ra trên hố trên yên thường rất hiếm, tuyệt đối không được sinh thiết một khối giả u có thể là phì đại mạch máu não
• Pulsation artifact may be present on conventional MRI sequences CTA or MRAwould bediagnostic
Trang 39Hamartoma vùng dưới đồi (u mô thừa củ xám)
Hamartoma vùng dưới dồi : Phim Sagittal T1W (ảnh trái) và axial FLAIR cho thấy khối u đồng cường độ tín hiệu trên T1W, tăng cường độ tín hiệu trên FLAIR (mũi tên vàng), xuất phát từ vùng dưới đồi Giao thoa thần kinh thị giác (mũi tên đỏ), phía trước tuyến yên (mũi tên xanh lam) và chấm sáng phía sau tuyến yên đều bình thường
Case courtesy Sanjay Prabhu, MD, Boston Children’s Hospital.
• Harmatoma vùng dướI đồi không phải là một khối tân sản thực thụ mà là một mô tế bào thần kinh vùng dướI đồI lệch vị Đây là một tổn thương hiếm gặp ở trẻ em vớI các triệu chứng như dậy thì sớm và động kinh thể cười
• Harmatoma vùng dướI đồi có đặc điểm xuất hiện giống như một khốI u không có cuống ở giữa cuống tuyến yên và thể vú
• Harmartoma vùng dưới đồi không bắt thuốc và đồng cường độ tín hiệu với chất xám
Ung thư di căn
• Ung thư vú là dạng ung thư di căn lên hố trên yên phổ biến nhất
Lymphoma hố trên yên
• Lymphoma hố trên yên rất hiếm nhưng có thể xảy ra ở người lớn tuổi
Trang 40Phạm vi chẩn đoán u hố trên yên liên quan chặt chẽ đến độ tuổi
Lymphocytichypophysitisif peripartum; granulomatoushypophysitis otherwise.
Dậy thì sớm? Động kinh thể cười?
Hamartoma dưới đồi
Bắt cản quang,
histiocytosis hypophysitis
Suprasellar mass in anadult
Pituitary mass extending superiorly?
Expansion of the sella?
Intense enhancement with a normalsella?
Calcified, enhancing, complex cystic mass?
Distinct from the pituitary?
Craniopharyngioma
Nonenhancing cystic mass without calcification?
Rathke’s cleftcyst
Enhancement equal to blood pool?
Calcified rim (if thrombosed)?
Aneurysm
Enhancing, enlarged pituitary stalk?
hypophysitis