Hoàn cảnh ra đời triết học cổ điển Đức a Điều kiện lịch sử của sự xuất hiện và phát triển triết học cổ điển Đứccuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX Vào nửa cuối thế kỷ thứ XVIII, sự phát
Trang 1MỤC LỤC
1 Hoàn cảnh ra đời triết học cổ điển Đức 2
a) Điều kiện lịch sử của sự xuất hiện và phát triển triết học cổ điển Đức cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX 2
b) Tiền đề lý luận và khoa học tự nhiên của sự xuất hiện và phát triển triết học cổ điển Đức cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX 5
2 Thành tựu và hạn chế của triết học cổ điển Đức 6
a) Thành tựu 6
b) Hạn chế 17
Trang 2THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CỦA TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC
Triết học cổ điển Đức là giai đoạn phát triển mới về chất trong lịch sử tưtưởng triết học phương Tây và thế giới từ giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷXIX, có ảnh hưởng lớn đối với triết học hiện đại
1 Hoàn cảnh ra đời triết học cổ điển Đức
a) Điều kiện lịch sử của sự xuất hiện và phát triển triết học cổ điển Đứccuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX
Vào nửa cuối thế kỷ thứ XVIII, sự phát triển kinh tế của nhiều nước Tây
Âu theo con đường tư bản chủ nghĩa đã đạt đến trình độ tương đối cao Sự kiệnquan trọng nhất, đánh dấu bước ngoặt sự phát triển của chủ nghĩa tư bản lúc bấygiờ là cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh Từ những năm 70 của thế kỷ XVIII,nền công nghiệp Anh đã phát triển mạnh, nhất là ngành dệt may và sau đó lanrộng ra nhiều ngành khác Trong vòng vài chục năm, nước Anh từ một nước cónền công nghiệp nhỏ bé, ít phát triển dựa trên nền nông nghiệp lạc hậu là chủyếu đã trở thành một nước tư bản chủ nghĩa lớn mạnh nhất, có ảnh hưởng lớnđối với các nước trong khu vực và trên thế giới Nước Anh đã cung cấp sảnphẩm công nghiệp, đặc biệt là máy móc cho nhiều nước phát triển xản xuất Nhờviệc áp dụng sức mạnh của hơi nước và phát triển giao thông đã làm bộ mặt củacác nước Tây Âu thay đổi căn bản
Ở Pháp, sau khi nổ ra cuộc cách mạng tư sản 1789 - 1794, chế độ phongkiến đã bị thủ tiêu Điều đó đã mở rộng đường cho lực lượng sản xuất tư bảnphát triển Cùng với cuộc cách mạng tư sản Anh, cách mạng tư sản Pháp đã xáclập thời đại mới, thời đại của chủ nghĩa tư bản ở Tây Âu Những biến đổi vềkinh tế - xã hội đã diễn ra ở Anh và Pháp không chỉ có ý nghĩa thức tỉnh châu
Âu mà còn có ý nghĩa khởi đầu cho một kỷ nguyên mới của lịch sử thế giới
Khác với Anh và Pháp, nước Đức vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIXvẫn còn là một nước lạc hậu về kinh tế, chính trị; quan hệ sản xuất phong kiến
và chế độ chính trị của nó vẫn còn tồn tại với nhiều hủ tục lạc hâu Vì vậy,người ta gọi nước Đức là “Đế quốc La Mã thần thánh của dân tộc Giécmanh”.Vào thời điểm đó, Nhà nước Đức là tổ hợp của 300 nhà nước tự chủ nhỏ, đó lànhững lãnh địa phong kiến cha truyền con nối điển hình Trong mỗi nhà nướcnhỏ ấy, có một ông hoàng chuyên chế vô hạn về quyền lực đối với thần dân của
họ, sự phân tán về kinh tế, chính trị là nguyên nhân cơ bản nhất cản trở conđường phát triển tư bản chủ nghĩa ở nước Đức
Trang 3Sự tồn tại của nhiều nhà nước Đức nhỏ, độc lập về hình thức với chế độchuyên chế phản động là những “bao ke” đã níu kéo, kìm hãm sự phát triển củanước Đức, đồng thời, do vị trí địa lý không thuận lợi của các nhà nước Đức nhỏ,lại thêm các cuộc chiến tranh liên miên xảy ra đã làm cho chế độ xã hội chuyênchế và nhà nước Đức hoang tàn Trong khi đó, sự phát triển của chủ nghĩa tưbản trong các nước ở Tây Âu ngày càng mạnh mẽ, đã chứng minh một cáchthuyết phục quyền uy và sức mạnh của chủ nghĩa tư bản đang lên Tất cả điều đó
đã ảnh hưởng xấu đến những ngành sản xuất cổ lỗ dựa trên lao động thủ côngcủa nước Đức, và chính nó đã đòi hỏi phải phá hủy nền sản xuất thủ công củanước Đức So với các nước Tây Âu thời đó, tình hình nước Đức vào cuối thế kỷthứ XVIII là rất nghiêm trọng Ph.Ăngghen đã nói về thời kỳ lịch sử đó như sau:
“Không một ai cảm thấy mình dễ chịu Thủ công nghiệp, thương nghiệp và nôngnghiệp trong nước đều bị giảm tới mức thấp nhất Nông dân, người làm nghề thủcông, chủ xưởng chịu hai tầng đau khổ vì chính phủ ăn bám và vì tình hình làm
ăn khó khăn Giai cấp quý tộc và các ông hoàng thấy rằng, mặc dù chúng đã bópnặn đến cùng những thần dân của chúng, nhưng số thu của chúng cũng khó màđuổi kịp số chi ngày càng tăng lên Mọi việc đều bi đát và cả nước đều cămphẫn Không có giáo dục, không có những phương tiện tác động đến những ýthức quần chúng, không có tự do báo chí, không có dư luận xã hội, không có cảđến sự buôn bán nhỏ nào với các nước khác Không có gì cả trừ sự đê tiện và ích
kỉ Tinh thần hám lợi, thấp kém, hèn hạ thảm hại thấm nhuần trong toàn dân Tất
cả đều hư nát, lung lay, sắp sửa đổ và cũng không thể hi vọng được một sự thayđổi tốt vì rằng, trong dân tộc, không có một lực lượng nào đủ sức có thể dọn điđược cái tử thi đã rữa của cái chế độ lỗi thời ấy”1 Trong bối cảnh ấy, cáchmạng tư sản Pháp nổ ra giống như tiếng sét đánh vào cái tình trạng hỗn độn củanước Đức Một số địa phương của nước Đức sát biên giới nước Pháp, ngay lậptức đã chịu ảnh hưởng tư tưởng giải phóng của cách mạng Pháp Những cuộcchiến tranh của Pháp chống lại các nhà nước phong kiến châu Âu đã đánh vàochế độ chuyên chế Đức Nhà nước Đức trước kia đông là vậy, nay bị thu lại chỉcòn vài chục Luật pháp tư sản từng bước được áp dụng trong các nhà nước Đứcnhỏ và điều đó đã đặt ra sự cần thiết phải cải cách tư sản để xóa bỏ sự lạc hậu vềkinh tế - chính trị và văn hóa ở nước Đức Trong hoàn cảnh khó khăn đó, quânđội Phổ đã bị người Pháp tiêu diệt ở khắp các mặt trận; điều đó đã làm sục sôitinh thần cách mạng của người dân Đức, nhất là tinh thần phản kháng của cácnhóm tư sản Đức đối với chế độ phong kiến và chế độ chuyên chế Đức Kể từ
1 C.Mác, Ph.Ăngghen: “Tình hình Đức”, Toàn tập, tập 2, trang 561 - 562
Trang 4đây, trong nước Đức đã bắt đầu một cao trào dân tộc mãnh liệt Những biến cốlịch sử đã diễn ra ở nước Đức cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, vạch ra sự thốinát bên trong không thể cứu vãn của chế độ kinh tế phong kiến và nhà nước Đứccủa nó Vì vậy, C.Mác cho rằng, cái mà các dân tộc khác đã làm trong thực tiễn,tức là làm cách mạng tư sản thì người Đức lại chỉ có suy nghĩ về nó mà thôi.C.Mác viết: “Giống như các dân tộc cổ đại đã cảm sống tiền sử của họ trong trí
tưởng tượng, trong thần thoại, thì chúng ta, những người Đức chúng ta cảm
sống cái lịch sử tương lai của chúng ta trong tư tưởng, trong triết học, chúng ta
là những người đương thời của thế kỷ này về triết học, mà lại không phải là những người đương thời về mặt lịch sử Triết học Đức là sự kế tục của lịch sử Đức trong ý niệm” Trước và sau khi cách mạng Pháp nổ ra, không ít người Đức
đã phấn khởi chào đón cách mạng Pháp, nhất là giới trẻ, sinh viên và tầng lớp tưsản Đức
Tuy nhiên, khi cách mạng tư sản Pháp đưa Louis thứ XVI lên đoạn đầuđài, dựng lên chính quyền của những người theo phái Giacôbanh thì nhữngngười tư sản Đức kể cả giới trẻ lập tức trở thành kẻ thù tàn nhẫn của cách mạng
và của chuyên chính Giacôbanh, mặc dù họ vẫn tha thiết mong muốn cải cách tưsản trong nước họ Làn sóng ảnh hưởng của cách mạng Pháp không vì thế màdừng lại, bộ phận cấp tiến trong giai cấp tư sản Đức đã đưa tinh thần cách mạngvào trong sản xuất, phát triển thương mại, thủ công nghiệp và truyền thông Họthực hiện những đơn đặt hàng của triều đình phong kiến, vua chúa và các quýtộc, đồn binh Đồng thời, mở rộng thị trường trong nước, thực hiện trao đổi hànghóa Giai cấp tư sản Đức không thống nhất, đã thể hiện bộ mặt ươn hèn và bạcnhược; yếu về số lượng và kém về chất lượng Một mặt bị chia sẻ làm nhiềumảnh và rất phân tán nên đã làm cho nó yếu hèn và nhút nhát Mặt khác, nó rấtmuốn làm cách mạng tư sản theo gương nước Pháp nhưng không đủ sức, lại sợcách mạng nên đã thỏa hiệp với giai cấp địa chủ phong kiến
Một số nhà lý luận của giai cấp tư sản Đức vẫn hy vọng vào sự phát triểncủa chủ nghĩa tư bản ở nước Đức Qua đó, muốn đẩy mạnh công nghiệp, cảithiện nông nghiệp, công trường thủ công, xí nghiệp, khuyến khích sản xuất máymóc, phát triển khoa học tự nhiên Song, trên thực tế, các nhà lý luận Đức lạikhông muốn cộng tác với các nhà tư sản để thực hiện ước vọng của mình Vìvậy, C.Mác cho rằng, triết học cổ điển Đức là lý luận của cách mạng tư sảnPháp Điều đó thể hiện khá rõ trong quan điểm triết học của Cantơ, Selinh,Phichtơ, Hêghen, Phoiơbắc Ph.Ăngghen cũng cho rằng: “Ở Đức, vào thế kỷ thứXIX, cũng như Pháp vào thế kỷ XVIII, cuộc cách mạng triết học đã giáo đầu
Trang 5cho cuộc cách mạng chính trị Tuy nhiên, cuộc cách mạng triết học đó đã khônggiống nhau Nếu như những quan điểm của những nhà ánh sáng Pháp thế kỷ thứXVIII thường dẫn đến sự phá hủy chế độ cũ bằng con đường cách mạng thìngược lại, những nhà lý luận tư sản Đức đầu thế kỷ thứ XIX lại đặt lý tưởng của
họ vào việc hòa giải giữa chế độ cũ và chế độ mới; vào chỗ thay đổi trật tự cũmột cách tiệm tiến bằng con đường cải lương Thái độ phản đối dùng conđường cách mạng để cải cách nước Đức theo con đường tư sản là một trongnhững đặc điểm chủ yếu của những quan điểm xã hội và cách mạng thủ cựu củacác nhà triết học tư sản Đức Hêghen là một nhà triết học cổ điển Đức nổi tiếng,ông vừa thừa nhận sự phát triển lịch sử của nước Đức là một tất yếu khách quan,lại vừa tin tưởng rằng, quá trình ấy diễn ra một cách chậm chạp, tiệm tiến, hầunhư không nhìn thấy được Nhìn chung, những nhà tư tưởng của giai cấp tư sảnĐức đã phục tùng lợi ích và tâm trạng của bọn địa chủ quý tộc phản động Bởi
vì, Giai cấp tư sản Đức yếu hèn, không đủ năng lực nắm chính quyền nên chấpnhận con đường cải lương Đó là sự khác nhau rõ rệt giữa sự phát triển tư sản ởĐức và sự phát triển tư bản ở Pháp
b) Tiền đề lý luận và khoa học tự nhiên của sự xuất hiện và phát triển triết
học cổ điển Đức cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX
Tư tưởng triết học Đức cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX là sự kế tục và
sự phát triển tất yếu những trào lưu tư tưởng triết học trong lịch sử triết học, nhất
là các trào lưu triết học tiền tiến của thế kỷ XVIII Nguồn gốc lý luận trực tiếpcủa triết học cổ điển Đức thể hiện ở chỗ, nó đã kế thừa và phát triển tư tưởngtriết học và toán học của Đêcáctơ, Lepnít và tư tưởng của các nhà Ánh sáng Đứccuối thế kỷ XVIII là Létxinh, Sinle, Gớte (Đức); tư tưởng triết học của Spinôda(Hà Lan) và những người khác Vì vậy, học thuyết của các nhà triết học Đức đãchứa đựng những tư tưởng biện chứng sâu sắc
Triết học cổ điển Đức ra đời và phát triển vào lúc khoa học tự nhiên ở cácnước châu Âu đang có những tiến bộ đáng kể, nhiều phát minh vạch thời đại rađời; vạch ra tính chất biện chứng của các quá trình tự nhiên và đòi hỏi phải xâydựng phương pháp tư duy biện chứng, thay thế cho phép siêu hình đang thốngtrị thời đó Từ nửa sau thế kỷ XVIII trở đi, các nhà khoa học tự nhiên bắt đầunghiên cứu một cách có hệ thống những hình thức vận động của vật chất.Lômônôxốp đã tìm ra và chứng minh bằng thực nghiệm luật bảo tồn vật chất vàvận động Nhà khoa học tự nhiên duy vật nổi tiếng Pơrítsly và nhà hóa học Sielơ
đã khám phá ra dưỡng khí và nhà hóa học vĩ đại Pháp Lavoađiê đã dựa vào các
Trang 6phát minh ấy, xây dựng nên học thuyết về sự cháy và ô xy hóa Sự phân tíchnhững quá trình hóa học đã làm lay chuyển quan niệm máy móc, một chiều, coivận động chỉ là sự chuyển dịch đơn giản của các vật thể trong không gian, quanniệm này đã thống trị trong khoa học tự nhiên thời đó.
Ngoài những phát minh nêu trên thì phát minh ra điện dương, điện âm vàquan niệm về phát triển trong khoa học tự nhiên qua hai giả thuyết của Cantơ về
sự phát sinh vũ trụ, lịch sử hình thành trái đất, bầu trời và sự tiến hóa của giớiđộng vật, thực vật của Cuviê; sau đó là tiến hóa luận của La Mác đã giáng mộtđòn nặng vào quan niệm siêu hình về thế giới Những phát minh nổi tiếng củacác nhà khoa học tự nhiên từ cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, trong mộtchừng mực nhất định, đã được phản ánh vào trong các học thuyết triết học cổđiển Đức: Cantơ, Selinh, Phíchtơ, Hêghen và Phoiơbắc Những phát minh củakhoa học tự nhiên chính là tiền đề cần thiết cho sự phát triển tư tưởng biệnchứng của họ Nhờ đó, nó đặt ra nhu cầu, sự cần thiết phải tổng kết biện chứng
và xây dựng một phương pháp suy nghĩ và khảo sát mới nhằm phản ánh đầy đủ,khách quan quy luật vận động, phát triển của thế giới hiện thực Hêghen là nhàtriết học cổ điển Đức nổi tiếng đã có công xây dựng nên phương pháp tư duybiện chứng và cùng với chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc đã trở thànhnguồn gốc lý luận trực tiếp hình thành nên triết học Mác
2 Thành tựu và hạn chế của triết học cổ điển Đức
Khác với các nền triết học Anh, Pháp cùng thời, triết học cổ điển Đức cósắc thái riêng, là tiền đề lý luận hết sức quan trọng cho sự ra đời của triết họcMác, có ảnh hưởng lớn đối với triết học hiện đại, thể hiện qua những thành tựu
và hạn chế sau:
a) Thành tựu
Thứ nhất, triết học cổ điển Đức dựa trên một cách nhìn biện chứng về thế giới hiện thực đang vận động, phát triển
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và thực tiễn xã hội ở châu
Âu nửa cuối thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX đã chỉ ra tính hạn chế “không thểcứu vãn” của bức tranh cơ học về thế giới và sự cần thiết phải thay thế nó bằngcách nhìn biện chứng Các nhà triết học cổ điển Đức đã đáp ứng được yêu cầu
ấy Họ đã tiếp thu, kế thừa những tinh hoa, tư tưởng biện chứng trong lịch sửtriết học truyền thống, xây dựng phép biện chứng thành phương pháp luận triếthọc, áp dụng nó vào nhận thức và giải đáp các vấn đề tự nhiên và xã hội
Trang 7Có thể thấy rõ đặc điểm này qua đại biểu Emmanuen Cantơ (1724
-1804), người sáng lập triết học cổ điển Đức, một trong những học giả uyên bácnhất nửa sau thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, là giáo sư và là giám đốc trường đạihọc Cơnítbe Hoạt động sư phạm và nghiên cứu khoa học của Cantơ trước năm
1770 được gọi là thời kỳ “trước phê phán” Ông quan tâm nhiều đến các vấn đềcủa khoa học tự nhiên và thế giới quan triết học của ông có nhiều yếu tố duy vật,
vô thần và biện chứng Tác phẩm của Cantơ viết năm 1754 luận giải về sự masát của nước triều lên hàm chứa tư tưởng duy vật, vô thần và biện chứng sâu sắc.Ông cho rằng, tác động lẫn nhau giữa sức hút của mặt trăng và của trái đất đãảnh hưởng đến tốc độ xoay vòng của chúng Với những tài liệu thu được, ông đãnêu lên giả thuyết cho rằng, sự xoay vòng của trái đất bị chậm đi là do sự ma sátkhi nước triều lên gây ra Từ đó, ông xác nhận sự phát triển của các thiên thể Tưtưởng đó thể hiện rõ trong cuốn sách “Lịch sử tự nhiên đại cương” và “Họcthuyết về bầu trời” Trong cả hai cuốn sách ấy, Cantơ cho rằng, mọi sự vật nóichung và hệ thống mặt trời nói riêng đều có nguồn gốc lịch sử Theo giả thuyếtcủa Cantơ thì từ trong một khối vật thể tản mạn đầu tiên, dưới tác động củanhững sức đối lập là sức hút và sức đẩy, đã xuất hiện những vận động theo chiềugió lốc và nó đã hình thành những khối vật chất đông đặc, hình cầu, xoay vòng
và nóng lên vì ma sát Nhận định trên của Cantơ đã dựa vào quy luật lực hấp dẫncủa Newton Cantơ đã tin tưởng khi giải thích nguồn gốc của mặt trời, hành tinh
và các vệ tinh của nó trên cơ sở quan điểm duy vật Vào thời điểm đó, ở Pháp,nhà bác học Lapơlaxơ cũng đưa ra một cách độc lập những kết luận toán họcgiống như giả thuyết của Cantơ Vì vậy, giả thuyết ấy đã đi vào lịch sử với têngọi thuyết Cantơ - Lapơlaxơ Đánh giá giả thuyết của Cantơ về vũ trụ,Ph.Ăngghen cho rằng: Cantơ đã mở một đột phá khẩu vào quan niệm siêu hình
về thế giới và đập tan quan niệm về “cái hích đầu tiên của Thượng đế” Có thểkhẳng định rằng, thời kỳ “trước phê phán 1770”, thế giới quan triết học củaCantơ tràn đầy niềm tin duy vật và biện chứng Chính Cantơ đã nói rằng: Hãyđưa cho tôi vật chất, tôi sẽ chỉ cho anh rõ rằng, thế giới hình thành từ vật chấtnhư thế nào Điểm tiến bộ của triết học Cantơ là đặt lại các vấn đề mà bậc tiềnbối coi như đã giải quyết để tiếp tục nghiên cứu Trong đó, vấn đề nguồn gốccủa phạm trù, những khái niệm chung nhất của tư duy đã được Cantơ xem xétmột cách nghiêm túc Đó là cống hiến đáng kể của ông
C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đánh giá những cao cống hiến của Cantơtrong sự phát triển tư duy biện chứng Với hai giả thuyết thiên tài, Cantơ đã đưaquan niệm lịch sử vào địa hạt của đời sống xã hội Trên cơ sở quan điểm duyvật, Cantơ đã phát triển quan điểm vô thần Ông chế nhạo thần linh và phê phánnhững nhà triết học duy tâm khi cho rằng, Thượng đế là người sáng tạo thế giới,
dù rằng quan điểm duy vật, vô thần của ông về vấn đề này chưa thật triệt để
Trang 8Giả thuyết “tinh vân” của Cantơ về sự hình thành vũ trụ và cách nhìn mới
về con người trở thành khâu đột phá, chọc lỗ thủng đầu tiên vào quan hệ siêuhình về tự nhiên đang thống trị thời đó Hêghen đã phát hiện ra những quy luật
và các phạm trù cơ bản của phép biện chứng, xây dựng nó thành một khoa học
về sự phát triển của sự vật và hiện tượng, kể cả tư duy Nhờ đó, Hêghen đã tạonên một bước ngoặt có ý nghĩa cách mạng trong triết học: đã vĩnh viễn kết liễutính tối hậu của những kết quả do tư tưởng và hành động của con người Giờđây, chân lý nằm chính ngay trong quá trình nhận thức, trong sự phát trỉển lịch
sử dài lâu của khoa học Phương pháp tư duy biện chứng duy tâm khách quancủa Hêghen đã được C.Mác và P Ăngghen tiếp thu, kế thừa, cải tạo thành phépbiện chứng duy vật - linh hồn sống động của chủ nghĩa Mác
Cantơ là một trong những người có nhiều cống hiến trong xây dựng mônlôgic học Theo ông, những nguyên lý của tư duy lôgic là đối tượng của “lôgictiên nghiệm” Ông phân biệt hai loại lôgic: lôgic hình thức với tư cách là khoahọc dự bị, là ngưỡng cửa của khoa học; còn “lôgic tiên nghiệm” với tư cách làhình thức cao của lôgic Lôgic hình thức, theo Cantơ, nghiên cứu những hìnhthức của tư duy không phụ thuộc vào nội dung, đối tượng mà chỉ nghiên cứunhững hình thức thuần túy, những chức năng của tư duy, không chú ý đến nguồngốc và mối liên hệ giữa tư duy và khách thể “Lôgic tiên nghiệm” có tính chấtphổ biến và tất yếu Lôgic tiên nghiệm chia làm hai phần: phân tích tiên nghiệm
và biện chứng tiên nghiệm Phân tích tiên nghiệm, theo Cantơ, là học thuyết vềtrí tuệ Ông coi trí tuệ là giai đoạn thứ hai của nhận thức Để có tư duy giác tínhcần thiết phải có một số khái niệm cơ bản, khởi thủy, để hệ thống hóa, để tậphợp lại tài liệu của nhận thức Đó chính là những phạm trù Lôgic học của Cantơ
có một số yếu tố biện chứng Sau này đã được Phíchtơ và Hêghen phát triển.Quan điểm của Cantơ về phạm trù là một trong những đóng góp lớn đối với sựphát triển lý luận nhận thức thời ông Cantơ nêu lên tất cả mười hai phạm trù,chia làm bốn khối; mỗi khối gồm ba phạm trù trong nội bộ mỗi khối, Cantơ đãtìm được những yếu tố nhất định của những mối liên hệ biện chứng giữa cácphạm trù, đó là: 1 Chất lượng: Đơn số, số nhiều, đại thể; 2 Chất lượng: Khẳngđịnh, phủ định, hạn chế; 3 Tương quan: Bản thể và thuộc tính, nguyên nhân vàkết quả, tác động lẫn nhau; 4 Phương thức: Khả năng và bất khả năng, tồn tại vàkhông tồn tại, tất yếu và ngẫu nhiên
Cantơ cho rằng, những phạm trù của tư duy (nguyên nhân và kết quả, khảnăng và bất khả năng ) không phải là sự tổng kết kinh nghiệm mà chỉ là nhữnghình thức thuần túy của tư duy Quan niệm này là cơ sở của học thuyết của ông về
Trang 9tri thức tiên thiên (trước kinh nghiệm) Những phạm trù của tư duy không thể lấy
từ kinh nghiệm mà ngược lại, kinh nghiệm chỉ có thể có được là nhờ ở nhữngphạm trù Cantơ không đồng ý cho rằng, phạm trù là sự phản ánh của thế giớikhách quan, ông cắt rời cảm giác ra khỏi tư duy và làm cho chúng đối lập nhau
Cantơ cho rằng, giai đoạn thứ ba của nhận thức là giai đoạn lý tính thuầntúy Ông đã vạch ra sự khác nhau giữa lý tính và giác tính, từ đó dự đoán sựkhác nhau giữa phương pháp tư duy biện chứng với phương pháp tư duy siêuhình, vì rằng, lý tính về bản chất là biện chứng Học thuyết về lý tính là đốitượng của “biện chứng tiên nhiệm” Ý niệm về tâm lý học, về vũ trụ học, thầnhọc là những ý niệm chủ yếu của lý tính thuần túy Những ý niệm ấy tuy là cầnthiết cho tư duy nhưng không có khả năng cho ta những biểu tượng hoàn chỉnh
về linh hồn, về giới tự nhiên và thượng đế Xu hướng biện chứng của Cantơđược thể hiện trong học thuyết của ông về luật tương phản Ông đã vạch ra mâuthuẫn giữa những khái niệm hữu hạn với vô hạn, đơn giản với phức tạp, tất yếuvới tự do, mặc dù ông không nhìn thấy sự chuyển hóa lẫn nhau giữa những kháiniệm mâu thuẫn ấy
Cantơ cũng có công trong việc nghiên cứu mỹ học hay triết học nghệthuật, ông coi đó là sự kết thúc của triết học Trong đó, phạm trù trung tâm củatriết học nghệ thuật của Cantơ là cái tuyệt mỹ, hay là cái đẹp Song, trong quátrình phân tích, ông lại hướng sự tập trung vào “khiếu thẩm mỹ” và coi nókhông phải là gì khác mà là sự phán đoán theo chủ nghĩa chủ quan về cái tuyệt
mỹ, tức là cái gây thích thú một cách tất yếu cho tất cả mọi người một cách vô
tư, bởi chính bản thân nó Ngoài ra, Cantơ còn nghiên cứu học thuyết về thiêntài trong mỹ học của ông Đồng thời, ông tập trung phân tích nghệ thuật, dùng
nó để chứng minh hoạt động tự do của thiên tài Mỹ học của Can tơ có tính chấthai mặt, cũng mâu thuẫn giống như nhận thức luận và luân lý học của ông Mộtmặt, ông tách rời cái tuyệt mỹ ra khỏi mọi lợi ích, mọi nội dung, ông hạn chếlĩnh vực của cái tuyệt mỹ ở trong phạm vi hình thức thuần túy Mặt khác, ôngnêu lên trong sáng tác nghệ thuật những yếu tố của tính tích cực và của sự tự docủa con người
Về hòa bình và chiến tranh, Cantơ cũng có những đóng góp nhất định vềmặt lý luận Ông phê phán tính phiêu lưu mạo hiểm quân sự của những nhà cầmquyền ở Phổ lúc bấy giơ; đồng thời kêu gọi mọi người phải bảo vệ nền hòa bình,coi hòa bình là tài sản quý nhất để tồn tại và phát triển
Trong khi phê phán phương pháp siêu hình của thế kỷ thứ XVIII, Selinhđồng thời đưa ra quan niệm biện chứng hợp lý trong triết học tự nhiên của ông
Đó là những quan niệm về mối liên hệ phổ biến, về sự thống nhất, về sự pháttrỉển, về sự đấu tranh giữa những lực lượng đối lập trong giới tự nhiên
Trang 10Một đại biểu khác là Phơriđơrich Vinhem Selinh (1775 - 1854), giáo sư
trường đại học Inna và trường đại học Vua rơ buốc; đồng thời là viện sĩ Việnhàn lâm khoa học và là thư ký Viện hàn lâm mỹ học Đức Selinh sinh ra trongmột gia đình mục sư Cả đời ông đi sâu nghiên cứu triết học và thần học, viếtnhiều tác phẩm về hai lĩnh vực này và các tác phẩm của ông có tầm ảnh hưởngsâu rộng trong xã hội Đức thời đó Từ năm 1798 - 1803, ông tập trung nghiêncứu và viết nhiều tác phẩm về triết học tự nhiên Từ năm 1803 - 1806, ông tậptrung nghiên cứu và trình bày quan điểm về “Triết học của sự đồng nhất” Selinhxem phát triển như là một quá trình của tinh thần thế giới; trong đó xuất hiện sựkhác nhau giữa chủ thể và khách thể Chính sự khác nhau đó đã sản sinh ra mâuthuẫn và mâu thuẫn đó được giải quyết bằng một hình thức mới cao hơn của sựđồng nhất Đến lượt nó, hình thức đồng nhất này lại đẻ ra sự khác biệt Selinhgọi sự phát triển như thế của những khái niệm là quá trình của “phép tự thừa”
Đại biểu vĩ đại của Triết học cổ điển Đức là Gioóc Vinhem Phơriđờrich
Hêghen (1770 - 1831), giáo sư triết học và hiệu trưởng trường trung học
Nurămbe, giáo sư trường đại học Bá Linh C.Mác và Ph.Ăngghen đánh giá rấtcao Hêghen, coi: “Ông không những là một thiên tài sáng tạo mà còn là nhà họcgiả bách khoa, nên công cuộc nghiên cứu của ông đâu đâu cũng mở ra được mộtthời đại mới”2
Trong khi phát triển thế giới quan duy tâm của triết học cổ điển Đức, ôngđặc biệt chú ý đến những vấn đề về biện chứng của những khái niệm và chính
nó là một trong những thành quả quan trọng nhất của triết học trước Mác Sựphê phán của Hêghen đối với triết học của Cantơ có ý nghĩa to lớn trong triếthọc cổ đỉển Đức Ông sửa lại nhiều luận điểm của chủ nghĩa duy tâm tiênnghiệm và phê phán một cách súc tích bất khả tri luận trong triết học Cantơ,đồng thời cũng thủ tiêu những yếu tố duy vật của triết học Cantơ Triết học củaPhíchtơ cũng bị Hêghen phê phán khi ông cho rằng, quan điểm duy tâm chủquan là thiển cận và không đúng Phíchtơ đã thất bại khi định rút ra giới tự nhiên
từ chủ thể, từ Cái Tôi
Triết học Hêghen có hai khía cạnh và nó thể hiện rõ tính mâu thuẫn giữa
hệ thống siêu hình bảo thủ và biện pháp biện chứng Nếu như phương pháp biệnchứng chứa đựng trong lòng nó cái “hạt nhân hợp lý” là sự phát triển thì hệthống duy tâm giáo điều của ông lại bảo thủ, lại đòi hỏi ngừng phát triển Quanniệm về phát triển là thành quả quan trọng nhất của triết học Hêghen và trong
nó, đã được Hêghen đưa vào những thành quả của khoa học tự nhiên và hiểuđược những biến cố lịch sử đã xảy ra trong thời đại ông, đó là cuộc cách mạng
2 Ph.Ăngghen: Lútvích Phoiơbắc, C.Mác và Ph Ăngghen: Tuyển lập II, trang 345 - 346
Trang 11tư sản Pháp và điều kiện lịch sử nước Đức thời bấy giờ Công lao to lớn của triếthọc Hêghen là ở chỗ, ông là người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, lịch
sử và tinh thần dưới hình thức một quá trình, nghĩa là trong sự vận động, biếnđổi và phát triển không ngừng, đồng thời ông cố tìm ra mối liên hệ bên trongcủa sự vận động, biến đổi, phát triển ấy
Phần đầu cuốn Khoa học lôgic của Hêghen là học thuyết về tồn tại TheoHêghen, sự phát triển của tinh thần thế giới trong lĩnh vực tồn tại là sự thay thếliên tục của khái niệm chất lượng, số lượng và độ Ông coi tồn tại là sự quy địnhthứ nhất của ý niệm tuyệt đối luôn luôn vận động, phát triển Theo Hêghen, kháiniệm tồn tại thuần túy là đồng nhất với khái niệm “hư vô”, “hư không”, nhưngđồng thời, hai khái niệm đó lại có chỗ khác nhau: tồn tại thuần túy chuyển thành
hư vô và ngược lại, tạo nên cái “trở thành” Hêghen coi sự phát triển của tinhthần thế giới như một quá trình, trong đó tính liên tục và tính gián đoạn ràngbuộc lẫn nhau, và sự vận động của chúng diễn ra những bước nhảy vọt Trongphần hai của Lôgic học, Hêghen trình bày học thuyết của ông về bản chất.TheoHêghen, khái niệm tồn tại khi đạt được sự toàn vẹn của nó trong cái độ thìnhường chỗ cho khái niệm bản chất Vì thế, tinh thần thế giới nhận được một sựquy định mới, sâu sắc hơn, cụ thể hơn Về điều này, Hêghen đã dự báo rằng,nhận thức của con người đi từ hiện tượng đến bản chất Điều quý nhất trong họcthuyết về bản chất của Hêghen là tư tưởng về mâu thuẫn Hêghen coi mâu thuẫn
là nguồn gốc của vận động, là nguyên lý của phát triển
Phần thứ hai của hệ thống Hêghen là triết học tự nhiên Trong phần này,Hêghen cho rằng, ý niệm tuyệt đối sau khi đã đạt được sự phát triển đầy đủtrong lĩnh vực tư duy thuần túy liền chuyển sang “sự tồn tại khác” của nó là giới
tự nhiên Cho nên, giới tự nhiên không phát triển trong thời gian Trong triết học
tự nhiên của Hêghen cũng bộc lộ cái hạt nhân vật lý của phương pháp biệnchứng Đó là tư tưởng của sự thống nhất vật chất và vận động Đối tượng củavật lý hữu cơ - phần thứ ba, phần cuối cùng của triết học tự nhiên là sự sống.Đây là phần quan trọng nhất, vì Hêghen lý giải sự sống là sự tồn tại trực tiếp của
ý niệm Mặc dù, sự sống đã bị Hêghen tước mất cơ sở vật chất và những quyluật phát triển khách quan của nó Hêghen nghiên cứu quá trình lịch sử thế giớitrong sự phát triển của nó Ông coi lịch sử loài người chẳng qua chỉ là sự thểhiện của lý trí thần thánh Qua đó, ông đã dự đoán về các quy luật khách quancủa sự phát triển xã hội; điều này đúng như nhận xét của V.I.Lênin: TrongHêghen đã có những mầm mống của chủ nghĩa duy vật lịch sử
Trang 12Lút Vích Phoiơbắc (1804 - 1872) là đại biểu lỗi lạc của triết học cổ điển
Đức, một trong những nhà duy vật lớn nhất thời kỳ trước Mác và là một trongnhững bậc tiền bối trực tiếp của C.Mác và Ph.Ăngghen Tư tưởng triết học củaL.Phoiơbắc đã đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển nền văn hóa tiến bộĐức và góp phần hình hành nên quan điểm duy vật, vô thần của các nhà dân chủcách mạng ở Nga thế kỷ XIX; tư tưởng duy vật biện chứng của C.Mác vàPh.Ăngghen Năm 1830, ông xuất bản tác phẩm không đề tên mình: “Bàn về sựchết và sự bất tử” Trong tác phẩm này, ông đứng trên lập trường của Hêghen đểbác bỏ linh hồn bất tử, đối lập với giáo lý của đạo Thiên Chúa về sự bất diệt của
cá nhân; thừa nhận sự bất diệt của loài người Chẳng bao lâu, bọn phản động đãbiết rõ L.Phoiơbắc là tác giả của cuốn sách, chúng đã ngược đãi ông, cách chứcphó giáo sư và không cho ông giảng dạy ở trường đại học Từ năm 1837, ôngchuyển về sống ở một làng nhỏ ở tỉnh Tuaringơ và 25 năm không ra khỏi làng.Tuy nhiên, ông vẫn giữ mối liên hệ với những người theo phái Hêghen trẻ
Năm 1839, ông xuất bản cuốn sách “Phê phán triết học Hêghen” Với tácphẩm này, ông đã đoạn tuyệt với triết học duy tâm, xích lại gần hơn chủ nghĩaduy vật Năm 1841, tác phẩm nổi tiếng “Bản chất đạo thiên chúa” của ông đượcxuất bản và C.Mác và Ph.Ăngghen được chào đón nồng nhiệt Tác phẩm này rađời là sự đắc thắng của chủ nghĩa duy vật Nó đã được dịch ra nhiều thứ tiếngchâu Âu Tên của L Phoiơbắc đã trở thành biểu tượng của cuộc đấu tranh chốnglại sự dốt nát, dị đoan, chuyên chế, chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo
Công lao của L.Phoiơbắc là ở chỗ, ông đã dũng cảm đấu tranh chống lạichủ nghĩa duy tâm, thần học, đã khôi phục lại địa vị xứng đáng cho triết học duyvật, “đưa chủ nghĩa duy vật trở lại ngôi vua”
L.Phoiơbắc khẳng định rằng, thế giới là vật chất, giới tự nhiên tồn tạikhông phụ thuộc vào ý thức Giới tự nhiên là cơ sở để con người sinh ra và pháttriển Giới tự nhiên không phải do ai sáng tạo ra, nó là nguyên nhân của bản thân
nó Cơ sở tồn tại của giới tự nhiên nằm ngay trong lòng giới tự nhiên Triết họccủa L.Phoiơbắc là sự kế tục và phát triển của triết học duy vật thế kỷ XVII -XVIII Ông khẳng định: con người là đối tượng chủ yếu của chủ nghĩa duy vậtnhân bản Đó là sự cần thiết để đổi mới triết học vì chủ nghĩa duy vật nhân bản
có đủ sức mạnh để thay thế triết học cũ
Triết học nhân bản, theo quan niệm của ông, trước hết phải kết hợp vớikhoa học tự nhiên Sự kết hợp này sẽ bền bỉ hơn, may mắn hơn, có lợi hơn là sựkết hợp của triết học với thần học Triết học nhân bản khẳng định rằng, bản chấtcon người là một cái gì thống nhất Nguyên lý nhân bản xóa bỏ sự tách biệt giữa
Trang 13tinh thần với thân thể do triết học duy tâm và triết học nhị nguyên tạo ra Từ đó,L.Phoiơbắc khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ýthức Giới tự nhiên, vật chất là thực thể duy nhất, và thật sự, đẻ ra con người.Ông khẳng định: “tồn tại - chủ thể, tư duy - thuộc tính” Để bổ sung và giải thíchcho rõ nguyên lý triết học nhân bản, L.Phoiơbắc cho rằng: triết học của ông làtriết học mới, nó biến con người kể cả giới tự nhiên với tư cách là nền tảng củacon người, thành đối tượng duy nhất, phổ biến, cao nhất của triết học, do đó màcũng biến nhân loại học, kể cả sinh lý học thành khoa học phổ biến3 Quan niệm
của L.Phoiơbắc về đối tượng của triết học đối lập với quan điểm duy tâm củaHêghen khi cho rằng, ý niệm tuyệt đối là đối tượng của triết học Đối vớiL.Phoiơbắc: “Tự nhiên là hữu hình, là vật chất, là có thể cảm giác đựoc ”, “Vậtchất không phải do ai tạo ra, nó vĩnh viễn và vô hạn, phải tìm nguyên nhân của
tự nhiên ở ngay trong giới tự nhiên Tự nhiên có trước tinh thần.”4
L.Phoiơbắc đã đóng vai trò lịch sử lớn lao trong việc phát triển nhận thứcluận duy vật Ông đã phê phán bất khả tri luận và chủ nghĩa duy tâm của Cantơ;qua đó trình bày những nguyên lý căn bản của nhận thức luận duy vật và chứngminh rằng, thế giới vật chất không chỉ tồn tại khách quan mà về nguyên tắc,chúng ta có thể nhận thức được hiện thực, nhận thức được chân lý khách quan.Đối với nhận thức của con người thì thế giới vật chất là cơ sở của nó, là đốitượng của nhận thức Vì vậy, nhận thức đi từ đối tượng đến cảm giác, từ cảmgiác đến tư duy Biểu tượng và quan niệm chẳng qua chỉ là sự phản ánh củanhững sự vật vào ý thức của con người L.Phoiơbắc không chỉ đoạn tuyệt vớichủ nghĩa duy tâm mà còn đoạn tuyệt với cả chủ nghĩa duy vật tầm thường, mặc
dù ông lẫn lộn nó với chủ nghĩa duy vật nói chung Vì vậy, ông đem quan điểmnhân bản của mình để đối lập với chủ nghĩa duy vật, thậm chí không muốn dùngchữ “chủ nghĩa duy vật” Nhận thức luận của Phoiơbắc chứa đựng niềm tintưởng lạc quan vào năng lực của ý chí con người, khẳng định con người có thểnhận thức được mọi hiện tượng của giới tự nhiên Ông khẳng định rằng, cái gì
mà chúng ta hãy còn chưa nhận thức ra thì sau này con cháu của chúng ta sẽnhận thức được Tuy còn những hạn chế nhất định, song nhận thức luận củaL.Phoiơbắc vào thời điểm ấy đã đóng một vai trò lịch sử to lớn trong việc đấu tranhchống chủ nghĩa duy tâm và bất khả tri luận L.Phoiơbắc đã chứng minh một cáchđanh thép rằng, về mặt tư tưởng, chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo là họ hàng củanhau, kẻ tung người hứng, cùng nhau tước đoạt sức mạnh của con người Ông vạch
3 L.Phoiơbắc: Tuyển tập các tác phẩm triết học, tập 1, trang 202, tiếng Nga
4 L.Phoiơbắc: Tuyển tập các tác phẩm triết học, tập 2, trang 433, tiếng Nga