1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHỦ NGHĨA DUY lý tư BIỆN PHƯƠNG tây – NHỮNG THÀNH tựu và hạn CHẾ của nó

16 693 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chủ nghĩa duy lý tư biện phương Tây – Những thành tựu và hạn chế của nó
Tác giả Nguyễn Thanh Vũ
Người hướng dẫn TS. Bùi Văn Mưa
Trường học Trường Đại học Công nghệ Thông tin
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2012
Thành phố Tp Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 400,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho nên ngay từ khi mới ra đời triết học đã mang tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của một giai cấp nhất định Trải qua chiều dài lịch sử phát triển, Triết học thời Cổ Đại đến thời Trung

Trang 1

-o0o -

BÀI TIỂU LUẬN MÔN HỌC

TRIẾT HỌC

ĐỀ TÀI:

CHỦ NGHĨA DUY LÝ TƯ BIỆN PHƯƠNG TÂY – NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CỦA NÓ

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:

HỌC VIÊN THỰC HIỆN:

NGUYỄN THANH VŨ MSHV: CH1001142 LỚP: CAO HỌC KHÓA 5

TP HỒ CHÍ MINH –THÁNG 01, NĂM 2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ

THÔNG TIN

CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

VIỆT NAM

- -

NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA GIÁO VIÊN ĐỀ TÀI :

Học viên thực hiện :

Chuyên ngành :

Điểm bằng số :

Điểm băng chữ

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng 01 năm 2012

NGƯỜI NHẬN XÉT (Ký và ghi rõ họ tên)

Trang 3

Lời mở đầu 2

Chương 1: Vài nét về chủ nghĩa duy lý – tự biện phương Tây 4

1.1 Rơnê Đềcáctơ 4

1.2 Barúc Xpinoda 6

1.3 Gốt phơriét Vinhem Lépnít 7

Chương 2: Những thành tựu và hạn chế của chủ nghĩa duy lý tư biện phương Tây 11

2.1 Thành tựu 11

2.2 Hạn chế 12

Kết luận 14

Tài liệu tham khảo 14

Trang 4

Lời mở đầu

Triết học ra đời cách đây trên hai nghìn năm trăm năm ở một số

trung tâm lớn như Hy Lạp - La Mã Cổ đại, Ấn Độ Cổ đại, Trung Quốc

Cổ đại (từ khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ V trước công nguyên)

Triết học ra đời từ nhu cầu của thực tiễn và để phục vụ cho nhu cầu

sống của con người Sự ra đời của triết học bắt nguồn từ hai nguồn gốc là

nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội

- Nguồn gốc nhận thức là sự hình thành, phát triển của năng lực tư

duy trừu tượng khái quát của con người

- Nguồn gốc xã hội của nó là sự phát triển của phân công lao động xã

hội thành lao động chân tay và lao động trí óc trong xã hội có giai cấp Cho

nên ngay từ khi mới ra đời triết học đã mang tính giai cấp, phục vụ cho lợi

ích của một giai cấp nhất định

Trải qua chiều dài lịch sử phát triển, Triết học thời Cổ Đại đến thời

Trung Cổ, Phục Hưng – Cận Đại cho đến Triết học Mác ra đời đã đạt được

những thành tựu mang tính lịch sử, Triết học đã đưa cho con người có được

sự hiểu biết về tự nhiên, xã hội đặc biệt là về chính bản thân con người Triết

học đã giúp cho con người giải quyết được các hiện tượng tự nhiên, giúp con

người phát triển toàn diện về tư duy và đặc biệt đã đưa con người đi đến cái

gọi là “Tự do – bình đẳng ” và giải phóng con người để trở thành con người

đúng nghĩa

Trong giới hạn đề tài của mình, Em xin trình bày nội dung “ Chủ

nghĩa duy lý tư biện phương tây – những thành tựu và hạn chế của nó”

Trong phần trình bày của mình, Em chia thành các nội dung chính là:

Chương 1 đề cập đến những nội dung cơ bản về chủ nghĩa duy lý – tư biện

phương tây, các tư tưởng triết học trong thời kỳ này; Chương 2, Em trình

bày những thành tựu đạt được và hạn chế của chủ nghĩa duy lý – tư biện

phương tây; Phần cuối là kết luận lại những gì Em đã làm và hướng tìm hiểu

nghiên cứu môn triết học sau này

Trang 5

Em xin cảm ơn Thầy TS Bùi Văn Mưa đã truyền đạt cho Em kiến

thức về môn học, giúp cho Em có cái nhìn tổng quan về chiều dài hình thành

và phát triển của triết học, giúp cho Em hiểu được những cống hiến, giá trị

to lớn của các tư tưởng triết học và những thành tựu to lớn của triết học đã

đem lại cho con người

Trang 6

Chương 1: Vài nét về chủ nghĩa duy lý – tự biện phương Tây

Chủ nghĩa duy lý là một học thuyết trong lĩnh vực nhận thức luận, là quan

điểm rằng "lý tính là nguồn gốc của tri thức hay sự minh giải" (Lacey 286)

Chủ nghĩa duy lý là một phương pháp hoặc học thuyết "mà trong đó tiêu

chuẩn về chân lý không có tính giác quan mà có tính trí tuệ và suy diễn

lôgic" (Bourke 263) Tùy theo mức độ nhấn mạnh phương pháp hay học

thuyết này mà dẫn tới các quan điểm duy lý khác nhau, từ quan điểm ôn hòa

rằng "lý tính đáng được ưu tiên hơn các cách thu thập tri thức khác" cho đến

quan điểm cấp tiến rằng lý tính là "con đường duy nhất tới tri thức"

Chủ nghĩa duy lý - tư biện phương tây là trường phái triết học – siêu hình

học đề cao lý tính, cố gắng hệ thống hoá toàn bộ tri thức mà con người đạt

được lúc bấy giờ dựa trên cơ sở phương thức tư duy lý luận, nhằm giúp con

người thoát ra khỏi cách nhìn thiển cần về thế giới Trường phái triết học này

được Đềcáctơ đặt nền móng xây dựng, Xpinôda và Lépnít phát triển theo

khuynh hướng duy vật và duy tâm khác nhau

1.1 Rơnê Đềcáctơ

Rêne Đêcáctơ (1596 - 1650) sinh ra trong một gia đình quý tộc ở thị trấn

La Haye thuộc miền nam nước Pháp Ông vừa là nhà toán học, khoa

học, nhà triết học Tư tưởng của ông được trình bày thành 2 phần là “vật

lý học” và “siêu hình học” Trong siêu hình học, Đêcáctơ là nhà nhị

nguyên luận ngã về phía duy tâm nhưng trong khoa học, ông lại là nhà duy

vật siêu hình máy móc nổi tiếng Đêcáctơ không chỉ là người khôi phục lại

mà còn đưa truyền thống duy lý phương tây lên đỉnh cao Ông đã đặt nền

móng vững chắc cho khoa học lý thuyết Lịch sử triết học, khoa học và

văn minh tinh thần của phương tây chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các tư

tưởng của ông

a Quan niệm của R Đêcáctơ về bản chất của triết học

Ông cho rằng có thể hiểu triết học theo nghĩa rộng – đó là toàn bộ tri thức

mà con người đã đạt được về nhiều lĩnh vực khác nhau, đem lại lợi ích

thiết thực và trực tiếp cho cuộc sống con người; hoặc theo nghĩa hẹp – đó

Trang 7

là siêu hình học, là nền tảng của thế giới quan, phục vụ gián tiếp cho con

người chủ yếu thông qua các khoa học khác

Ông cho rằng trình độ của tư duy triết học là thước đo quan trọng nhất

đánh giá sự thông thái của con người và sự ưu việt của dân tộc này so

với dân tộc khác Theo Ông, nhiệm vụ của triết học là xây dựng những

nguyên tắc phương pháp luận cơ bản làm cơ sở cho sự phát triển của các

khoa học, giúp con người làm chủ giới tự nhiên

b Bản thể luận triết học của R Đêcáctơ

- Trong “Vật lý học” ông thể hiện lập trường duy vật, cho rằng tự

nhiên là một khối thống nhất được tạo nên từ các hạt nhỏ có quảng tính

và luôn vận động Về nguyên tắc vật chất có thể phân chia vô tận Ông

cho rằng không có không gian và thời gian rỗng, đó chỉ là thuộc tính

gắng liền với vật chất Vận động là bất diệt, nhưng ông mới chỉ biết về

vận động cơ học Ông đưa ra giả thuyết “lốc xoáy” để lý giải về sự hình

thành vũ trụ, theo đó vật chất lúc đầu tồn tại ở trạng thái đồng loại và

chuyển động không ngừng theo chiều xoáy như những cơn lốc, nhờ đó

các vật hạt nặng tụ lại thành đất, đá; các hạt nhẹ tản ra thành lửa, không

khí…Trong “Siêu hình học” ông thể hiện lập trường nhị nguyên,

thừa nhận hai thực thể độc lập là vật chất và tinh thần Đặc trưng của thực

thể vật chất là quảng tính; đặc trưng của thực thể tinh thần là có tư duy

Nhưng Ông lại cho rằng cả hai đều chịu sự chi phối bởi thượng đế (duy

tâm)

c Nhận thức luận của R Đêcáctơ

Về nhận thức luận, Đêcáctơ theo đường lối duy lý, đấu tranh chống

CN kinh viện Cơ sở xuất phát của nhận thức là nguyên tắc “nghi ngờ”

Ông cho rằng cần phải nghi ngờ tính đúng đắn của mọi tri thức có trước,

nhưng không thể nghi ngờ rằng mình đang nghi ngờ, mà nghi ngờ là suy

nghĩ, từ đó ông nêu luận đề duy lý: “tôi suy nghĩ vậy tôi tồn tại”

Theo ông, tri thức của con người bắt nguồn từ ba nguồn gốc: có

những tri thức có nguồn gốc khách quan (tri thức về khối lượng); có tri

Trang 8

thức mang nguồn gốc chủ quan (tri thức về cái đẹp); có những tri thức

bẩm sinh (tiên đề toán học)

Ông đề xuất phương pháp nhận thức duy lý gồm 4 nguyên tắc: 1) Chỉ

thừa nhận là chân lý những gì là hiển nhiên, rõ ràng, rành mạch, không

gợi nghi ngờ; 2) Phân chia sự vật ra thành bộ phận để xem xét từng bộ

phận; 3) Nhận thức phải đi từ những cái đơn giản đến những cái phức tạp;

4) Xem xét tất cả các mặt, các bộ phận không bỏ sót cái nào

1.2 Barúc Xpinoda

Barút Xpinôda (1632 - 1677) sinh ra trong một gia đình thương gia ở

Amtécdam, Hà Lan Ông đã phát triển tiếp tục chủ nghĩa duy lý – siêu

hình học thời cận đại Mặc dù còn nhiều hạn chế so ảnh hưởng của nền tư

tưởng đương thời nhưng trong hệ thống triết học của ông vẫn bộc lộ được

những yếu tố duy vật, vô thần và biện chứng đáng quý

a Bản thể luận của B Xpinôda

Ông là nhà triết học người Hà Lan mang lập trường duy vật, vô thần tiến

bộ Ông cho rằng chỉ có một Thực thể duy nhất là giới tự nhiên Tự

nhiên tồn tại khách quan, độc lập và tự nó sản sinh ra nó

Giới tự nhiên có vô số thuộc tính nhưng năng lực nhận thức hạn chế chỉ

giúp con người phân biệt được hai thuộc tính là quảng tính và tư duy

Thực thể là nguồn gốc và bản chất của mọi sự vật cho nên mọi sự vật đều

có linh hồn (ông rơi vào quan điểm vật hoạn luận)

Các sự vật đơn lẻ (được gọi là dạng thức) được sinh ra từ thực thể nhưng

không còn giống với thực thể vì thực thể bất động còn dạng thức luôn vận

động theo quy luật nhân quả Ông cho rằng cái tất yếu là cái có nguyên

nhân còn cái ngẫu nhiên là cái không có nguyên nhân, từ đó đi đến phủ

nhận cái ngẫu nhiên vì mọi cái đều phải có nguyên nhân (quyết định

luận máy

móc)

Trang 9

Ông coi con người chỉ là dạng thức của tự nhiên, mang trong mình 2

thuộc tính là quảng tính và tư duy, cho nên tư duy không thể tồn tại

bên ngoài cơ thể

Ông có quan niệm vô thần về tôn giáo, kêu gọi phải nghiên cứu kinh

thánh như một văn bản thông thường Tuy nhiên Ông vẫn cho rằng tôn

giáo là cần thiết cho nhân dân kém hiểu biết

b Nhận thức luận của B Xpinôda

Ông thừa nhận khả năng nhận thức của con người là vô hạn, cho rằng trật

tự và liên hệ của tư tưởng về cơ bản giống với trật tự và liên hệ của giới

tự nhiên

Nhận thức luận của Xpinôda theo đường lối duy lý Ông chia nhận thức

thành ba yếu tố là cảm tính, giác tính và trực giác, trong đó lý tính (giác

tính và trực giác) là nguồn gốc duy nhất của chân lý, còn cảm tính không

thể đem lại chân lý Ông cũng đề cao vai trò của trực giác (linh cảm), coi

nó là một nguồn gốc của tri thức đúng đắn

Ông không thừa nhận tư tưởng bẩm sinh, cho rằng nhiệm vụ của nhận

thức là phải tìm ra nguyên nhân của các dạng thức (sự vật đơn nhất)

Xpinôda giải quyết một cách duy vật quan hệ giữa tự do và tất yếu, cho

rằng tự do và tất yếu không loại trừ nhau mà phụ thuộc vào nhau Tự do

là nhận thức và hành động theo cái tất yếu

1.3 Gốt phơriét Vinhem Lépnít

Gophrit Vinhem Lépnít (1646 – 1716) là nhà toán học, nhà vật lý học, nhà

triết học lỗi lạc người Đức Chịu ảnh hưởng bởi các tư tưởng của Arixtot,

Đêcactơ, Xpinôda Ông cho rằng Siêu hình học phải đóng vai trò là cơ sở,

nền tảng cho các khoa học khác, giống như bộ dễ cây vậy Ông là người

đầu tiên phân chia Siêu hình học ra làm 2 đường lối và gọi tên chúng

là “chủ nghĩa duy vật” và “chủ nghĩa duy tâm” Ông xem cả hai trào lưu

này đều có mặt tích cực lẫn những hạn chế của nó, ông ra xây dựng một hệ

thống triết học mới phát huy những ưu diểm và nhược điểm của 2 trào lưu

triết học này

Trang 10

a Bản thể luận

Ông chia triết học ra thành 2 bộ phận là “vật lí học” và “Siêu hình học”

Nhiệm vụ của “Vật lí học” là nghiên cứu về các vật thể tự nhiên Tuy có

quan niệm duy tâm về vấn đề này nhưng Lépnit đã thể hiện lập trường

biện chứng về tự nhiên như: Coi đó là sản phẩm cao nhất của thượng đế

và luôn nằm trong quá trình hoàn thiện không ngừng; coi đó là một

thế giới thống nhất, luôn có sự liên hệ phổ biến với nhau; coi không gian

và thời gian là thống nhất và gắn liền với các vật thể tự nhiên

Trong “Siêu hình học” Ông thể hiện lập trường duy tâm Ông cho

rằng “Siêu hình học” không chỉ là học thuyết về bản chất của các vật thể,

mà còn là học thuyết về Thượng đế

Ông phê phán Đêcáctơ vì đã tách rời vật chất và ý thức; phê phán

Xpinôda vì không thấy được tính đa dạng của thế giới và tính năng động

của các sự vật Ông cho rằng thực thể là sự thống nhất giữa “Đơn tử” -

tức bản chất tinh thần, và vật chất - tức biểu hiện của nó Cho nên thế

giới là thống nhất về bản chất nhưng đa dạng về biểu hiện

Đơn tử là phần tử đơn giản nhất của thực thể, chúng không có bộ

phận, không sinh ra, không mất đi, khép kín, không them vào và không

bớt đi Đây là những lực lượng tinh thần sống động trong mỗi sự vật hiện

tượng Các đơn tử không chỉ sống động mà còn có khả năng tự nhận thức

chính bản than mình Tuỳ vào khả năng nhận thức của chúng mà có thể

phân chúng ra thành 3 loại: “Các đơn tử trần truồng” - tạo ra các vật vô

cơ, trong đó tiềm ẩn “các linh hồn chết”; các đơn tử có khả năng cảm

giác và trực quan, tạo nên thực vật và động vật; các đơn tử phát triển

hoàn thiện nhất tạo nên con người Các đơn tử này vừa độc lập, vừa liên

hệ với nhau thành khối thống nhất dưới sự chỉ huy của thượng đế và

chúng phát triển theo nguyên tắc “hài hoà tiền định”

Ông chứng minh cho sự tồn tại đích thực của Thượng đế từ 4 lí do: Thứ

nhất, vì đó là một tồn tại tất yếu; thứ hai, trong thế giới mọi cái đều là

ngẫu nhiên, nhờ Thượng đế mà chúng trở thành tất yếu; thứ ba, vì

Trang 11

Thượng đế là linh hồn bất diệt, là cơ sở của “chân lý vĩnh viễn”; thứ tư, vì

Thượng đế là cơ sở cho “sự hài hoà tiền định” của sự phát triển

b Nhận thức luận

Ông coi con người là sự thốngg nhất giữa linh hồn và thể xác, trong đó

linh hồn là bản chất, còn thể xác là hiện tượng Ông theo chủ nghĩa duy

lý của Đêcáctơ, thừa nhận tư tưởng bẩm sinh và phê phán nguyên tắc

“tấm bảng sạch của G Lốccơ”

Lépnit xây dựng phương pháp luận nhận thức với 11 nguyên tắc:

1) Nguyên tắc khác nhau phổ biến: không có hai sự vật hoàn toàn

giống nhau

2) Nguyên tắc đồng nhất: nếu có 2 sự vật hoàn toàn giống nhau về

tính chất thì chúng là cùng một sự vật

3) Nguyên tắc liên tục: Sự phát triển luôn có tính kế thừa “Cái hiện

tại là kết quả của quá khứ đồng thề là tiền đề của tương lại, và mọi trạng

thái hiẹn tại chỉ có thể được giải thích thong qua trạng thái trực tiếp trước

đó…”

4) Nguyên tắc gián đoạn: thừa nhận sự phân chia tương đối giữa các

sự vật

5) Nguyên tắc đầy đủ: Thế giới chứa đựng trong mình trọn vẹn và đầy

đủ các sự vật và tính chất của chúng nên con người phải hướng nhận thức

đến sự trọn vẹn đó

6) Nguyên tắc hoàn thiện: thừa nhận thế giới không ngừng tự hoàn

thiện mình

7) Nguyên tắc liên hệ giữa thế giới khả năng (tinh thần) và thế giới

hiện thực (vật thể)

8) Nguyên tắc thừa nhận vai trò của Tam đoạn luận và ba quy luật

của logic hình thức

9) Nguyên tắc lý do đầy đủ (quy luật thứ tư của logic học): Đối với

chân lý của lý tính chỉ cần 3 quy luật đầu tiên là đủ; đối với “chân lý của

Ngày đăng: 18/12/2013, 11:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w