Do đó, việc hiểu và nắm bắt được các quy tắc trọng âm trong từ Tiếng Anh đóng vai trò hết sức quan trọng đối với những người sử dụng các ngôn ngữ khác có hình thức đánh dấu trọng âm khôn
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA NGỮ ÂM
TIẾNG VIỆT
Tên đề tài :
TRỌNG ÂM TỪ TRONG TIẾNG ANH
NCS: NGUYỄN THANH DƯƠNG Ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu
Hà Nội – 11/2018
1
Trang 21 Lý do chọn đề tài
Theo Cooper (2002) và Sanders, Neville và Woldorff (2002), những ngươi nói Tiếng Anh bản xứ dựa vào trọng âm của từ để nhận diện các từ riêng biệt cũng như các từ trên cấp độ câu Do đó, việc hiểu và nắm bắt được các quy tắc trọng
âm trong từ Tiếng Anh đóng vai trò hết sức quan trọng đối với những người sử dụng các ngôn ngữ khác có hình thức đánh dấu trọng âm không tương đồng bởi
nó có thể ảnh hưởng đến khả năng lĩnh hội trong quá trình giao tiếp (Celce-Murcia et al, 1996)
Trọng âm từ đóng một vai trò vô cùng quan trọng là tạo nên ngữ điệu Chính do việc chúng ta thể hiện rõ trọng âm sẽ khiến cho câu nói có độ lên xuống nhất định Điều này được đánh giá rất cao trong tiếng Anh vì không chỉ giúp cho câu nói trở nên hấp dẫn, tự nhiên mà còn biểu đạt cảm xúc rất tốt Bên cạnh đó, trong tiếng Anh có rất nhiều từ có cách viết giống nhau, thậm chí cả cách phát
âm Nếu chúng ta bỏ qua trọng âm của chúng, từ này sẽ không được phân biệt
Ví dụ, “desert” mang 2 nghĩa Một nghĩa là “sa mạc”, một là “xứng đáng” Với trọng âm thay đổi trong câu thoại, chúng ta sẽ hiểu từ này mang nghĩa nào Nếu
vô tình bỏ qua trọng âm, chúng ta đã làm giảm sự đa dạng của tiếng Anh rất nhiều
Đề tài “Trọng âm từ trong Tiếng Anh” đã được lựa chọn nhằm mục đích cung cấp cho người học Tiếng Anh một số kiến thức cơ bản được hệ thống hoá về trọng âm ở cấp độ từ trong Tiếng Anh, giúp người học nhận diện và làm quen với cách đặt trọng âm, để họ có thể hiểu và tiên liệu được trọng âm chính sẽ nên được đặt vào vị trí nào của một từ khi phải đương đầu với cả một lượng từ khổng lồ trong Tiếng Anh Tuy nhiên do hạn chế về mặt thời gian, tài liệu tham khảo nên bài tiểu luận này chỉ tìm hiểu ba trường hợp cụ thể liên quan đến trọng
âm từ trong Tiếng Anh là (1) một số khác biệt về trọng âm từ giữa Tiếng Anh
Trang 3của người Mỹ và Tiếng Anh của người Anh; (2) Các quy tắc trọng âm đối với tiền tố và hậu tố; và (3) Các quy tắc trọng âm đối với danh từ ghép
2 Lịch sử vấn đề
Chủ đề nghiên cứu về trọng âm từ đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của các học giả trên thế giới và đã có khá nhiều công trình nghiên cứu với nhiều khía cạnh liên quan đã được thực hiện
Trên bình diện tìm hiểu khả năng nhận thức và lĩnh hội trọng âm của người
học, Archibald (1993) điều tra về khả năng nắm bắt trọng âm từ Tiếng Anh của các sinh viên Tây Ban Nha bằng cách thực hiện các bài tập trọng âm như đọc, xác định trọng âm qua bài nghe Kết quả nghiên cứu của Archibald cho thấy rằng các sinh viên có khả năng Tiếng Anh tốt có khả năng nắm bắt trọng âm khá chính xác nhưng kỹ năng phát âm của họ vẫn bị ngôn ngữ bản xứ ảnh hưởng khá nhiều Trong khi đó các sinh viên có khả năng Tiếng Anh kém hơn chưa chú ý đến việc phát triển khả năng nắm bắt trọng âm Chính vì vậy, tỷ lệ sai lỗi phát âm giữa hai đối tượng sinh viên này vẫn khá tương đồng
Trong một nghiên cứu cùng hướng nhưng tìm hiểu về mối quan hệ giữa khả năng nắm bắt và lĩnh hội trọng âm của các sinh viên Thái Lan, Jarusan (1997) chỉ ra rằng có một mối quan hệ rất gần giữa khả năng nhận thức, nắm bắt và thực hành trọng âm Theo đó, những sinh viên có khả năng nhận diện được chính xác trọng âm chính của các từ cũng sẽ có khả năng đặt đúng trọng âm khi
sử dụng từ Jarusan cũng đưa ra kết luận khá tương đồng với Archibald rằng các vấn đề liên quan đến các lỗi trọng âm của sinh viên là do sự ảnh hưởng rất lớn của ngôn ngữ mẹ đẻ
Nguyen và Ingram (2005) cũng tiến hành nghiên cứu về khả năng phát âm của các học viên Việt nam bằng hình thức chia nhóm theo trình độ và đọc lớn các câu để so sánh sự khác biệt về trọng âm Kết quả của nghiên cứu này cho thấy phát âm từ của các nhóm sinh viên có trình độ cao thể hiện được sự khác biệt
Trang 4giữa các từ mang trọng âm và các từ không mang trọng âm trong khi đối với các sinh viên ở cấp độ ban đầu thì hầu như không có sự khác biệt nào rõ ràng giữa các từ mang trọng âm và các từ không mang trọng âm Với kết quả đó, Nguyen và Ingram cho rằng kỹ năng tạo ra sự khác biệt về trọng âm là kỹ năng hoàn toàn có thể học được
Trên bình diện nâng cao nhận thức của người học về trọng âm, Henrichsen và
các cộng sự (1999) tiếp cận trọng âm từ thông qua hình thức lồng ghép các cặp
từ có sự khác biệt chủ yếu về trọng âm vào một câu chuyện ngắn, sau đó đưa ra các câu hỏi làm nổi bật sự khác biệt về nghĩa giữa hai từ, ví dụ như comedy / committee Mặc dù phương pháp này giúp nâng cao ý thức của sinh viên về vấn
đề trọng âm nhưng nó không cung cấp cho họ các nguyên tắc để tiên liệu và hiểu về sự logic trong trọng âm của mỗi từ
Cùng hướng với Henrichsen nhưng Hagen (1992), Dale và Poms (1994) không
sử dụng hình thức lồng ghép các cặp từ vào ngữ cảnh giao tiếp mà thay vào đó
họ áp dụng một số hoạt động thường gặp như dùng tay vỗ nhịp, sử dụng các kiểu chữ, kích cỡ chữ khác nhau để thể hiện sự khác biệt về trọng âm thông qua hình ảnh trực quan Sự khác biệt của các nghiên cứu này là ở chỗ: nâng cao nhận thức của người học bằng cách giải thích khái niệm trọng âm, liệt kê các từ
có trọng âm trên âm tiết thứ nhất và thứ hai, đồng thời cung cấp danh mục các
từ có cách viết giống nhau nhưng khác âm hoặc khác nghĩa nhằm chỉ rõ sự khác biệt về trọng âm khi chúng là danh từ hoặc động từ
Trên góc độ liên quan đến khả năng nhận diện trọng âm, một số nghiên cứu đã
cố gắng giải thích việc trọng âm có thể dự đoán được bằng cách dựa vào một số tiếp tố Đại diện tiêu biểu cho các nghiên cứu này là Dauer (1993), Gilbert (1993), Grant (2001), Hewings (1998), Lane (2005), Miller (2006), Orion (1997) Tuy nhiên điều cần đề cập ở đây là các nghiên cứu này không đề xuất được một cách đầy đủ các bảng liệt kê chi tiết các tiếp tố có ảnh hưởng đến
Trang 5trọng âm Miller (2006) liệt kê 22 tiếp tố; Grant (2001) 18 tiếp tố ; Dauer (1993)
38 tiếp tố Thậm chí một số nghiên cứu chỉ liệt kê 5 đến 10 tiếp tố như Lane (2005), Gilbert (1993), Hewings (1998)
3 Lý thuyết liên quan đến đề tài
3.1 Âm tiết
Để hiểu được trọng âm của một từ, người học cần nắm rõ thế nào là âm tiết (syllable) Theo Trần Mạnh Tường (2013), âm tiết là một bộ phận của từ, một
từ có thể có một hoặc nhiều âm tiết
Ví dụ:
1 âm tiết: map / cat / road
2 âm tiết: member / tender / duaghter
3 âm tiết: engineer / continue / document
4 âm tiết: intelligent / environment / continental
5 âm tiết: international / unbelievable / unavailable
Một âm tiết bao gồm một nhóm các chữ cái được phát âm cùng nhau Mỗi âm tiết có thể có một hoặc nhiều phụ âm (C), nhưng chỉ một nguyên âm (V) Thỉnh thoảng một nguyên âm có thể đứng một mình để tạo thành một âm tiết Nếu nguyên âm tượng trưng cho một âm thì âm tiết đó không cần phải có phụ âm
Để xác định âm tiết, Trần Mạnh Tường (2013) cho rằng một âm nguyên âm là yếu tố cơ bản để tạo thành một âm tiết Vì thế cần phải biết một chuỗi chữ cái nguyên âm đại diện cho một âm nguyên hay nhiều hơn và số âm tiết bằng số âm nguyên âm
3.2 Trọng âm
3.2.1 Định nghĩa trọng âm
Babista (1981) cho rằng mặc dù thuật ngữ trọng âm từ đã được các nhà ngôn ngữ học đương đại sử dụng ngày càng nhiều nhưng nó vẫn chưa có một định nghĩa đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu Theo Babtista (1981), đặc trưng của trọng âm
Trang 6có thể được miêu tả dưới ba góc độ khác nhau: sinh lý học, vật lý học và tâm lý học Quan điểm sinh lý học cho rằng trọng âm là nguồn lực tạo ra âm thanh hay
âm tiết Đồng thời, nguồn năng lượng xuất phát từ phổi sẽ làm cho một âm tiết nào đó của một từ mạnh hơn Định nghĩa này cho thấy rằng sẽ cần nhiều lực hơn để tạo ra âm tiết mang trọng âm so với các âm tiết còn lại Do đó, các âm tiết mang trọng âm sẽ được phát âm mạnh hơn so với các âm tiết khác trong từ Tuy nhiên, từ góc dộ vật lý học, yếu tố phù hợp nhất để nhận diện trọng âm của
từ là tần suất, và tiếp sau đó là trường độ và cường độ trong khi theo quan điểm tâm lý học thì các yếu tố quan trọng nhất theo thứ tự sẽ là âm vực, trường độ và
độ vang Babtista giải thích rằng các âm tiết có trọng âm được cấu thành bởi bốn yếu tố là âm nhấn (stress), âm vực (pitch), tính đặc trưng (quality) và âm lượng (quantity) Tuy nhiên, trong các yếu tố này âm vực được xem là dấu hiệu
dễ nhận thấy nhất và có hiệu quả nhất với người học
Bên cạnh nghiên cứu của Babtista, Murcia và các cộng sự (1996) cũng đã có những đóng góp cụ thể để giúp hiểu rõ hơn về hiện tượng trọng âm khi cho rằng
“các âm tiết mang trọng âm thường là những âm tiết được phát âm dài hơn, to hơn và có âm vực cao hơn”
3.2.2 Phân loại trọng âm
3.2.2.1 Trọng âm từ (Word stress)
Theo Trần Mạnh Tường (2013), trọng âm (stressed syllable) của một từ là một vần (syllable) hay một âm tiết của từ đó được đọc mạnh và cao hơn những vần còn lại, nghĩa là phát âm ra đó với một âm lượng lớn hơn và cao độ hơn Một từ không chỉ có một trọng âm mà còn có thể có 2 trọng âm là trọng âm chính (main stressed syllable) và trọng âm phụ (secondary stressed syllable)
Kreidler (2004) cho rằng trọng âm là một thuộc tính của từ Trọng âm của từ đóng vai trò rất quan trọng trong quy trình xử lý ngôn ngữ (Brown, 1990; Field, 2004) Để xác định các từ, người Anh bản xứ và những người có năng lực nghe
Trang 7tốt thường dựa vào trọng âm của từ Việc đặt sai vị trí trọng âm của từ có thể dẫn đến việc hiểu sai trong giao tiếp (Ur, 2003)
Trong Tiếng Anh không phải từ nào cũng được mang trọng âm Thông thường những từ nội dung (content words) sẽ mang trọng âm còn từ chức năng (function words) thì không Với các từ nội dung, trọng âm thường được quyết định dựa trên một số yếu tố như sau:
a Nguồn gốc xuất xứ của từ ( từ la tinh, từ Hy lạp…)
b Độ phức tạp của các yếu tố hình thái (các tiếp tố làm thay đổi trọng âm)
c Loại từ (danh từ, động từ, tính từ, trạng từ…)
d Số lượng âm tiết của từ
e Cấu trúc ngữ âm của âm tiết
3.2.2.2 Trọng âm cụm từ (Phrase stress)
Trong Tiếng Anh, cụm danh từ bao gồm một danh từ đóng vai trò là từ chính và
là phần quan trọng nhất của cụm từ Danh từ này được đi kèm bởi một hay nhiều thành tố khác như mạo từ, đại từ, từ định lượng…Trong trường hợp này trọng âm chính sẽ rơi vào danh từ chính
Một cụm danh từ bao gồm một tính từ và một danh từ ghép, trọng âm chính sẽ rơi vào phần đầu của danh từ ghép Trong cụm giới từ bao gồm giới từ và một danh từ, trọng âm sẽ được đặt ở danh từ Nếu một cụm giới từ có một giới từ với hai hoặc nhiều hơn hai âm tiết thì sẽ có 2 trọng âm Trọng âm chính nằm ở danh từ và trọng âm phụ nằm ở giới từ Nếu cụm giới từ chứa đựng một cụm danh từ, trọng âm chính và trọng âm phụ được đặt ở cụm danh từ Với các cụm động từ, trọng âm nằm ở động từ chính còn các trợ động từ được phát âm ở dạng yếu (weak forrms) Với các cụm tính từ, trọng âm chính nằm ở tính từ và trọng âm phụ được đặt ở trạng từ Trong các cụm tính từ ghép trọng âm chính nằm ở tính từ thứ hai, trọng âm phụ nằm ở tính từ thứ nhất còn liên từ “and”
Trang 8được phát âm ở dạng yếu Với cụm trạng từ, troạng âm chính được đặt ở từ thứ hai
3.2.2.3 Trọng âm câu (Sentence stress)
Các trọng âm ở cấp độ từ có thể thay đổi khi từ được sử dụng và trở thành một
bộ phận của câu Sự thay đổi thường thấy nhất là việc một số trọng âm sẽ bị mất
đi Vị trí của trọng âm thay đổi tuỳ theo trọng âm của các từ bên cạnh trong câu Các từ mang hai trọng âm mạnh khi phát âm riêng lẻ thì được gọi là từ có trọng
âm đôi (doubled – stressed words) Tuy nhiên khi kết hợp với các từ có trọng
âm mạnh hơn đi phía sau, trọng âm chính thứ hai sẽ trở thành âm yếu và ngược lại nếu đi chung với một từ có trọng âm mạnh hơn đứng phía trước thì trọng âm mạnh thứ nhất sẽ trở thành âm yếu
Bài tiểu luận này chỉ giới hạn trong phạm vi tìm hiểu và hệ thống lại một số các nguyên tắc trọng âm ở cấp độ từ Việc nghiên cứu sâu về trọng âm trong cụn từ
và trong câu có thể sẽ được thực hiện trong các nghiên cứu khác tiếp theo
4 Các quy tắc trọng âm từ trong Tiếng Anh
4.1 Ảnh hưởng của các ngôn ngữ khác đối với trọng âm từ Tiếng Anh
Để hiểu rõ các hiện tượng liên quan đến quy tắc trọng âm từ trong Tiếng Anh, việc tìm hiểu thêm về cấu trúc ngôn ngữ này qua các thời kỳ cũng là điều rất cần thiết Việc đánh dấu trọng âm trong Tiếng Anh có nguồn gốc lịch sử ngôn ngữ khá lâu dài, nhiều sắc thái (Celce-Murcia, Brinton & Goodwin, 1996) Qua những cuộc chiến tranh, ngôn ngữ Tiếng Anh đã vay mượn nhiều từ và qua đó làm giàu thêm kho từ vựng của nó Nhiều từ trong Tiếng Anh mang những đặc trưng trọng âm xuất phát từ nguồn gốc của chúng Theo Celce-Murcia, Brinton
& Goodwin (1996), các từ có nguồn gốc là Tiếng Đức chẳng hạn thường đặt trọng âm ở âm tiết đầu tiên như trong các từ FAther, SISter, OFten, FINger và WAter Mặc dù sự đóng góp của các từ Tiếng Đức cho Tiếng Anh là không nhiều nhưng chúng rất thường xuyên được sử dụng để nói về các mối quan hệ
Trang 9anh chị em (kinship terms), các bộ phận cơ thể (body parts), con số (numbers), giới từ (prepositions), cụm động từ và động từ bất quy tắc (phrasal and irregular verbs)
Ngoài ra, các từ được vay mượn từ Tiếng Pháp thường có xu hướng đặt trọng
âm ở các hậu tố (suffix) Celce-Murcia, Brinton & Goodwin (1996) cho rằng Tiếng Pháp thường tạo cho âm tiết cuối cùng có trọng âm mạnh trong khi các
âm tiết còn lại hầu như không có trọng âm hoặc nhấn âm rất nhẹ Khía cạnh này
sẽ làm ảnh hưởng đến việc đánh dấu trọng âm đối với những từ Tiếng Anh có nguồn gốc từ Tiếng Pháp Một số hậu tố có nguồn gốc từ Tiếng Pháp có thể kể
ra ở đây như: aire, ee, eer, ese, esque, ique, eur, euse, ette, oon, -et/ey Có thể ví dụ một số từ như: millioNAIRE, trusTEE, engiNEER, LebaNESE, groTESQUE, bouTIQUE, masSEUSE, chanTEUSE, balLOON, basiNETTE, and balLET Mặc dù không phải tất cả các từ có nguồn gốc từ Tiếng Pháp được sử dụng thường xuyên nhưng nếu người học Tiếng Anh hiểu được về hiện tượng vay mượn từ từ Tiếng Pháp và các hậu tố của chúng, họ có thể sẽ áp dụng quy tắc trọng tâm chính xác hơn
4.2 Khác biệt trọng âm từ giữa Tiếng Anh của người Mỹ và Tiếng Anh của người Anh
Theo Celce-Murcia, Brinton & Goodwin (1996) có nhiều từ trong Tiếng Anh của người Anh và Tiếng Anh của người Mỹ có sự khác biệt chính yếu về phát
âm và sự khác biệt này khởi nguồn từ trọng âm của từ Có thể liệt kê ra ở đây một số khác biệt giữa hai loại hình ngôn ngữ này về trọng âm trong từ như sau:
Các động từ kết thúc bằng -ate
Với các động từ này, nhiều từ Tiếng Anh của người Mỹ thường có xu hướng đặt trọng âm ở âm tiết thân tố (root syllable) trong khi người Anh đặt trọng âm
ở âm tiết hậu tố (suffix syllable)
Ví dụ:
Trang 10Tiếng Anh người Mỹ (AE) Tiếng Anh người Anh (BE)
Các từ có nguồn gốc Tiếng Pháp
Với loại từ này người Anh thường đặt trọng âm ở âm tiết đầu tiên trong khi người Mỹ đặt trọng âm ở âm tiết cuối cùng theo kiểu của người Pháp
Ví dụ:
Các từ có 3 đến 4 âm tiết
Đối với loại từ này, người Mỹ thường đặt trọng âm ở âm tiết thứ 2 trong khi người Anh đặt trọng âm ở âm tiết đầu tiên
Ví dụ:
ArIStocrat ARistocrat
Các từ kết thúc bằng -ily
Với các từ này, người Mỹ thường đặt trọng âm ở âm tiết thứ 3 trong khi người Anh đặt trọng âm ở âm tiết đầu tiên Đồng thời, người Anh cũng thường có xu hướng rút gọn hoặc bỏ âm tiết thứ ba và phát âm các từ này với bốn âm tiết thay
vì năm âm tiết