Nghiên cứu nhằm tìm hiểu các đặc điểm của siêu âm tim và khả năng tiên lượng tử vong do tắc động mạch phổi cấp. Nghiên cứu mô tả cắt ngang từ tháng 12 năm 2006 đến tháng 8 năm 2015, trên 85 bệnh nhân được chẩn đoán tắc động mạch phổi cấp. Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân nghiên cứu là 55,7 ± 18,7.
Trang 1Địa chỉ liên hệ: Bùi Hoàng Hải, Bộ môn Gây mê Hồi sức,
Trường Đại học Y Hà Nội
Email: hoangbuihai@gmail.com
Ngày nhận: 10/10/2015
Ngày được chấp thuận: 26/02/2016
ĐẶC ĐIỂM CỦA SIÊU ÂM TIM TRONG TIÊN LƯỢNG BỆNH NHÂN TẮC ĐỘNG MẠCH PHỔI CẤP
Đỗ Giang Phúc, Hoàng Bùi Hải
Bệnh viện Đại Học Y Hà Nội Nghiên cứu nhằm tìm hiểu các đặc điểm của siêu âm tim và khả năng tiên lượng tử vong do tắc động mạch phổi cấp Nghiên cứu mô tả cắt ngang từ tháng 12 năm 2006 đến tháng 8 năm 2015, trên 85 bệnh nhân được chẩn đoán tắc động mạch phổi cấp Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân nghiên cứu là 55,7 ± 18,7 Tỉ lệ bệnh nhân có rối loạn chức năng thất phải là 89,4%, trong đó 74/85 (85,9%) bệnh nhân có tăng
áp động mạch phổi, 36/85 (42,4%) có giãn thất phải, 1/85 (1,18%) có huyết khối buồng tim phải Có 6/85 (7%) bệnh nhân tử vong trong vòng 1 tháng và đều có rối loạn chức năng thất phải Nghiên cứu cho thấy có
sự tương quan giữa áp lực động mạch phổi và độ nặng trên phim chụp cắt lớp vi tính động mạch phổi; giữa giãn thất phải với tăng troponin T và NT - ProBNP ở bệnh nhân tắc động mạch phổi cấp Tỷ lệ tử vong trong vòng 1 tháng đầu của bệnh nhân tắc động mạch phổi cấp có xu hướng cao hơn khi có rối loạn chức năng thất phải trên siêu âm tim.
Từ khóa: siêu âm tim, tắc động mạch phổi, rối loạn chức năng thất phải
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Tắc động mạch phổi là một bệnh lý thường
gặp ở bệnh nhân nội trú với tỷ lệ tử vong cao,
chỉ xếp sau nhồi máu cơ tim và đột quỵ não
[1; 2] Tăng áp động mạch phổi và rối loạn
chức năng thất phải là hậu quả của tắc động
mạch phổi Đây cũng là nguyên nhân đẩy
bệnh nhân tới bệnh cảnh sốc và tử vong [2]
Từ những năm 90 của thế kỷ trước, các nhà
khoa học đã tìm cách phát hiện và đánh giá
chức năng thất phải và tình trạng tăng áp phổi
ở những bệnh nhân nghi ngờ tắc động mạch
phổi cấp để chẩn đoán, theo dõi, tiên lượng và
điều trị bệnh nhân Siêu âm tim là một biện
pháp thăm dò không xâm lấn, an toàn có độ
chính xác cao đã nhanh chóng được đưa vào
nghiên cứu và thực hành lâm sang Năm
1995, Lualdi và cộng sự đã chỉ ra tầm quan
trọng và ý nghĩa của rối loạn chức năng thất phải trên siêu âm tim của những bệnh nhân tắc động mạch phổi cấp giúp phân tầng nguy
cơ của bệnh nhân và can thiệp kịp thời kể ở
cả những bệnh nhân có huyết động ổn định [3] Đến năm 1996, McConnell và cộng sự đã chỉ rõ các vùng tổn thương thất phải phát hiện được trên siêu âm tim và đưa ra dấu hiệu McConell (giảm vận động của thành tự do thất phải với vận động mỏm tim bình thường) rất
có giá trị ở bệnh nhân tắc động mạch phổi với
độ nhạy 77% và độ đặc hiệu 94% trong chẩn đoán [4] Sau đó 1 năm, siêu âm tim đã được coi như một yếu tố tiên lượng bệnh nhân tắc động mạch phổi cấp [5] Vào năm 2002, tác giả Goldhaber đã mô tả các dấu hiệu có thể thấy được trên siêu âm tim bao gồm tăng áp phổi, rối loạn chức năng thất phải, giãn thất phải, huyết khối buồng tim phải và huyết khối
ở động mạch phổi (thân chung và động mạch phổi 2 bên) Tác giả cũng chỉ ra siêu âm tim không được khuyến cáo như một thăm dò hình ảnh thường quy để chẩn đoán các
Trang 2trường hợp nghi ngờ tắc động mạch phổi
nhưng rất hữu ích để đánh giá mức độ nặng
của bệnh nhân [6] Hướng dẫn chẩn đoán và
điều trị tắc động mạch phổi của hội tim mạch
châu Âu năm 2014 một lần nữa nhấn mạnh vai trò của siêu âm tim trong việc quyết định điều trị tái tưới máu cho bệnh nhân cũng như theo dõi tiến triển của bệnh [1]
Tìm các nguyên
nhân khác gây bất
ổn huyết động
Tìm các nguyên nhân khác gây bất
ổn huyết động
Quá tải thất phải
Siêu âm tim
Âm tính
Điều trị đặc hiệu cho TĐMP – tái tưới máu thì đầu
Nghi ngờ tắc động mạch phổi cấp có sốc/ tụt huyết áp
Chụp được CLVT ĐMP ngay lập tức?
Không Có
Có
Thực hiện được CLVT ĐMP và bệnh nhân ổn định
Không thể thực hiện thăm dò khác
hoặc bệnh nhân không ổn định
Dương tính
Hình 1 Quy trình chẩn đoán bệnh nhân tắc động mạch phổi có sốc hoặc tụt áp
*CLVT: Cắt lớp vi tính; ĐMP: Động mạch phổi; TĐMP: Tắc động mạch phổi
Trang 3Ở Việt Nam, tắc động mạch phổi ngày
càng được quan tâm, và đang tiếp tục được
nghiên cứu Tuy nhiên, việc nghiên cứu vai trò
của siêu âm tim mới dừng lại ở mức mô tả
các dấu hiệu của bệnh nhân tắc động mạch
phổi ghi nhận được trên siêu âm tim [7; 8]
Nghiên cứu được tiến hành nhằm mục tiêu:
- Mô tả rối loạn chức năng thất phải trong
siêu âm tim của các bệnh nhân tắc động mạch
phổi cấp
- Đánh giá vai trò của siêu âm tim trong
tiên lượng tử vong bệnh nhân tắc động mạch
phổi cấp
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1 Đối tượng
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
Bệnh nhân trên 18 tuổi, được chẩn đoán
xác định tắc động mạch phổi qua chụp cắt lớp
vi tính động mạch phổi có tiêm thuốc cản
quang thấy huyết khối mới trong động mạch
phổi ở bất cứ vị trí nào Bệnh nhân xuất hiện
triệu chứng lần đầu trong vòng 14 ngày Được
làm siêu âm tim trước điều trị
Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia vào
nghiên cứu
- Bệnh nhân không đáp ứng được đầy đủ
quy trình nghiên cứu
2 Phương pháp
Nghiên cứu mô tả cắt ngang loạt ca bệnh
Siêu âm tim được thực hiện trên máy siêu
âm tim hiệu Medison, được thực hiện bởi bác
sĩ chuyên khoa tim mạch có chứng chỉ siêu
âm tim Siêu âm tim được tiến hành ngay
trước khi tiến hành điều trị
Bệnh nhân có tình trạng rối loạn thất phải
cấp khi có ít nhất 1 trong 4 tiêu chuẩn sau
(loại trừ trường hợp phì đại thành tự do thất
phải vì đó không còn là dấu hiệu của quá tải thất phải cấp) [1]:
1 Giãn thất phải: Đường kính thất phải cuối tâm trương > 30 mm hoặc tỉ số đường kính thất phải/ đường kính thất trái cuối tâm trương > 1
2 Vách liên thất di động nghịch thường
3 Tăng áp phổi: Thời gian gia tốc trên dop-pler mạch phổi (acceleration time) < 90 ms hoặc áp lực động mạch phổi đo qua chênh áp van ba lá > 30 mmHg
4 Huyết khối tự do trong buồng tim phải (tâm nhĩ hoặc tâm thất phải)
Để đánh giá các đặc điểm thu thập được trên siêu âm tim, chúng tôi so sánh các chỉ số
đó với dấu hiệu tăng các dấu ấn sinh học của tim và độ nặng của tắc động mạch phổi trên phim cắt lớp vi tính (cả hai thăm dò được làm gần như cùng thời điểm trước điều trị):
- Tăng dấu ấn sinh học của tim: NT-proBNP ≥ 600 pg/ml; Troponin T > 0,01 ng/ml
- Điểm độ nặng trên phim chụp cắt lớp động mạch phổi được tính dựa theo công thức được mô tả bởi Qanadli và cộng sự [9]: Điểm độ nặng (%) = { ∑(n.d)/40 } x 100 Trong đó n: số nhánh phân thùy phổi bị tắc
do huyết khối (thấp nhất: 1; nhiều nhất: 20), d:
độ tắc nghẽn (không tắc: 0; tắc bán phần:1; tắc hoàn toàn: 2)
3 Xử lí số liệu
Số liệu được xử lí bằng phần mềm thống
kê SPSS 16.0 Mô tả dưới dạng tỷ lệ phần trăm với các biến định tính, dạng trung bình, trung vị với các biến định lượng Để tìm giá trị các dấu hiệu thu thập được trên siêu âm tim ở bệnh nhân tắc động mạch phổi cấp, chúng tôi
sử dụng test χ2nếu giá trị mong đợi trong các
ô ≥ 5; fisher’s exact test nếu giá trị mong đợi trong các ô < 5 Kiểm định sự tương quan
Trang 4giữa 2 biến liên tục bằng kiểm định spearman.
Tương quan yếu khi hệ số tương quan r < 0,3;
tương quan trung bình khi r từ 0,3 đến 0,5;
tương quan chặt chẽ khi r > 0,7 Sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05
4 Đạo đức nghiên cứu
Siêu âm tim là một thăm dò không xâm
lấn, có độ an toàn cao, ít ảnh hưởng đến bệnh
nhân Bệnh nhân được khám và điều trị cấp
cứu đúng theo phác đồ của khoa phòng Bệnh
nhân được đưa đến phòng siêu âm tim khi
đảm bảo ổn định về huyết động, có hỗ trợ oxy
trong quá trình vận chuyển Khi bệnh nhân
huyết động không ổn định sẽ được bác sĩ siêu
âm tim tại giường Các kết quả thu thập được
hoàn toàn phục vụ mục đích nghiên cứu và
điều trị cho bệnh nhân, mọi thông tin được giữ
bí mật tuyệt đối
III KẾT QUẢ
Từ tháng 12 năm 2006 đến tháng 8 năm
2015 chúng tôi thu thập được 85 bệnh nhân
có chẩn đoán tắc động mạch phổi cấp được làm siêu âm tim Tuổi trung bình của các bệnh nhân trong nghiên cứu là 55,7 ± 18,7 (năm), thấp nhất 20 tuổi, cao nhất 95 tuổi Có 39/85 bệnh nhân nam (chiếm 45,9%) và 46/85 bệnh nhân nữ (chiếm tỷ lệ 54,1%) Thời gian nằm viện trung bình là 12 ± 6,5 ngày
1 Đặc điểm chức năng thất phải trên siêu âm tim
Đặc điểm chức năng thất phải được đánh giá trên lần siêu âm đầu tiên, trước khi can thiệp điều trị được thể hiện qua bảng sau
Bảng 1 Đặc điểm chức năng thất phải trên siêu âm tim
Đường kính thất phải (mm) 25,9 ± 7,2 (thấp nhất: 16 – cao nhất: 51)
Áp lực động mạch phổi trung bình (mmHg) 50,3 ± 17 (thấp nhất: 25 – cao nhất: 104) Rối loạn chức năng thất phải 76/ 85 bệnh nhân ( 89,4 %)
Trong đó:
Huyết khối buồng tim phải 01/ 85 bệnh nhân ( 1,2 %)
Giãn thất phải 36/ 85 bệnh nhân (42,4 %)
Tăng áp động mạch phổi 74/ 85 bệnh nhân ( 85,9 %)
Có 02/85 bệnh nhân (chiếm 2,4 %) có giãn thành tự do của thất phải Có 40/85 bệnh nhân (chiếm 47,1 %) thấy tăng áp động mạch phổi nhưng chưa có giãn thất phải trên siêu tim
Bảng 2 Tương quan giữa tăng enzym tim và rối loạn chức năng thất phải trên siêu âm tim
Tăng NT - proBNP
hoặc TroponinT
Rối loạn chức năng thất phải trên siêu âm tim
Tổng
Không 4 (44,4%) 39 (51,3%) 43 (50,6%)
Có 5 (55,6%) 37 (48,7%) 42 (49,4%) Tổng 9 (100%) 76 (100%) 85 (100%)
Trang 5Không có sự liên quan giữa tình trạng tăng enzym tim và rối loạn chức năng thất phải (p = 0,48)
Bảng 3 Tương quan giữa tăng enzym tim và giãn thất phải trên siêu âm tim
Tăng NT - proBNP
hoặc TroponinT
Giãn thất phải trên siêu âm tim
Tổng
Không 33 (67,4 %) 10 (27,8 %) 43 (50,6 %)
Có 16 (32,6 %) 29 (72,2 %) 42 (49,4 %) Tổng 49 (100%) 36 (100%) 85 (100 %)
Có sự liên quan giữa tình trạng giãn thất phải trên siêu âm tim và tăng enzym tim, p < 0,001
Sự tương quan các chỉ số trên siêu âm tim với mức độ tắc nghẽn trên phim chụp cắt lớp vi tính
Hình 3.1 Tương quan giữa áp lực động mạch phổi và chỉ số độ nặng trên phim chụp cắt
lớp vi tính
Có sự tương quan trung bình giữa áp lực động mạch phổi và điểm độ nặng trên phim chụp cắt lớp vi tính (r = 0,46, p < 0,05) Trong khi đó, không có sự tương quan giữa đường kính thất phải
và điểm độ nặng trên phim chụp cắt lớp vi tính ( r = 0,26, p > 0,05)
Áp lực động mạch phổi trước điều trị
Trang 62 Vai trò của siêu âm tim trong tiên lượng tử vong sớm ở bệnh nhân tắc động mạch phổi cấp
Bảng 4 Tương quan giữa tình trạng rối loạn chức năng thất phải và tử vong 1 tháng
Tử vong 1 tháng Rối loạn chức năng thất phải Tổng (%)
Không 9 (100) 70 (92,1%) 79 (92,9%)
Có 6/85 (7,1%) bệnh nhân tử vong sau 1 tháng chẩn đoán và điều trị tắc động mạch phổi, tất
cả bệnh nhân tử vong đều nằm trong nhóm bệnh nhân có rối loạn chức năng thất phải (6/76, 7,9%), sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê, p > 0,05
Hình 2 Hình ảnh huyết khối buồng tim ở bệnh nhân tắc động mạch phổi cấp
Trong nghiên cứu của chúng tôi, không có sự khác biệt về tỉ lệ tử vong trong vòng 1 tháng giữa nhóm bệnh nhân có rối loạn chức năng thất phải với nhóm không có rối loạn chức năng thất phải (p > 0,05), có thể là do cỡ mẫu còn nhỏ Tuy vậy, có thể thấy tất cả 6 bệnh nhân tử vong trong vòng 1 tháng đều nằm trong nhóm bệnh nhân có rối loạn chức năng thất phải Hội tim mạch châu Âu cũng đưa ra bảng phân loại nguy cơ tử vong sớm ở bệnh nhân tắc động mạch phổi cấp dựa trên các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng [1]
Trang 7Bảng 4 Phân loại nguy cơ tử vong sớm ở bệnh nhân tắc động mạch phổi cấp [1]
Nguy cơ
tử vong sớm
Bảng điểm và các thông số nguy cơ Sốc/tụt
huyết áp
PESI mức III –
IV hoặc PESI cải tiến ≥ 1 (*)
Dấu hiệu của rối loạn chức năng thất phải
Tăng các dấu ấn sinh học của tim (NT – proBNP và Troponin)
Trung
binh
TB thấp - + Có 1 dấu hiệu hoặc không có dấu hiệu nào
dương tính
Thấp - - Cả 2 dấu hiệu âm tính
(*) PESI = Pulmonary embolism severity index: Mô hình tiên lượng tắc động mạch phổi cấp TB: Trung bình.
IV BÀN LUẬN
Siêu âm tim là một phương tiện thăm dò
chẩn đoán có giá trị nhưng không xâm lấn, ít
ảnh hưởng đến bệnh nhân, có thể thực hiện
ngay tại giường trong trường hợp bệnh nhân
không ổn định Một số hình ảnh trên siêu âm
tim ở bệnh nhân tắc động mạch phổi có thể
rất dễ nhận biết như giãn thất phải hoặc huyết
khối trong buồng tim phải kể cả các bác sĩ
không chuyên về siêu âm tim Điều này có thể
giúp bác sĩ lâm sàng mạnh dạn tiến hành siêu
âm tim tại giường và qua đó định hướng chẩn
đoán và có thái độ xử trí thích hợp khi bệnh
nhân có dấu hiệu tụt áp
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 75/85
bệnh nhân (89,4%) có rối loạn chức năng
thất phải Tỉ lệ này là cao hơn so với phân
tích MAPPET của Kasper W và cộng sự (tỉ lệ
bệnh nhân tắc động mạch phổi có rối loạn
chức năng thất phải là 74,03%); sự khác biệt
này có ý nghĩa thống kê [10] Điều này có thể
do chẩn đoán tắc động mạch phổi còn bị bỏ
sót nhiều ở Việt Nam nên bệnh nhân phát hiện được thường có triệu chứng rõ ràng Dấu hiệu hay gặp nhất trên siêu âm tim là tăng áp động mạch phổi (85,9%), dấu hiệu giãn thất phải gặp ở 42,4 % bệnh nhân Điều này phù hợp với cơ chế bệnh sinh của tắc động mạch phổi Khi có tắc động mạch phổi ngoài yếu tố bít tắc cơ học, còn yếu tố thần kinh thể dịch và cơ quan cảm thụ áp lực ở động mạch phổi gây ra tăng kháng lực mạch máu phổi Có 47,1 % số bệnh nhân thấy tăng
áp động mạch phổi nhưng chưa có giãn thất phải trên siêu tim Có thể là do tăng áp phổi là dấu hiệu sớm hơn, khi tim vẫn còn khả năng
bù trừ, khởi đầu vòng xoắn bệnh lí của tắc động mạch phổi
Nếu xét sự tương quan giữa 2 yếu tố tăng
áp động mạch phổi và giãn thất phải với sự tăng men tim (NT - proBNP và Troponin T) thì
có mối liên quan giữa giãn thất phải và tăng enzym tim, trong khi tăng áp phổi và tăng en-zym tim lại không có sự liên quan (p > 0,05)
Trang 8Điều này có thể lí giải rằng tăng áp phổi là dấu
hiệu đầu tiên, đến sớm khi chưa có tổn
thương cơ tim
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 01/85
bệnh nhân (1,18 %) phát hiện được huyết
khối buồng tim phải Kết quả nghiên cứu cũng
không có sự khác biệt với nghiên cứu của
Mansencal N và cộng sự thực hiện năm 2011
(tỉ lệ huyết khối buồng tim ở bệnh nhân tắc
động mạch phổi cấp là 3,5 % với n = 340)
[11] Hội tim mạch châu Âu cũng chỉ ra tỉ lệ
huyết khối buồng tim phải phát hiện qua siêu
âm tim xuyên thành ngực hoặc qua siêu âm
tim qua thực quản hoặc qua cắt lớp vi tính là
tương đương và nhỏ hơn 4% Khi có huyết
khối buồng tim phải thì cũng cơ bản xác định
chẩn đoán tắc động mạch phổi và sự hiện
diện của nó có liên quan đến rối loạn chức
năng thất phải và tỷ lệ tử vong cao [1]
V KẾT LUẬN
Nghiên cứu cho thấy có sự tương quan
giữa áp lực động mạch phổi đo bằng siêu âm
tim và độ nặng trên phim chụp cắt lớp vi tính
động mạch phổi; giữa giãn thất phải đo bằng
siêu âm tim và tổn thương cơ tim thông qua
tình trạng tăng troponin T và/hoặc NT
-proBNP ở bệnh nhân tắc động mạch phổi cấp
Nguy cơ tử vong trong vòng 1 tháng có xu
hướng cao hơn ở bệnh nhân tắc động mạch
phổi có rối loạn chức năng thất phải
Lời cám ơn
Chúng tôi gửi lời cảm ơn chân thành đến
các bệnh nhân và thân nhân của họ đã đồng ý
tham gia nghiên cứu của họ đã giúp chúng tôi
tiến hành nghiên cứu này Chúng tôi xin chân
thành cảm ơn các cán bộ nhân viên Khoa Cấp
cứu và Hồi sức tích cực, Khoa Tim mạch và
Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Đại học
Y Hà Nội, Khoa cấp cứu, Khoa hồi sức tích
cực, Viện Tim mạch Quốc gia, Bệnh viện Bạch Mai đã tạo điều kiện để chúng tôi hoàn thành nghiên cứu này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Konstantinides S.V., Torbicki A., Ag-nelli G et al (2014) 2014 ESC Guideline on
diagnosis and management of acute
pulmo-nary embolism European Heart Journal, 35,
3033 – 3080
2 Tapson V.F (2008) Acute Pulmonary
Embolism N Engl J Med, 358, 1037 – 1092.
3 Lualdi J.C., Goldhaber S.Z (1995).
Right ventricular dysfuncition after acute pul-monary embolism: Pathophysiologic factor,
detection, and therapeutic implications
Ameri-can Heart Journal, 130(6), 1276 – 1282.
4 McConnell M.V., Solomon S.D., Rayan M.E et al (1996) Regional Right Ventricular
Dysfunction Detected by Echocardiography in
Acute Pulmonary Embolism The American
Journal of Cardiology, 78(4), 469 - 473.
5 Riberio A., Lindmarker P., Juhlin-Dannfelt A et al (1997) Echocardiography
Doppler in pulmonary embolism: Right ventricular dysfunction as a predictor of
mor-tality rate American Heart Journal, 134 (3),
479 - 487
6 Goldhaber S.Z (2002)
Echocardiogra-phy in the Management of Pulmonary
Embo-lism Ann Intern Med, 136, 691 - 700.
7 Hoàng Bùi Hải (2013) Nghiên cứu
chẩn đoán và điều trị tắc động mạch phổi cấp
Luận án tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 74 - 75.
8 Lê Thượng Vũ, Đặng Vạn Phước (2006) Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
22 trường hợp thuyên tắc phổi chẩn đoán tại
Chợ Rẫy Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí
Minh, 10(1), 32.
Trang 99 Qanadli S.D., El Hajjam M.,
Vierllard-Baron A et al (2001) New CT index to
quantify arterial obstruction in pulmonary
embolism: comparison with angiographic
in-dex and echocardiography Am J Roentgenol,
176, 1415 - 1420.
10 Kasper W., Konstantinides S.K.,
Geibel A et al (1997) Management Strategies
and Determinants of Ocutcome in Acute Major Pulmonary Embolism: Result of a Multicenter
Registry J Am Coll Cardiol, 30, 1165 – 1171.
11 Mansencal N., Atilas D., Caille V et al (2011) Computed tomography for the
detec-tion of free – floating thrombi in the right heart
in acuter pulmonary embolism Eur Radiol, 21
(2), 240 – 245.
Summary CHARACTERISTIC OF ECHOCARDIOGRAPHY IN THE PROGNOSIS
OF ACUTE PULMONARY EMBOLISM
The study was conducted to find out the value of the characteristics of echocardiography and prognostic early mortality risk in patients with pulmonary embolism This study was based on a case series study from December 2006 to August 2015 Eighty five patients in emergency setting with acute pulmonary embolism (APE) were enrolled in this study The result showed that the mean age of patients was 55.7 ± 18.7 The rate of patients with right ventricular dysfunction was 76/85 patients (89.4%) Specifically, 74/85 (85.9%) patients with pulmonary arterial hypertension, 36/85 (42.4%) patients with right ventricular dilation, 1/85 (1.18%) patients with free-floating right atrial thrombus There was mild correlation between pulmonary artery pressure and severe index score on computer tomography, there was the association between right ventricular dilation with the elevation of cardiac laboratory biomarkers The 30-days mortality was trending higher in APE with right ventricular dysfunction
Keywords: echocardiography, pulmonary embolism, right ventricular dysfunction