1 Chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu phá sản doanh nghiệp: a Chủ nợ - Khoản 1 Điều 5 Luật phá sản 2014 quy định: “Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu c
Trang 1PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN CỦA DOANH NGHIỆP
(Luật phá sản 2014)
I Khái quát về pháp luật phá sản
1.1 Khái niệm
1.1.1 Khái niệm phá sản:
- Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra
quyết định tuyên bố phá sản
- Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán
khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán
1.1.2 Khái niệm pháp luật phá sản:
- Pháp luật phá sản là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh
những quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp Pháp luật phá sản là một bộ phận cấu thành nhóm các chế định pháp luật về giải quyết hậu quả của khung pháp lý kinh tế trong nền kinh tế thị trường
- Trong hoạt động kinh tế, thương mại pháp luật về phá sản là một chế định đặc thù, tính đặc thù được biểu hiện ở chỗ trong chế định này vừa chứa đựng các quy phạm pháp luật nội dung vừa chứa đựng các quy phạm pháp luật hình thức
- Pháp luật về phá sản cũng là một chế định không thể thiếu được trong kinh tế thị trường bởi trong nền kinh tế đó (tức kinh tế thị trường) luôn luôn có sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh, do vậy mà có những chủ thể không đứng vững được trong cuộc cạnh tranh khốc liệt đó nên bị phá sản Do đó, phải có Luật phá sản để giải quyết việc phá sản đó Trong pháp luật về phá sản thì Luật phá sản là văn bản pháp luật quan trọng nhất Nó quy định những vấn đề cơ bản trong việc giải quyết phá sản như: lý do phá sản, trình tự thủ tục phá sản, quyền hạn và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân; thủ tục phục hồi, thanh lý tài sản và việc phân chia tài sản của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản
1.2 Phân loại phá sản
1.2.1 Dựa trên cơ sở nguyên nhân gây ra phá sản:
Trang 2- Phá sản trung thực là hậu quả của việc mất khả năng thanh toán do những nguyên nhân
khách quan hay những rủi ro bất khả kháng gây ra Phá sản trung thực cũng có thể từ những nguyên nhân chủ quan nhưng không phải do sự chủ ý nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác
Ví dụ như sự yếu kém về năng lực tổ chức, quản lý hoạt động; sự thiếu khả năng thích ứng với những biến động trên thương trường
- Phá sản gian trá là hậu quả của những thủ đoạn gian trá, có sắp đặt trước nhằm chiếm đoạt
tài sản của người khác
Ví dụ: có hành vi gian lận trong khi ký hợp đồng, tẩu tán tài sản, cố tình báo cáo sai để qua
đó tạo ra lý do phá sản không đúng sự thật
1.2.2 Dựa trên cơ sở phát sinh quan hệ pháp lý: (Cụ thể là dựa trên căn cứ ai là người làm
đơn yêu cầu phá sản)
- Phá sản tự nguyện là do phía doanh nghiệp mắc nợ tự làm đơn yêu cầu phá sản khi thấy mình
mất khả năng thanh toán, không có điều kiện thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với chủ nợ
- Phá sản bắt buộc là do phía các chủ nợ làm đơn yêu cầu phá sản doanh nghiệp mắc nợ nhằm
thu hồi các khoản nợ từ doanh nghiệp mắc nợ
1.2.3 Dựa vào đối tượng bị giải quyết phá sản:
- Phụ thuộc vào hoàn cảnh thực tế của từng quốc gia mà luật phá sản ở nước đó xác định phạm
vi điều chỉnh riêng biệt Ở một số nước như Trung Quốc thì chỉ áp dụng với thành phần kinh tế quốc doanh; trong khi đó Úc chỉ điều chỉnh hoạt động phá sản cá nhân, còn phá sản của các doanh nghiệp tuân theo qui định về phá sản trong Luật công ty
- Đối với Việt nam, Luật phá sản của nước ta chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật
Còn chủ thể kinh doanh với tư cách cá nhân khi kinh doanh thua lỗ, cá nhân, nhóm người hoặc
hộ gia đình chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của mình đến khi hết nợ
Hộ kinh doanh chấm dứt hoạt động thông qua việc nộp lại giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cho cơ quan đăng ký đã cấp
1.3 Phân biệt phá sản với giải thể
Phá sản và giải thể đều dẫn đến sự chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp Tuy nhiên, xét về bản chất phá sản và giải thể lại rất khác nhau ở các điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, về lý do dẫn đến phá sản và giải thể: Lý do dẫn đến giải thể rộng hơn so với phá sản Một doanh nghiệp có thể bị giải thể là do kết thúc thời hạn hoạt động mà
Trang 3không được gia hạn, đối với công ty không có đủ số lượng thành viên tối thiểu trong thời hạn sáu tháng liên tục, do bị thu hồi giấy phép kinh doanh hay do quyết định của chủ sở hữu doanh nghiệp Trong khi đó, nguyên nhân dẫn đến phá sản là do doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán
Thứ hai, thủ tục giải quyết một vụ phá sản là thủ tục tư pháp, do Toà án có thẩm quyền giải quyết; trong khi đó thủ tục giải thể doanh nghiệp là thủ tục hành chính do chủ sở hữu doanh nghiệp tiến hành Thông thường, thời gian giải quyết một vụ phá sản thường kéo dài và tốn kém hơn so với việc giải thể doanh nghiệp
Thứ ba, giải thể bao giờ cũng dẫn đến sự chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp (bị xóa tên khỏi Sổ đăng ký kinh doanh); trong khi đó doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản vẫn có thể tiếp tục hoạt động nếu như một người nào đó mua lại toàn bộ doanh nghiệp
Thứ tư, thái độ của nhà nước đối với người quản lý, điều hành doanh nghiệp trong các
vụ phá sản và giải thể là khác nhau Người quản lý, điều hành doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản thường bị cấm làm công việc tương tự trong một thời gian nhất định trong khi những người này không bị cấm như vậy trong trường hợp giải thể
1.4 Vai trò của pháp luật phá sản
– Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ: Theo các quy định của Luật phá sản thì khi doanh nghiệp mắc nợ không trả được nợ cho các chủ nợ, thì chủ nợ có quyền yêu cầu Toà
án tuyên bố phá sản doanh nghiệp để bán toàn bộ tài sản còn lại của doanh nghiệp để trả nợ cho các chủ nợ Hơn nữa Luật phá sản còn đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ nợ trong việc đòi nợ, theo đó tất cả các chủ nợ không bảo đảm đều phải đợi đến khi Toà án tuyên bố phá sản doanh nghiệp thì mới cùng nhau được chia số tài sản còn lại của doanh nghiệp phá sản theo tỷ lệ
– Bảo vệ lợi ích của chính doanh nghiệp mắc nợ: Luật phá sản không những bảo vệ quyền lợi cho các chủ nợ mà còn bảo vệ quyền lợi cho cả doanh nghiệp mắc nợ Nhờ có pháp luật về phá sản với quan điểm kinh doanh là mang lại lợi ích cho xã hội; đồng thời kinh doanh là công việc rất khó khăn đầy rủi ro; do đó pháp luật phải đối xử nhân đạo với người kinh doanh bị phá sản, không được truy cứu pháp luật nếu họ không phạm tội; ngăn cấm các chủ nợ có hành vi xúc phạm đến thể xác hay tinh thần của họ, tạo điều kiện cho con nợ khắc phục khó khăn để khôi phục sản xuất kinh doanh, chỉ khi nào không thể cứu vãn nổi mới tuyên bố phá sản
– Bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động: Sự bảo vệ của Luật phá sản đối với người lao động thể hiện ở chỗ pháp luật cho phép người lao động được quyền làm đơn yêu cầu hoặc phản đối Toà án tuyên bố phá sản doanh nghiệp mà mình đang làm; được cử đại diện của mình tham gia tổ quản lý tài sản và tổ thanh toán tài sản, được tham gia Hội nghị chủ nợ, được ưu tiên thanh toán trước từ tài sản còn lại của doanh nghiệp bị phá sản
Trang 4– Bảo đảm trật tự kỷ cương trong xã hội: Khi doanh nghiệp bị phá sản thì chủ nợ nào cũng muốn thu được càng nhiều càng tốt tài sản còn lại của doanh nghiệp mắc nợ Khi đó nếu không
có luật thì sẽ xảy ra tình trạng lộn xộn mất trật tự, gây ra mâu thuẫn giữa các chủ nợ với nhau, giữa chủ nợ và con nợ Bằng việc giải quyết công bằng, thoả đáng các mối quan hệ này, pháp luật về phá sản doanh nghiệp góp phần giải quyết mâu thuẫn, hạn chế những căng thẳng có thể xảy ra, nhờ đó đảm bảo trật tự kỷ cương của xã hội
– Góp phần cơ cấu lại nền kinh tế, tái tạo tổ chức lại doanh nghiệp: Phá sản bao giờ cũng gây
ra những hậu quả kinh tế xã hội nhất định, trong đó có cả những hậu quả tích cực như một giải pháp hữu hiệu để cơ cấu lại nền kinh tế vì nó là sự đào thải tự nhiên đối với các doanh nghiệp làm ăn yếu kém, góp phần duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả Luật phá sản
là cơ sở pháp lý để xoá bỏ doanh nghiệp làm ăn thua lỗ tạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho các nhà đầu tư mạnh dạn bỏ vốn đầu tư
II Thủ tục phá sản
2.1 Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
2.1.1 Chủ thể nộp đơn yêu cầu:
Chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản chia làm hai nhóm chính: chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu phá sản và chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu phá sản
1) Chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu phá sản doanh nghiệp:
a) Chủ nợ
- Khoản 1 Điều 5 Luật phá sản 2014 quy định: “Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm
một phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán”
- Theo đó, chủ thể là chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ở đây là chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần Luật phá sản năm 2014 vẫn giữ nguyên thành phần chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Quy định này tạo điều kiện cho các chủ nợ không có bảo đảm và các chủ nợ có bảo đảm một phần có cơ hội lựa chọn thủ tục thích hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
- Thời điếm phát sinh quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần là hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán (tức là thời điểm doanh nghiệp mất khả năng thanh toán)
Trang 5b) Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cơ sở cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở
- Khoản 2 Điều 5 Luật phá sản 2014 quy định: “Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở có quyền nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán”
- Chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cơ sở cấp trên trực tiếp Ta thấy, Luật phá sản 2014 có quy định thêm hai đối tượng
có quyền nộp đơn trong nhóm này là công đoàn cơ sở và công đoàn cơ sở cấp trên trực tiếp (đối với những nơi không có công đoàn cấp cơ sở) Đây là điểm mới đã ngăn ngừa bất cập trong Luật phá sản 2014 là người lao động cử người đại diện nộp đơn Bên cạnh đó, dựa vào chức năng, nhiệm vụ công đoàn cơ sở ta thấy thêm chủ thể nà vào là rất hợp lý, bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động
- Thời điểm phát sinh quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của những chủ thể này là thời điểm hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán Đối với chủ thể này, thời điểm phát sinh quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của họ có thêm một thời điểm riêng nữa đó là hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thự hiện nghãi vụ trả lương mà doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ Do đặc điểm riêng biệt của chủ thể này là người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở, họ làm công cho doanh nghiệp và doanh nghiệp nợ họ là nợ công lao động (không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền lương)
c) Cổ đông hoặc nhóm cổ đông
- Khoản 5 Điều 5 Luật phá sản năm 2014 quy định: “Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán Cổ đông hoặc nhóm
cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phàn mất khả năng thanh toán trong trường hợp Điều lệ công ty quy định”
- Theo đó, chủ thể là cổ đông hoặc nhóm cổ đông có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có hai loại:
Loại một, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng
Loại hai, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng và được quy định trong Điều lệ công ty
Trang 6- Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của chủ thể này là thời điểm công ty cổ phần mất khả năng thanh toán, tức là công ty cổ phần không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán
2) Chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp:
a) Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
- Khoản 3 Điều 5 Luật phá sản 2014 quy định: “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.”
b) Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của CTCP, Chủ tịch Hội đồng hành viên của CT TNHH 2 thành viên trở lên, Chủ sở hữu CT TNHH 1 thành viên, Thành viên hợp danh của công ty hợp danh.
- Khoản 4 Điều 5 Luật phá sản 2014 quy định: “Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.”
- Thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, không trả được các khoản nợ đến hạn
2.1.2 Nội dung đơn yêu cầu và phương thức nộp đơn:
- Đối với các chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp khác nhau sẽ có nội dung đơn và hồ sơ, các tài liệu chứng cứ đi kèm khác nhau, được quy định
cụ thể từ điều 26 đến điều 29, Luật phá sản 2014
- Phương thức nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:
Nộp trực tiếp tại Tòa án nhân dân;
Gửi đến Tòa án nhân dân qua bưu điện
- Ngày nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được tính từ ngày Tòa án nhân dân nhận đơn hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi
2.2 Thụ ý đơn yêu cầu
Trang 72.2.1 Tòa án có thẩm quyền thụ lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản: (Theo Điều 8, Luật phá sản 2014)
1) Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Toà án nhân
dân cấp tỉnh) có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp tại tỉnh đó và thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Vụ việc phá sản có tài sản ở nước ngoài hoặc người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài;
b) Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán có chi nhánh, văn phòng đại diện ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau;
c) Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán có bất động sản ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau;
d) Vụ việc phá sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp huyện) mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để giải quyết do tính chất phức tạp của vụ việc
2) Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp có trụ
sở chính tại huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đó và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật phá sản 2014
2.2.2 Quá trình thụ lý đơn yêu cầu:
1) Phân công Thẩm phán giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Chánh án Tòa án nhân dân phân công một Thẩm phán hoặc Tổ Thẩm phán gồm 03 Thẩm phán giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
2) Xử lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn yêu cầu và xử lý như sau:
a) Trường hợp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ: Thẩm phán thông báo cho người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản về việc nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản (Theo quy định tại Điều 38, Luật phá sản 2014) trừ trường hợp không phải nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản;
b) Trường hợp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản không đủ các nội dung quy định tại Điều 26, Điều 27, Điều 28 hoặc Điều 29 của Luật này thì Thẩm phán thông báo cho người nộp đơn sửa đổi, bổ sung đơn (Theo quy định tại Điều 34, Luật phá sản 2014);
c) Chuyển đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho Tòa án nhân dân có thẩm quyền nếu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khác (Theo quy định tại Điều
33, Luật phá sản 2014);
Trang 8d) Trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (Theo quy định tại Điều 35, Luật phá sản 2014)
3) Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:
Tòa án nhân dân thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi nhận được biên lai nộp lệ phí phá sản, biên lai nộp tạm ứng chi phí phá sản Trường hợp không phải nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản thì thời điểm thụ lý được tính từ ngày Tòa án nhân dân nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ
4) Thông báo việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý đơn, Tòa án nhân dân phải thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, các cơ quan, tổ chức đang giải quyết vụ việc liên quan đến doanh nghiệp mất khả năng thanh toán do các bên cung cấp và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp về việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Trường hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán thì Tòa án nhân dân phải thông báo cho các chủ nợ do doanh nghiệp cung cấp
Trường hợp người nộp đơn không phải là doanh nghiệp mất khả năng thanh toán thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án nhân dân, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán phải xuất trình cho Tòa án nhân dân các giấy tờ, tài liệu theo quy định tại khoản 3 Điều 28 của Luật này
2.3 Mở thủ tục phá sản
2.3.1 Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản: (Điều 42, Luật phá sản 2014)
- Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Thẩm phán phải ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản, trừ trường hợp quy định tại Điều 105 của Luật phá sản
- Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
- Trường hợp cần thiết, trước khi ra quyết định mở thủ tục phá sản, Thẩm phán có thể triệu tập phiên họp với sự tham gia của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp bị yêu cầu mở thủ tục phá sản, cá nhân, tổ chức có liên quan để xem xét, kiểm tra các căn cứ chứng minh doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
Quyết định mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chủ yếu sau:
Ngày, tháng, năm;
Tên của Tòa án nhân dân; họ và tên Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản;
Ngày và số thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; tên, địa chỉ của người làm đơn yêu cầu;
Trang 9 Tên, địa chỉ của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán;
Thời gian, địa điểm khai báo của các chủ nợ và hậu quả pháp lý của việc không khai báo
- Tòa án nhân dân ra quyết định không mở thủ tục phá sản nếu xét thấy doanh nghiệp không thuộc trường hợp mất khả năng thanh toán
- Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản có hiệu lực thi hành kể từ ngày ra quyết định
2.3.2 Thông báo quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản: (Điều 43, Luật phá sản)
- Quyết định mở thủ tục phá sản của Tòa án nhân dân phải được gửi cho người nộp đơn, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, chủ nợ, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp có trụ sở chính và đăng trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân và 02 số báo địa phương liên tiếp nơi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán có trụ sở chính
- Quyết định không mở thủ tục phá sản của Tòa án nhân dân phải được gửi cho người nộp đơn, doanh nghiệp bị yêu cầu mở thủ tục phá sản và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp
- Thời hạn gửi và thông báo quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản là 03 ngày làm việc
kể từ ngày Tòa án nhân dân ra quyết định
2.3.3 Các công việc phải làm sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản:
1) Chỉ định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản (Điều 45)
2) Kiểm kê tài sản (Điều 65)
3) Gửi giấy đòi nợ (Điều 66)
4) Lập sanh sách chủ nợ (Điều 67)
5) Lập danh sách người mắc nợ (Điều 68)
2.4 Hội nghị chủ nợ
2.4.1 Triệu tập Hội nghị chủ nợ: (Điều 75, Luật phá sản 2014)
- Trong vòng 20 ngày kể từ ngày lập danh sách chủ nợ hoặc kiểm kê tài sản kết thúc thì Thẩm phán sẽ triệu tập Hội nghị chủ nợ, trừ trường hợp không phải tổ chức Hội nghị chủ nợ quy định tại Điều 105 của Luật Phá sản 2014
Trang 10- Chậm nhất là 15 ngày trước khi khai mạc Hội nghị chủ nợ thì Thông báo triệu tập Hội nghị chủ nợ và các tài liệu khác có liên quan phải được gửi cho người có quyền và người có nghĩa
vụ tham gia Hội nghị Trong giấy triệu tập phải ghi rõ: thời gian và địa điểm tổ chức, chương trình, nội dung của Hội nghị chủ nợ
2.4.2 Thành phần tham gia: (Điều 77, 78, Luật phá sản 2014)
- Chủ thể có quyền, bao gồm:
Chủ nợ có tên trong danh sách chủ nợ (Chủ nợ có thể ủy quyền bằng văn bản cho người khác tham gia Hội nghị chủ nợ);
Đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn được người lao động ủy quyền;
Người bảo lãnh sau khi đã trả nợ thay cho doanh nghiệp mất khả năng thanh toán; trường hợp này người bảo lãnh trở thành chủ nợ không có bảo đảm
- Chủ thể có nghĩa vụ bao gồm:
Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;
Chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán (nếu không tham gia được thì có thể ủy quyền cho người khác)
2.4.3 Điều kiện hợp lệ của Hội nghị chủ nợ: (Điều 79, Luật phá sản 2014)
- Có số chủ nợ tham gia đại diện cho ít nhất 51% tổng số nợ không có bảo đảm
Chủ nợ không tham gia Hội nghị chủ nợ nhưng có ý kiến bằng văn bản gửi cho Thẩm phán trước ngày tổ chức Hội nghị chủ nợ, trong đó ghi rõ ý kiến về những nội dung quy định tại khoản 1 Điều 83 của Luật này thì được coi như chủ nợ tham gia Hội nghị chủ nợ
- Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản được phân công giải quyết đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản phải tham gia Hội nghị chủ nợ
2.4.4 Nội dung và trình tự Hội nghị chủ nợ: (Khoản 1, Điều 81)
Hội nghị chủ nợ được tiến hành như sau:
1) Thẩm phán được phân công phụ trách khai mạc Hội nghị chủ nợ;
2) Hội nghị chủ nợ biểu quyết thông qua việc cử Thư ký Hội nghị chủ nợ theo đề xuất của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản để ghi biên bản Hội nghị chủ nợ;